BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC ÁNH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NGỌC ÁNH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
KSĐT
Kiểm sát điều tra
THQCT
Thực hành quyền công tố
TTHS
Tố tụng hình sự
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng số 1: Số liệu vụ án, bị can tội xâm phạm sở hữu VKS hai cấp thành phố Hà
Nội kiểm sát việc khởi tố giai đoạn 2011 – 2015
Bảng số 2: Số liệu kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong các tội xâm
phạm sở hữu giai đoạn 2011 - 2015
Bảng số 3: Số vụ án, bị can tội xâm phạm sở hữu tạm đình chỉ giai đoạn 2011 –
2015
6
6.Những điểm mới và đóng góp của luận văn6
7. Kết cấu của luận văn
7
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRACÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
8
1.1.Khái niệm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 8
1.1.1.Khái niệm thực hành quyền công tố8
1.1.2.Khái niệm Kiểm sát điều tra15
1.1.3.Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra19
1.2.Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án xâm phạm sở hữu
23
1.2.1.Các tội xâm phạm sở hữu23
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án xâm phạm sở hữu
27
1.3.Khái quát lịch sử hình thành chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra ở Việt Nam
29
CHƯƠNG 2. PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
HỮU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
35
2.1. Pháp luật hiện hành về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
66
66
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật hình sự và tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật hình
sự
69
3.2. Những giải pháp khác
74
3.2.1. Tiếp tục kiện toàn biên chế, nâng cao ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức và
trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên ở Viện kiểm sát hai cấp
Thành phố Hà Nội
74
3.2.2. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho ngành Kiểm sát; hoàn
thiện chế độ chính sách đối với cán bộ, Kiểm sát viên.
77
3.2.3. Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo và kiểm tra của Viện kiểm sát cấp trên
đối với Viện kiểm sát cấp dưới.
79
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế giám sát của Hội đồng nhân dân và của nhân dân đối với
hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu của
Viện kiểm sát nhân dân ở thành phố Hà Nội.
80
3.2.5. Tiếp tục tăng cường quan hệ phối hợp giữa ngành Kiểm sát Hà Nội với Cơ quan
điều tra trong việc giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu
82
KẾT LUẬN
84
đổi mới toàn diện cả về tổ chức và hoạt động thì mới hoàn thành được nhiệm vụ
của mình.Việc đổi mới của VKSND đã được Nghị quyết số 08/ NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị: “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư
pháp trong thời gian tới” xác định: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức
năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt
động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án trong suốt quá trình
tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, xử lý
kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi
hành nhiệm vụ…”
Với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý… Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khoá X) “Về
chiến lược cải cách đến năm 2020” đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của các
cơ quan tư pháp trong đó có VKSND:“...Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ,
cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý. Đội ngũ cán bộ tư
pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một
bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức
và trách nhiệm nghề nghiệp. Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt giam
giữ, truy tố xét xử. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp
còn thiếu thốn, lạc hậu…”
Thành phố Hà Nội là Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của
nước ta. Trong những năm gần đây, bên cạnh việc giữ vững ổn định chính trị,
tập trung phát triển kinh tế, Thành phố Hà Nội còn phải đối mặt với nhiều vấn
đề xã hội cần giải quyết, trong đó có vấn đề đấu tranh phòng và chống tội phạm
nói chung, phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng. So với các địa
phương trên cả nước, tội phạm xâm phạm sở hữu ở Thành phố Hà Nội luôn
chiếm tỷ lệ lớn và đang có chiều hướng gia tăng. Loại tội phạm này đã và đang
diễn biến phức tạp với tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn gây không ít
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
THQCT và KSĐT là chủ đề đã được nhiều học giả nghiên cứu dưới góc
độ lý luận và từ nhiều phương diện khác nhau, trong đó phải kể đến một số công
trình điển hình như sau:
- Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Hà Thị Minh Hạnh (2011), Chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm
sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Hà Nội
- Cao Việt Cường (2013), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
(trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ
Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội.
