Kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC ANH

KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM
VỀ MA TÚY TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60. 38. 01. 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Văn Điệp

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
Tôi. Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết
quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.
Thái Nguyên, Ngày 25 tháng 8 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Ngọc Anh


MỤC LỤC

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

ĐTV

Điều tra viên

HĐXX

Hội đồng xét xử

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

KSV

Kiểm sát viên

KSĐT


58

trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên(từ ngày 01/12/2011 đến
ngày 31/11/2016)
Bảng 3.3 Thống kê số vụ án về ma túy Viện kiểm sát hủy quyết

60

định khởi tố và Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra
khởi tố (từ ngày 01/12/2011 đến ngày 31/11/2016)
Bảng 3.4 Thống kê số vụ án, bị can phạm tội về ma túy phải đình
chỉ giải quyết(từ ngày 01/12/2011 đến ngày 31/11/2016)

61


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân
chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua ngành Kiểm sát nhân dân đã góp phần
bước đầu tạo nên diện mạo mới cho nền tư pháp quốc gia. Hoạt động thực hành quyền công
tốvà Kiểm sát hoạt động tư pháp được đổi mới, nâng cao về chất lượng, đã hạn chế được tình
trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội cũng như làm oan người vô tội, đảm bảo cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần không nhỏ trong công tác đấu
tranh, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên vì nhiều lý do mà hoạt động kiểm sát các hoạt động
tư pháp ở các giai đoạn tố tụng, trong đó có hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai
đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót, chưa thực sự
đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; còn để xảy ra tình trạng trả hồ sơ điều tra

tra các tội phạm ma túy tại VKSND tỉnh Thái Nguyên.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Kiểm sát hoạt động trong giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự là một đề tài rộng. Đề
tài này đã được một số tác giả nghiên cứu và các công trình khoa học đó đã công bố, như:
Tác giả Nguyễn Thành Trì, Luận văn cao học luật, năm 1996 “Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong giai đoạn khởi tố điều tra án hình sự”; tác giả Vũ Thị Xuân Nhuệ, Luận văn cao
học luật, năm 1998, “Một số hoạt động kiểm sát điều tra án kinh tế tại thành phố Hồ Chí
Minh”. Công tác THQCT và kiểm sát điều tra án ma túy của TS Dương Thanh Biểu- Phó
viện trưởng VKSND Tối cao (năm 2001). Ngoài ra còn nhiều bài viết của các tác giả đăng
trên tạp chí ngành và nhiều chuyên đề nghiệp vụ như: “Tổng hợp kinh nghiệm trong công tác
THQCT, KSĐT, KSXX sơ thẩm các vụ án ma túy lớn” của Vụ 2, VKSND tối cao năm
2004;“VKSND các cấp cần tập trung làm tốt việc tăng cường trách nhiệm công tố trong
hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”của TS Trần Công Phàn, đăng trên
Tạp chí Kiểm sát, số 8/2012.
Các công trình khoa học nói trên mặc dù có đề cập đến chức năng kiểm sát khởi tố,
điều tra của VKS, nhưng lại nghiên cứu đối với vụ án kinh tế hay mới dừng lại ở hoạt động
kiểm sát khởi tố, điều tra, mà chưa đi sâu làm rõ về mặt lý luận chức năng kiểm sát hoạt
2


động tư pháp trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự đặc biệt là các tội phạm về ma túy.Hơn
nữa, các công trình khoa học đó nghiên cứu trên cơ sở các quy định của các văn bản pháp
luật trước đây, hiện nay các văn bản pháp luật đó đã được sửa đổi, bổ sung với nhiều quy
định mới. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực trong công tác phòng, chống
tội phạm ma túy và tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm sát hoạt động khởi tố, điều
tra đối với tội phạm ma túy của VKSND tỉnh Thái Nguyên
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về chức năng kiểm sát các hoạt động
tư pháp ở giai đoạn khởi tố, điều tra các tội phạm ma túy.
Khảo sát thực tiễn công tác kiểm sát HĐTP trong giai đoạn khởi tố, điều tra của VKS

