BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN THỊ NGUYÊN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA CÁC VỤ ÁN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------
NGUYỄN THỊ NGUYÊN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA CÁC VỤ ÁN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật tố tụng hình sự
Mã số
CQĐT
: Cơ quan điều tra
ĐTV
: Điều tra viên
KSV
: Kiểm sát viên
TTHS
: Tố tụng hình sự
THQCT
: Thực hành quyền công tố
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
vụ án trộm cắp tài sản........................................................................................ 8
1.2. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
tra các vụ án trộm cắp tài sản .......................................................................... 20
1.3. Nội dung của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án
trộm cắp tài sản. .............................................................................................. 24
Chương 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
2003, NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ÐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH........................................................... 30
2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, năm 2015 về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự............................... 30
2.2. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án
trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định. ................................................. 44
2.2.1. Những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Nam Định ........................................................................................................ 45
2.2.2. Những hạn chế trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
đối với các vụ án về tội trộm cắp tài sản của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam
Định và nguyên nhân của hạn chế .................................................................. 55
Chương 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
......................................................................................................................... 66
3.1. Yêu cầu..................................................................................................... 66
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định ..................... 68
3.2.1. Giải pháp về pháp luật........................................................................... 68
3.2.2. Những giải pháp khác ........................................................................... 72
trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi
khởi tố vụ án trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm
của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ…”
2
Với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý… Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khoá
X) về chiến lược cải cách đến năm 2020 đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế
của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân : “Tổ chức bộ
máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất
hợp lý. Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ
và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán
bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Vẫn còn tình
trạng oan, sai trong điều tra, bắt giam giữ, truy tố xét xử. Cơ sở vật chất,
phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu…”
Trong hơn ba mươi năm đổi mới, tỉnh Nam Định đã có bước phát triển
mạnh về nhiều mặt, kinh tế tăng trưởng, đời sống các tầng lớp nhân dân
không ngừng được cải thiện, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên,
không nằm ngoài ảnh hưởng tác động tiêu cực của phát triển kinh tế thị
trường, địa bàn rộng, dân số đông, tốc độ đô thị hóa nhanh đã làm cho Nam
Định gặp không ít khó khăn trong quản lý xã hội, tệ nạn xã hội và tội phạm,
trong đó có vấn đề đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, phòng
chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng, đặc biệt là tội trộm cắp tài sản
chiếm tỷ lệ lớn và đang có chiều hướng gia tăng. Loại tội phạm này đã và
đang diễn biến phức tạp với tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn gây
không ít khó khăn cho công tác điều tra, giải quyết vụ án.
Hoạt động Thực hành quyền công tố là một chức năng quan trọng của
Viện kiểm sát nhân dân, cho nên thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra là chủ đề đã được nhiều học giả nghiên cứu dưới góc độ lý luận và từ
nhiều phương diện khác nhau, trong đó phải kể đến một số công trình điển
hình như sau:
- Lê Cảm (2001), "Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố",
Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và
việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Hà Nội.
4
- Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Nguyễn Hải Phong (Chủ biên) (2014) Một số vấn đề về tăng cường
trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều
tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Trịnh Duy Tám (2005), áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt nam hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
- Hà Thị Minh Hạnh (2011), Chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện
kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Hà Nội.
- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong
tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
- Nguyễn Ngọc Ánh (2016) “Thực hành quyền công tố và Kiểm sát
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận
Định.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu lý luận về thực hành quyền công tố trong giai
đoạn điều tra và thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Nam Định trong 05 năm (2012 - 2016).
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nam Định
4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
Luận văn nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực
hành quyền công tố các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định.
6
Qua đó đưa ra một số đề xuất, phương hướng nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản theo
tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đề ra.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Phân tích cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản.
+ Phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2005, năm
2015 và thực tiễn thực hành quyền công tố các vụ án trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Nam Định, những khó khăn, vướng mắc gặp phải, nguyên nhân dẫn
đến tình trạng đó.
+ Yêu cầu và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực
hành quyền công tố.
+ Đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành
góp phần giúp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định cũng như Viện kiểm sát
nhân dân các địa phương trong cả nước nâng cao được chất lượng thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án trộm cắp tài sản.
Đồng thời còn được sử dụng như một tài liệu tham khảo phục vụ cho việc
nghiên cứu giảng dạy và học tập tại các trường đào tạo luật và Trường Đại học
Kiểm sát.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2003, năm
2015 và thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án
về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng công tác thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án về tội trộm cắp tài sản
trên địa bàn tỉnh Nam Định
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN
1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các vụ án trộm cắp tài sản.
- Quyền công tố
Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm được
nhắc đến nhiều trong luật tố tụng hình sự nước ta khi đề cập chức năng của
viện kiểm sát các cấp. Nhưng dưới góc độ lập pháp thì Hiến pháp 1980 là văn
sát kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm của mình
trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội cũng là THQCT. Theo quan điểm này,
công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS mà chỉ là một hình thức
thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS.2
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước
đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này
được giao cho VKSND.3 Theo quan điểm này thì quyền công tố không chỉ có
trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng
khác như dân sự, kinh tế và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.
Quan điểm thứ ba: Cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực
hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố kẻ phạm tội ra
trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
(duy trì quyền công tố); ở Việt Nam quyền này được Nhà nước giao cho
VKSND. Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất một chủ thể có quyền công
tố - đó là VKS; việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy
nhất là Tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của
TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm.4
2
Võ Quang Nhạn (1984), “Bàn về quyền công tố”, Tập san kiểm sát, (2)
3
Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền
công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà
Nội.
4
quyền công tố chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
5
Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Nhà nước và pháp luật (10)
11
pháp luật trong TTHS. Vì vậy, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố
như là hoạt động độc lập của viện kiểm sát được nhà nước uỷ quyền;
+ Hoặc là đánh đồng thực hành quyền công tố với kiểm sát việc tuân
theo pháp luật. Vì vậy, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả các
lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế...
+ Hoặc là thu hẹp phạm vi quyền công tố, chỉ bó gọn quyền công tố
trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Từ đó hạn chế quyền
hạn cũng như trách nhiệm của viện kiểm sát như là cơ quan có trách nhiệm
chính trong truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Có thể thấy rằng, điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình
nghiên cứu về quyền công tố là không phân định rõ khái niệm, bản chất, nội
dung, phạm vi quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt
động kiểm sát tuân theo pháp luật. Đa số đều cho rằng hai chức năng của
VKS (Chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật) như
pháp luật trước đây quy định vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt
chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có những nội dung hòa
nhập với nhau, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, tạo nên sự thống nhất
trong chức năng của VKS.
Dù muốn hay không, chúng ta không thể không thừa nhận Nhà nước
ra đời và tồn tại luôn luôn là đại diện chính thức cho xã hội (xét về mọi
phương diện). Trong xã hội có giai cấp, bất kể là xã hội nào, có nhiều loại
quan hệ còn tồn tại, nhưng chung quy lại có hai nhóm quan hệ xã hội cơ bản:
VKSNDTC đã khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh
vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".
+ Hiến pháp 2013 (Điều 107) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp". Quy dịnh này cũng được
6
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công
tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
7
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sdđ, tr.251.
13
cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức
VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003).
Như vậy có thể thấy quyền công tố ở nước ta được giao cho một chủ
thể duy nhất đó là Viện kiểm sát. Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS
và có ở các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử
Từ những nội dung được trình bày trên, tác giả cho rằng: Quyền công
tố là quyền lực của Nhà nước giao cho VKSND thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử và bảo vệ việc truy tố trước Tòa án.
- Thực hành quyền công tố
Khái niệm quyền công tố và THQCT có quan hệ mật thiết với nhau,
giải quyết chính xác, rõ ràng, rành mạch những vấn đề liên quan đến khái
niệm quyền công tố và THQCT sẽ giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ, chính
xác vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung,
Do vậy, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện
kiểm sát trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong
suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và buộc tội họ trước Tòa án.