- Trịnh Duy Tám (2005), Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội
- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố
tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
Bên cạnh đó còn có các bài viết của nhiều tác giả khác với các ý kiến,
quan điểm khác nhau được đăng tải trên các báo, tạp chí như: Tổ chức bộ máy
và chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp của
tác giả Lê Hữu Thể, Tạp chí Kiểm sát số 14 – 16, 2008; Bàn về mô hình Viện
kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Lại Hợp Việt, Tạp chí Kiểm
sát số 14 – 16, 2008; Thể chế chủ trương “Tăng cường trách nhiệm của công tố
trong hoạt động điều tra” trong Bộ luật tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Tiến
Sơn, Tạp chí Kiểm sát số 09, 2015…
+ Phạm vi về không gian và thời gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu thực
tiễn áp hoạt động THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của VKSND ở
Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 05 năm từ năm 2011 đến hết năm 2015.
+ Phạm vi về giai đoạn tố tụng: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn về THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sở hữu của
VKSND ở Thành phố Hà Nội bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặc phát hiện
được dấu hiệu của tội phạm cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản
kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển cho Viện kiểm sát đề nghị
truy tố hoặc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra vụ án.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp
luật, đặc biệt là các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị
quyết số 08/ NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị: “Về một số nhiệm vụ
trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị: “Về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020”.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương
pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học điều tra hình
sự và các phương pháp, kỹ năng khác, như: Phương pháp kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp lịch sử cụ thể; kết hợp
sử dụng các phương pháp khoa học khác như : thống kê tội phạm, so sánh, phương
pháp hệ thống…
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý
luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp
độ một luận văn thạc sĩ luật học về hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án xâm
phạm sở hữu mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng trong việc áp dụng
pháp luật tố tụng hình sự và hình sự để làm sáng tỏ các vấn đề cần chứng minh
trong vụ án hình sự thông qua hoạt động THQCT và KSĐT của Viện kiểm sát.
Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
điều tra
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố
1.1.1.1. Quyền công tố
Trên thế giới, khái niệm quyền công tố và THQCT đã xuất hiện từ rất
sớm, gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của nhà nước và pháp luật. Nhưng
ở nước ta dưới góc độ lập pháp thì Hiến pháp 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên
đưa ra thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của
VKSND (Điều 137). Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật Tổ
chức VKSND năm 1981. Như vậy, hoạt động của VKSND bên cạnh khái niệm
truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “quyền
công tố” và “Thực hành quyền công tố”. Từ đó đến nay đã có nhiều tài liệu
giảng dạy, nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học đề cập đến khái niệm
này.Song cho đến nay, khi chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh cải cách tư
pháp, vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao trên phương diện nhận thức về vấn
đề này.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố,
buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án".1Như vậy, theo từ điển
tiếng Việt thì công tốđược hiểu với các nội dung khác nhau bao gồm: Điều tra,
truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án.
Ở nước ta, trong thời gian qua đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
về khái niệm thế nào là quyền công tố, có thể khái quát một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của VKS đều là THQCT. Những người theo quan
điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của VKSND. Quan điểm này xuất phát từ chức năng của
VKSND để xem xét quyền công tố. Họ cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát
việc tuân theo pháp luật đều là THQCT. Điều đó có nghĩa là ngay cả khi Viện
kiểm sát kiến nghị yêu cầu các cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm của
một trong số những nội dung của hoạt động THQCT.
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội.5Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ
có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, Tòa
3Trần Văn Độ (1999), "Một số vấn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố
và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội.
4Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ
năm 1945 đến nay", Thông tin khoa học pháp lý, Số chuyên đề, (1)
5Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Nhà nước và pháp luật (10)
án, Thi hành án) và như vậy quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều
tra, truy tố, xét xử đến thi hành án.
Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm
khác nhau.Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó. Tuy
vậy, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt
động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của
các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các
nước khác cho thấy các quan điểm nêu trên đã bộc lộ một số bất cập như: Hoặc
là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố
chỉ là quyền năng của VKS trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng
phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu
hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố…
Theo tác giả luận văn, để làm rõ khái niệm quyền công tố, phải xuất phát
từ lịch sử Nhà nước và pháp luật. Dù muốn hay không, chúng ta không thể
khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ
trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".
- Hiến pháp 2013 (Điều 107) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp".7Quy dịnh này cũng được
cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta (Điều 2 Luật Tổ chức
VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003).
Như vậy có thể thấy quyền công tố ở nước ta được giao cho một chủ thể
duy nhất đó là Viện kiểm sát. Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS và có ở
tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử
Từ những nội dung được trình bày trên, tác giả cho rằng: Quyền công tố
ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho VKSND thực hiện việc buộc tội đối
với người phạm tội nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội.
1.1.1.2. Thực hành quyền công tố
Khái niệm quyền công tố và THQCT có quan hệ mật thiết với nhau, giải
quyết chính xác, rõ ràng, rành mạch những vấn đề liên quan đến khái niệm
quyền công tố và THQCT sẽ giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ, chính xác vị
trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, trong mối
quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức năng, nhiệm vụ của
VKS, đặc biệt là trong TTHS. Điều này có nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai
6Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 củaBộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
7Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (2013), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết của
Đảng về cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách cơ quan tư pháp.
Cũng như khái niệm quyền công tố, khái niệm THQCT cũng ít được đề
cập đến trong các tài liệu pháp lý ở nước ta và cũng còn nhiều ý kiến khác nhau
về vấn đề này.
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội; để đảm bảo thực hiện được sự buộc tội nhân danh
Nhà nước đó pháp luật quy định các chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các chức năng,
nhiệm vụ đó chính là thực hành quyền công tố.8Như vậy, có thể thấy rõ quyền
công tố là cơ sở của thực hành quyền công tố, phải có quyền công tố thì mới có
thực hành quyền công tố cho nên để xem xét phạm vi của thực hành quyền công
tố thì trước hết phải xem xét đến phạm vi của quyền công tố. Như phần trên đã
nêu, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện … Còn
thực hành quyền công tố thì chỉ phát sinh kể từ thời điểm vụ án được khởi tố
bằng quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền - tức là khi cơ quan tố
tụng đã áp dụng một trong các biện pháp thực hành quyền công tố. Tuy nhiên,
trên thực tế có không ít những trường hợp mặc dù có tội phạm xảy ra nhưng
không được khởi tố; điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong khoa học
pháp lý gọi là "tội phạm ẩn" (tức là những tội phạm trên thực tế đã xảy ra nhưng
chưa được khởi tố để điều tra)9cho nên cơ quan tố tụng không áp dụng được bất
cứ một biện pháp thực hành quyền công tố nào. Qua đây, có thể thấy rằng phạm
vi của thực hành quyền công tố hẹp hơn so với phạm vi của quyền công tố, nó
chỉ bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực
pháp luật (trừ trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ, đình chỉ).
Nội dung của thực hành quyền công tố:Nội dung thực hành quyền công
tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc
lập để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm bảo đảm việc
truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và được thực hiện ngay từ khi khởi
tố vụ án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật. Theo đó, nội dung thực hành
quyền công tố bao gồm: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và
yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi cần thiết, trực tiếp tiến hành một
số hoạt động điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn;
phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; hủy bỏ các
8Lê Cảm (2001), "Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về
kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày
02/01/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 107 Hiến pháp
năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014. Tuy nhiên nhà lập pháp nước ta
chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt
động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm
này. Một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng trong suốt một thời gian dài
chúng ta chưa quan tâm đúng mực đến lĩnh vực tư pháp, điều đó thể hiện ở việc
trước khi có Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thuật ngữ quyền tư
pháp ít được sử dụng trong ngôn ngữ chính trị, pháp luật và khoa học. Điều đó
đã không tạo ra được tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề về tư pháp, trong
đó có vấn đề "kiểm sát các hoạt động tư pháp".10Do vậy, hiện nay xung quanh
khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp” đang còn có nhiều quan điểm khác
nhau, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng "Kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ
bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án"11
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng "Kiểm sát các hoạt động tư pháp bao
gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ án hình
sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần "tư
pháp" trong thi hành án"12
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng hoạt động tư pháp là một dạng hoạt
động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên ngoài
cũng như từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát
xã hội. Theo nghĩa rộng, kiểm sát tư pháp cũng được hiểu là giám sát tư pháp, là
một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư
pháp. Còn theo nghĩa hẹp thì kiểm sát tư pháp được hiểu là chức năng của VKS.