động ở giai đoạn khởi tố, điều tra các tội phạm ma túy của VKSND.Trong quá trình nghiên
cứu tác giả có sự so sánh giữa các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2003 với
các quy định của BLTTHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để thấy được những điểm mới
liên quan đến hoạt động kiểm sát khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Luận văn có thể dùng làm
tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, nội
dung của luận văn gồm 03 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về giai đoạn khởi tố - điều tra và hoạt động kiểm sát khởi tố,
điều tra các tội phạm về ma túy.
Chương 2: Pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố điều tra các
tội phạm về ma túy.
Chương 3: Thực trạng, giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác kiểm sáthoạt
động khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

4


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VÀ
HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM MA TÚY
1.1. Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn khởi tố, điều tra các tội phạm về ma túy
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn tố tụng
hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó
là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm
vụ do pháp luật quy định.
BLTTHS nước ta chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành bốn giai đoạn bao gồm:
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy tố; giai đoạn xét xử
vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản án hình sự. Đối với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái
thẩm và giám đốc thẩm không phải là các giai đoạn tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết

kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận được các tin báo, tố giác về tội phạm, đối
với những tin báo phức tạp có thể được VKSND gia hạn 1 lần không quá 2 tháng. (Điều 147
BLTTHS 2015).
Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm
để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Do vậy,
ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thể kết luận chính xác
ngay được về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Để kết luận chính xác các nội
dung đó thì phải chuyển qua giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự đó là giai đoạn
điều tra vụ án hình sự.
Như vậy, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể hiểu: “Là giai đoạn đầu tiên của quá
trình tố tụng hình sự trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu
hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ
án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ
án hình sự”.
Đặc điểm: Từ khái niệm trên, có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, có thời hạn
được xác định từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện hoặc tiếp nhận các tố giác, tin

6


báo về tội phạm và thời điểm kết thúc khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Thứ hai, nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự xác định có hay
không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định
không khởi tố vụ án hình sự.
Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố, ngoài
các cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án) còn có những cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan Kiểm Lâm, Hải quan,...Những cơ quan

VKSND tối cao có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết, thời hạn gia hạn thêm không quy
định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp của vụ án mà Viện trưởng VKSND tối cao ấn định
thời gian gia hạn.
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc xét xử của Tòa án, mọi quyết
định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm đều phải dựa trên cơ sở các
chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra. Cho nên nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là
cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định
để chứng minh tội phạm và người thực hiện tội phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ
án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực
hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm. Nhiệm vụ trên được thực hiện bởi các chủ thể là
CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Tất cả các hoạt
động tố tụng được thực hiện bởi chủ thể của giai đoạn điều tra đều phải tuân theo đúng các
quy định của Luật tố tụng hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng,
khách quan và đúng pháp luật.
BLTTHS 2015 đã có nhiều sửa đổi bổ sung về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi kiểm
sát hoạt động trong giai đoạn điều tra và bổ sung thêm 5 trường hợp VKS phải tham gia đó
là: đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám xét, thực nghiệm điều tra (điều 189, 190,
191, 193, 201, 202, 204 BLTTHS 2015).
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là: Một giai đoạn của tố tụng hình
sự trong đó Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được
sử dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội
phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét
8


xử của Tòa án. Đồng thời thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện
phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan
và tổ chức hữu quan.
Đặc điểm: Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự nêu trên, có thể rút ra các

thiết lập một nền pháp chế thống nhất, trật tự kỷ cương phép nước phải nghiêm minh. Vậy,
muốn có pháp chế thống nhất không thể không thành lập cơ quan VKS.
Vận dụng tư tưởng của Lênin vào thực tiễn xây dựng, tổ chức bộ máy Nhà nước ta.
Đảng và Nhà nước đã nhận định rằng, để đảm bảo cho pháp luật do Nhà nước ban hành
được thực hiện một cách nghiêm minh và thống nhất thì việc tổ chức một cơ quan có chức
năng kiểm tra và giám sát hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và công
dân là một đòi hỏi mang tính khách quan nên đã quyết định thành lập cơ quan VKS. Quan
điểm trên đã được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến
pháp 1992 (sửa đổi).Hiến pháp năm 2013 trong đó có sự điều chỉnh chức năng của cơ quan
VKS với quy định “Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã cụ thể hóa quy định
trên với nội dung quy định rõ Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chủ yếu hai chức năng đó là
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được coi là vấn đề căn bản xuyên suốt toàn
bộ hoạt động của hệ thống cơ quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của
VKSND. Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn kiện của
Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ
chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013,Điều 4 Luật tổ chức
VKSND năm 2014.
“Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của
các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực
hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ
việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy
định của pháp luật”.

10





Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng
hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là: Kiểm sát hoạt động trong
khởi tố, điều tra vụ án hình sự là gì? Đặc điểm của chúng?
Chức năng kiểm sát khởi tố, điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm sát việc
tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến
hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động kiểm sát
khởi tố, điều tra với tính chất là một chức năng của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp
lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện
bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai
đoạn khởi tố và điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm đồng thời cũng không làm oan người vô tội.
Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của hoạt động kiểm sát
khởi tố, điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi của nó?. Theo chúng tôi, đối tượng của
kiểm sát khởi tố, điều tra các vụ án hình sự chính là các hành vi xử sự của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình khởi tố, điều
tra vụ án hình sự. Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là
Hiến pháp, Luật tổ chức VKS, BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan
để theo dõi, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật, cũng như bảo đảm tính có căn cứ và
hợp pháp của các hành vi tố tụng hình sự mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện.
Từ những nội dung nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về chức năng kiểm sát các hoạt
động trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự là chức
năng hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp mọi hoạt động tố tụng của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố - điều tra vụ án hình
sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh,
thống nhất.
Xuất phát từ khái niệm đã nêu ở trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp
luật liên quan đến hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự,

đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội
đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và giao quyền
công tố cho cơ quan VKSND, với nội dung đó có thể khẳng định quyền công tố chỉ được thực
13


hiện trong lĩnh vực hình sự, đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội.
phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu
lực pháp luật, quyền này phải phát sinh từ khi tội phạm xảy ra và nó trừng phạt người phạm tội
một cách công khai bằng con đường đưa vụ án ra Tòa án xét xử, do đó khi bản án kết tội đã có
hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị thì quyền công tố cũng kết thúc.
Từ nội dung trên có thể hiểu quyền công tố là:“Quyền nhân danh Nhà nước thực hiện
việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trên cơ sở phát hiện tội phạm, bảo
đảm thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội từ đó quyết định việc
truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ việc buộc tội đó trước Tòa án”.
Thực hành quyền công tố: Điều 107 Hiến pháp năm 2013 đã quy định như sau: “Viện
kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp”.Điều 3 Luật Tổ
chức VKDND năm 2014 quy định: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người
phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:
a) Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô
tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội;
b) Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con
người, quyền công dân trái luật”.
Nội dung thực hành quyền công tố:Nội dung THQCT là việc VKS sử dụng tất cả
những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi
phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Theo đó nội

giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, tức là quyền công tố được phát động đã làm
phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tố giác, tin báo tội
phạm, hoạt động này được VKS thực hiện thông qua hoạt động phê chuẩn, không phê chuẩn,
hủy bỏ quyết định trái pháp luật, yêu cầu kiểm tra, xác minh... xét thấy việc giải quyết tố
giác, tin báo tội phạm của CQĐT không có căn cứ, thì VKS yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
thực hiện đúng các quy định tronggiải quyết tố giác, tin báo tội phạm, đồng thời ra quyết
định hủy bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật. Do vậy, làm tốt chức năng kiểm sát việc giải
15


quyết tố giác, tin báo tội phạm sự sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định của VKS được chính xác
và đúng pháp luật nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm
oan người vô tội. Ngược lại nếu thực hiện kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm
không tốt sẽ mất đi tính hiệu quả trong việc thực hành quyền công tố, thậm chí quyết định
pháp lý của VKS là vi phạm pháp luật.
Khi VKS quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các quyết định
tố tụng khác của CQĐT, tức là VKS trực tiếp sử dụng quyền công tố. Nhưng hoạt động thực
hành quyền công tố của VKS cũng phải tuân theo quy định của pháp luật, muốn vậy trước
khi quyết định các vấn đề trên, VKS phải tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn hoặc trong việc khởi tố bị can của
CQĐT, tức là VKS tiến hành thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Để thực hiện tốt quyền công tố, có nghĩa là đảm bảo việc phê chuẩn hoặc không phê
chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê
chuẩn các quyết định tố tụng khác của CQĐT được chính xác, đúng pháp luật thì đòi hỏi
phải kiểm tra chặt chẽ tính có căn cứ và tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế tố tụng
hình sự mà CQĐT quyết định áp dụng, mà hoạt động kiểm tra này chính là thực hiện chức
năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Với việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm tiền đề cho hoạt
động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác, nếu có sai sót, vi phạm
trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra sẽ kéo theo sự vi

chỉnh và thống nhất.
Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên
của nước ta đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội. BLTTHS
đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự;
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng, bên cạnh đó có quy định về hoạt động kiểm sát khởi tố, điều
tra của VKS với mục đích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để
lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Điều 23 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát có
nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố bảo đảm
cho pháp luậtđược chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong các giai đoạn của tố tụng
hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ
17


việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào”. Với quy định đó VKS thực
hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm
1992, lần sửa đổi này đã điều chỉnh chức năng của VKS với quy định: “VKSND thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp
luật”, như vậy Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong
hai chức năng chính của VKS, điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục
khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong khởi tố, điều tra vụ án
hình sự nói riêng là chức năng quan trọng và chỉ giao cho cơ quan VKS thực hiện.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND 2014 và
BLTTHS năm 2015 thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó quy
định: “... Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách
nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, áp dụng
những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ
quan hoặc cá nhân này”. VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật

Cơ sở pháp lý của mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong khởi tố - điều tra vụ án hình
sự là các quy định của BLTTHS và các văn bản về pháp luật tố tụng hình sự có liên quan.
1.3.2. Nội dung mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong khởi tố,
điều tra vụ án hình sự
Trên cơ sở các quy định của BLTTHS và các văn bản có liên quan thì mối quan hệ
giữa CQĐT và VKS trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự được thể hiện dưới hai hình thức:
Phối hợp và chế ước. Do giới hạn của đề tài này chúng tôi không phân tích nội dung mối
quan hệ phối hợp, mà chỉ phân tích nội dung chế ước trong mối quan hệ giữa cơ quan VKS
với CQĐT để làm rõ chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra của VKS.
BLTTHS đã quy định: Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách
nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật
của bất kỳ cá nhân nào hoặc tổ chức nào. Như vậy, thực hiện chức năng kiểm sát khởi
19


tố,điều tra vụ án hình sự qua đó nếu phát hiện được những vi phạm của CQĐT thì VKS có
quyền áp dụng mọi biện pháp mà BLTTHS quy định để loại trừ vi phạm, chính quy định đó
của pháp luật đã thể hiện tính chế ước của VKS đối với CQĐT trong hoạt động tố tụng.
Theo từ điển tiếng Việt thì: "Chế" là phép định ra, làm ra, đặt ra; còn "ước" là bó buộc.
Việc dùng khái niệm "chế ước" vì theo như pháp luật tố tụng hình sự nước ta, VKS có các
quyền năng pháp lý như: Giám sát, yêu cầu, hủy bỏ. Mà bản chất pháp lý của các quyền
năng này là sự chế ước đối với hoạt động tố tụng của CQĐT - với tính chất là đối tượng của
hoạt động kiểm sát.
Trong suốt quá trình tố tụng từ khi tội phạm được phát hiện hay có dấu hiệu tội phạm
đến khi khởi tố và tiến hành các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ để chứng minh tội
phạm và người phạm tội thì VKS đều tham gia với tư cách là cơ quan giám sát thông qua hai
hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp (nghiên cứu hồ sơ). Việc thực hiện các quyền năng của
VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như yêu cầu điều tra, phê chuẩn các quyết định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status