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản
Theo tố tụng hình sự Việt Nam thì quá trình giải quyết vụ án hình sự nói
chung và vụ án trộm cắp tài sản nói riêng được chia thành 5 giai đoạn: giai đoạn
khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử, giai đoạn thi hành
án. Trong đó, mỗi giai đoạn đề thực hiện những nhiệm vụ khác nhau, giai đoạn
trước làm căn cứ để thực hiện giai đoạn sau. Đại đa số các quan điển đều cho
rằng Viện kiểm sát là cơ quan phải chịu trách nhiệm đối với mỗi hoạt động của
Cơ quan điều tra trong các giai đoạn khởi tố, điều tra. Trong 5 giai đoạn đó thì
giai đoạn điều tra là giai đoạn góp phần quan trong thực hiện mục tiêu phát hiện
chính xác, kịp thời mọi hành vi phạm tội và người phạm tội, không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội. Do giai đoạn điều tra có vị trí, vai trò như
9
Từ điển Luật học (2006), Nxb Từ điển bách khoa – Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.457
10
Kết luận về công tác kiểm sát năm 1968, Nội san công tác kiểm sát số 3/1968, tr.55
15
vậy, nên việc xác định đúng phạm vi tố tụng hình sự của Viện kiểm sát ở giai
đoạn điều tra vụ án trộm cắp tài sản là hết sức cần thiết.
Theo từ điển tiếng Việt, điều tra là “tìm hỏi, xem xét để biết rõ sự
thật”11. Từ điển Luật học thì giải thích: “Điều tra là công tác trong tố tụng
Đinh Văn Quế (2012), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, tập 2, NXB Lao động, Hà Nội, tr.435
16
do Cơ quan điều tra thực hiện và Viện kiểm sát có trách nhiệm giám sát việc
thực hiện này. Cũng chính vì đó mà gây ra sự nhầm lẫn rằng trong quá trình điều
tra Viện kiểm sát chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp hoặc nhầm
lẫn giữa hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát hoạt động tư
pháp. Hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát là hoạt động nhằm
vào việc buộc tội và các biện pháp tác động vào quyền nhân thân của người
phạm tội như hạn chế hoặc tước bỏ một số quyền của người phạm tôi còn hoạt
động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn điều tra là hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp.
Vì vậy, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
các vụ án trộm cắp tài sản là hoạt động của Viện kiểm sát thực hiện việc buộc
tội đối với người có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, bảo đảm
mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều phải được khởi tố, điều tra, không để
lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Từ khái niệm trên có thể rút ra một số điểm chung về THQCT trong giai
đoạn điều tra các vụ án trộm cắp tài sản như sau:
+ Đối tượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ
án trộm cắp tài sản
Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động tới
nhằm thực hiện mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự. Với cách hiểu này,
đối tượng của thực hành quyền công tố không gì có thể khác hơn là tội phạm
và người phạm tội. Do đối tượng tác động của thực hành quyền công tố cũng
chính là đối tượng của quyền công tố, nên đối tượng tác động của thực hành
phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử vụ án hình sự”. Theo quy định này thì thực hành quyền công tố từ khi giải
quyết tin báo tội phạm đến điều tra, truy tố đến xét xử (bao gồm cả xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm).
14
Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Nhà nước và pháp luật (10)
18
Về phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra:
Có quan điểm cho rằng: Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi việc điều tra kết thúc hoặc
đình chỉ vụ án.15 Theo quan điểm này thì phạm vi thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi giải quyết tin báo tố giác tội phạm.
Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu của TTHS, trong đó cơ quan
có thẩm quyền xác định có hay không dấu hiệu tội phạm để ra quyết định
khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án. Còn điều tra là giai đoạn tố tụng
hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS
quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hiện hành vi phạm tội làm
cơ sở cho việc giải quyết vụ án.16 Khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng mở đầu
cho các hoạt động điều tra, chưa khởi tố vụ án thì không được tiến hành các
hoạt động điều tra, trừ một số trường hợp đặc biệt. Do đó, không thể xem
khởi tố vụ án hình sự như một hoạt động trong giai đoạn điều tra. Hoạt động
điều tra chỉ được tiến hành sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án. Vì vậy,
theo quan điểm của tác giả, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra bắt đầu từ thời điểm sau khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra
hoặc đình chỉ vụ án.
Theo cách hiểu như vậy, thì phạm vi thực hành quyền công tố trong