Phạm vi kiểm sát tư pháp là việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra,
xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình,
hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án
hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành
án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các
hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”
Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp
trong tố tụng hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là:
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là gì?
Chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm sát
việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các cơ quan khác
được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự. Hoạt động kiểm sát điều tra với tính chất là một chức năng của VKS thì
hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các
hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được
giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra các vụ án hình
sự nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không để lọt tội phạm đồng thời cũng không làm oan người vô tội.
Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của hoạt
động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi của nó? Theo tác giả
luận văn, đối tượng của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự chính là các hành vi
quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người
tham gia tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Khi tiến hành
hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật tổ
chức VKS, Bộ luật hình sự, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên
quan để theo dõi, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật, cũng như bảo đảm
tính có căn cứ và hợp pháp của các hành vi tố tụng hình sự mà chủ thể bị kiểm
sát thực hiện.
Như vậy, kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu chính là hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết
định của Cơ quan điều tra trong hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu.
Hoạt động này của Viện kiểm sát được thực hiện từ khi tiếp nhận và giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm và trong suốt quá trình điều tra.
1.1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
Theo Hiến pháp năm 2013và Luật tổ chức VKS năm 2014, trong lĩnh vực
tư pháp hình sự VKS có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp. Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm
sát trong lĩnh vực tư pháp hình sự, VKS các cấp luôn luôn quán triệt đường lối
công tác kiểm sát là đấu tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi
phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm
bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh
theo quy định của pháp luật; không để lọt tội phạm đồng thời cũng không được
làm oan người vô tội. Nên việc thực hiện đồng thời hai hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết các
vụ án hình sự là mang tính khách quan, do vậy giữa hai hoạt động này luôn có
mối quan hệ với nhau. Mối quan hệ đó được thể hiện ở các phương diện sau:
Khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm, vụ án được khởi tố, tức là quyền
công tố được phát động đã làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong khởi tố vụ án hình sự, hoạt động này được VKS thực hiện để bảo đảm
việc khởi tố đúng với các quy định pháp luật, thông qua hoạt động kiểm sát khởi
tố xét thấy quyết định khởi tố của CQĐT không có căn cứ và hợp pháp, tức là
quyết định đó trái pháp luật thì VKS yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấm dứt
ngay hoạt động điều tra, đồng thời ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố trái
pháp luật, như thế quyền công tố có thể bị triệt tiêu và việc ra quyết định hủy bỏ
tức là VKS đã thực hành quyền công tố. Do vậy, làm tốt chức năng kiểm sát khởi
tố vụ án hình sự sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định của VKS được chính xác và
đúng pháp luật nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và hạn chế được các vi phạm trong
định khởi tố bị can của CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số
hoạt động điều tra phải được VKS cùng cấp phê chuẩn. Do vậy, để phê chuẩn
hay hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của CQĐT thì VKS phải tiến hành hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố bị can nhằm bảo đảm quyết
định khởi tố bị can là có căn cứ và hợp pháp, nếu qua hoạt động kiểm sát xét
thấy quyết định khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì VKS quyết định phê
chuẩn để CQĐT tiến hành hoạt động điều tra, ngược lại quyết định khởi tố bị
can không có căn cứ thì VKS quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT.
Với việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm tiền
đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác,