Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại các viện kiểm sát trên địa bàn thành phố hà nội (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
---------&---------

LÊ THÙY LINH

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC
VIỆN KIỂM SÁT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

: 60380103

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Huyền

HÀ NỘI – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
---------&---------


BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
KSV: Kiểm sát viên
KSVTTPL: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
TAND: Tòa án nhân dân
TMCP: Thương mại cổ phần
TTDS : Tố tụng dân sự
UBND: Ủy ban nhân dân
VKS: Viện kiểm sát
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân.
XHCN: Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1.Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ............................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu....................................................................................... 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 3
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ................................................. 3
5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 4
6. Kết cấu của luận văn .......................................................................................... 4
CHƢƠNG 1........................................................................................................... 5
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ..................................................... 5
1.1 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự .................. 5
1.2 Cơ sở của việc xây dựng các quy định pháp luật về kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng dân sự ........................................................................ 9
1.2.1 Cơ sở lý luận ................................................................................................. 9

3.1.1. Khái quát về đặc điểm, tình hình công tác kiểm sát dân sự trên địa bàn
thành phố Hà Nội ................................................................................................. 42
3.1.2 Thực tiễn kiểm sát việc thụ lý vụ án dân sự của Tòa án của các Viện
kiểm sát trên địa bàn thành phố Hà Nội .............................................................. 44
3.1.3 Thực tiễn thực hiện việc kiểm sát các bản án, quyết định .......................... 46


3.1.4 Thực tiễn tham gia phiên tòa của các Viện kiểm sát nhân dân trên địa
bàn thành phố Hà Nội .......................................................................................... 52
3.1.5 Thực tiễn thực hiện thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa
án tại các Viện kiểm sát trên địa bàn thành phố Hà Nội ..................................... 58
3.2 Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện có hiệu
quả hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong Tố tụng dân sự ............... 65
3.2.1 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự ............................................................................................. 65
3.2.2 Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự tại các Viện kiểm sát trên
địa bàn thành phố Hà Nội .................................................................................... 70
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ................................................................................... 73
KẾT LUẬN CHUNG ......................................................................................... 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống cơ quan Nhà nước ta Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)
có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất, góp phần thực

2

Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại các Viện kiểm sát
trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài thực hiện Luận văn thạc sĩ luật học
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu cho thấy, trước đây đã có một số công trình nghiên cứu,
bài viết về VKSND, như: ”Về việc tham gia phiên tòa dân sự của Viện kiểm sát
nhân dân ” của tác giả Trần Văn Trung đăng trên tạp chí Luật học số 8 năm
2005, ”Vị trí, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư
pháp”, của tập thể tác giả, do TS. Khuất Văn Nga làm chủ biên, Nhà xuất bản
Tư pháp 2008; “Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của VKS trong tiến
trình cải cách tư pháp” của TS. Lê Hữu Thể, Tạp chí Kiểm sát số 14-16/2008;
“Một số ý kiến về đổi mới tổ chức VKS trong chiến lược cải cách tư pháp” của
PGS. TS. Trương Đắc Linh, Tạp chí Kiểm sát số 14-16/2008; “Bàn về thẩm
quyền khởi tố (khởi kiện) của VKS trong tố tụng dân sự” của TS. Nguyễn Ngọc
Khánh, Tạp chí Kiểm sát số 24/2010;”Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động
tố tụng dân sự và thực tiễn” của tác giả Trần Xuân Hách đăng trên Tạp chí Tòa
án nhân dân số 19 năm 2012; ” Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác kiểm
sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự” của Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hòa
Bình đăng trên tạp chí Kiểm sát số 7 năm 2016, đề tài ”Sự tham gia tố tung của
Viện kiểm sát nhân dân trong Tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Võ Thị
Phượng (Luận văn thạc sỹ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2011), đề
tài ”Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự” của tác
giả Nguyễn Kim Ngân (Luận văn thạc sỹ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội
năm 2016), đề tài ” Sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong Tố tụng dân
sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn” (Luận văn thạc sỹ luật học, trường
Đại học Luât Hà Nội năm 2016).
Tuy nhiên, những công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề

nơi học viên công tác.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân đặc biệt là các quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách
tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu:


4

Luận văn sử dụng phương pháp của triết học duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử Mác xít, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực
tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể. Ngoài ra
còn sử dụng các phương pháp của bộ môn khoa học khác như thống kê, so sánh.
5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về việc kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực trạng pháp luật và thực
tiễn thực hiện pháp luật tại các Viện kiểm sát Nhân dân trên địa bàn Thành phố
Hà Nội và từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực hiện công tác kiểm sát án dân sự của Viện kiểm sát.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 03 chương.
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự
- Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự

pháp 2013 đã xác định vai trò của VKSND. Theo đó, VKSND là một hệ thống
cơ quan có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức thành một hệ
thống từ trung ương xuống địa phương (cấp tỉnh và huyện), có chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, bảo đảm cho pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) (2013), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
1


6

Xuất phát từ chức năng chung của ngành kiểm sát, hoạt động kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của VKSND nhằm kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình tố tụng, bảo đảm tính pháp chế trong
các phán quyết của Toà án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước cũng
như mọi thành viên trong xã hội. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của VKSND là tất yếu và khách quan, nhằm đáp ứng yêu cầu về bảo đảm sự
tuân thủ theo pháp luật trong tố tụng dân sự của Toà án – cơ quan tư pháp có
thẩm quyền xét xử phần lớn các vụ việc dân sự, đồng thời bảo đảm quyền của
con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự.
Khác với pháp luật tố tụng hình sự giải quyết quan hệ giữa một bên là
Nhà nước, đại diện cho lợi ích công và một bên là người phạm tội, pháp luật
TTDS giải quyết những tranh chấp các lợi ích tư giữa các đương sự. Mục đích
trực tiếp của pháp luật TTDS là bảo vệ lợi ích tư của các đương sự nên một trong
những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS là trao quyền tự quyết cho đương
sự - chủ thể của các lợi ích. Các chủ thể tiến hành tố tụng chỉ thực hiện các
nhiệm vụ làm sáng tỏ vụ việc để giải quyết trên cơ sở pháp luật chứ không thay
mặt cho đương sự quyết định những lợi ích của chính họ.
Trong mối quan hệ giữa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng

và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đứng về lẽ phải chứ không phải đứng
về lợi ích của một bên đương sự nào, đặc biệt là bảo vệ những người yếu thế.
Trong quá trình kiểm sát, VKSND có trách nhiệm áp dụng các biện pháp do
BLTTDS quy định để loại bỏ yếu tố vi phạm pháp luật của các chủ thể tham gia
vào quá trình TTDS giải quyết vụ việc dân sự, trong đó có việc cản trở, hạn chế
đương sự thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt. Ngay cả khi quyền quyết
định và tự định đoạt của các đương sự thực hiện trái pháp luật, trái đạo đức xã
hội, xâm phạm đến lợi ích xã hội hoặc của người khác thì hoạt động kiểm sát
cũng can thiệp để loại trừ.
Như vậy, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là cơ chế bảo đảm
thực hiện nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự và bảo đảm
sự kết hợp hài hòa giữa quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự với
vai trò tích cực và kiểm soát, can thiệp từ phía Nhà nước.
Trong suốt quá trình tham gia kiểm sát việc giải quyết vụ, việc dân sự,
VKSND được ghi nhận là cơ quan tiến hành tố tụng và được giao nhiệm vụ thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp. Hoạt


8

động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có những đặc điểm
sau đây:
- Thứ nhất, VKSND là cơ quan duy nhất có quyền kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự.
Theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành, VKSND là cơ quan có chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Với chức năng,
nhiệm vụ của mình, VKSND thực hiện quyền lực Nhà nước trực tiếp tham gia
giám sát các hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, quyền làm
chủ của nhân dân; bảo đảm trật tự xã hội.
- Thứ hai, VKSND thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS

nghĩa to lớn trong việc bảo vệ tính tối cao của pháp luật. VKSND có vai trò quan
trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ
quan tư pháp.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự đảm bảo việc giải
quyết vụ, việc dân sự nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân; bảo đảm bản án, quyết định của Toà án có căn cứ và đúng pháp
luật.
Từ những phân tích trên, có thể thấy: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự là hoạt động của Viện kiếm sát thông qua Viện trưởng
VKSND, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên các cấp theo trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng của Tòa án, người tham
gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm đảm bảo cho pháp
luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất”.
1.2 Cơ sở của việc xây dựng các quy định pháp luật về kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng dân sự
1.2.1 Cơ sở lý luận
Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu cụ thể hóa quy định của Hiến pháp và quan
điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà
nước và cải cách tư pháp.
Hiến pháp 1959 ban hành đánh dấu sự ra đời của một loại hình cơ quan
Nhà nước mới trong bộ máy Nhà nước, đó là cơ quan VKSND. Qua các bản
Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và đến nay là Hiến pháp 2013 tuy có những bổ
sung, thay đổi về tổ chức, hoạt động của VKSND nhưng chức năng kiểm sát các
hoạt động tư pháp vẫn luôn được giao cho VKSND.


10

Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược

hiện.


11

Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm chế độ chính trị và nguyên tắc tổ chức thực
hiện quyền lực nhà nước ở nước ta.
Về chế độ chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh
đạo nhà nước và xã hội. Bộ máy Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập
quyền, không theo nguyên tắc tam quyền phân lập. Theo nguyên tắc tập quyền,
thì quyền lực nhà nước là thống nhất, chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước
là nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội. Theo
quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất có
quyền lập hiến, thực hiện quyền lập pháp và phân công quyền lực Nhà nước.
Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan
thực hiện quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên, Quốc hội chỉ trực tiếp thực hiện
quyền giám sát của mình trong những phạm vi mà Quốc hội thấy cần thiết nhất,
quan trọng nhất (như hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ, TAND tối
cao, VKSND tối cao trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong các
hoạt động thực tiễn về tổ chức và thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của
Quốc hội, về năng lực, trình độ và trách nhiệm của những người do Quốc hội
bầu và phê chuẩn bằng các phương thức giám sát do luật xác định được tiến
hành tại các kỳ họp của Quốc hội).
Thực tế từ khi có Hiến pháp năm 1959 đến nay, Quốc hội không thể và
không cần thiết phải tự mình trực tiếp giám sát toàn bộ hoạt động của các cơ
quan thực hiện quyền lực Nhà nước. Quốc hội đã giao cho VKSND thực hiện
quyền giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
và công dân trong phạm vi được Quốc hội giao cho (quyền Kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội từ năm 1960 đến năm

tiến tới thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. “Nhu cầu
của cuộc cách mạng XHCN đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất, đòi hỏi một sự nhất trí về mục đích và hành động trong
nhân dân, giữa nhân dân và nhà nước cũng như giữa các ngành hoạt động nhà
nước với nhau. Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp
luật thì sự nghiệp xây dựng CNXH sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ trên phải tổ chức
ra VKSND để KSVTTPL nhằm giữ vững pháp chế XHCN, bảo đảm cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Tờ trình về Luật Tổ chức
VKSND năm 1960) [24, tr 5]. Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 1959 đã đưa ra chế
định Viện KSND, tạo cơ sở pháp lý thành lập hệ thống cơ quan VKSND ở nước
ta. Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức VKSND năm 1960 được ban hành đã
đánh dấu sự ra đời của một hệ thống cơ quan nhà nước mới trong bộ máy của
nhà nước ta, thực hiện chức năng KSVTTPL và thực hành quyền công tố. Như


13

vậy, sự ra đời của mô hình VKS thay thế cho mô hình Viện Công tố ở nước ta
gắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất – điều kiện nền
tảng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới và việc thành lập hệ thống cơ quan
VKSND không chỉ xuất phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội mà còn là quá trình vận dụng nguyên lý của Lênin về VKS vào điều
kiện cụ thể của nước ta.
Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, mặc dù chức năng của
VKSND có sự điều chỉnh: Thực hiện chức năng KSVTTPL và thực hành quyền
công tố theo quy định của Hiến pháp 1959, 1980, 1992, 2013 và các Luật Tổ
chức VKSND 1960, 1981, 1992, 2014; thực hiện chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức
VKSND năm 2014. Song, yêu cầu kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và
trong lĩnh vực dân sự nói riêng luôn đặt ra và được pháp luật ghi nhận.

thực sự phát triển, chưa trở thành công cụ hỗ trợ cho người dân khi phát sinh và
giải quyết tranh chấp (số lượng Luật sư ở nước ta hiện nay chưa đáp ứng được
yêu cầu tham gia tất cả các phiên tòa, so với nhu cầu về dịch vụ pháp lý hiện nay
và xu thế gia tăng nhanh của nhu cầu này trong những năm tới, thì số lượng Luật
sư nước ta còn chưa tương xứng2). Vì thế, trong điều kiện như hiện nay vẫn cần
phải có cơ chế kiểm tra, giám sát bản án, quyết định của Tòa án một cách có hiệu
quả để bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời,
đúng pháp luật, nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự,
đặc biệt là những người yếu thế, không thể tham gia tố tụng và hiểu biết về pháp
luật kém. Một trong những cơ chế hữu hiệu, đó chính là hoạt động Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong TTDS của VKS.
Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn xu hướng các vụ việc tranh chấp dân sự
ngày càng gia tăng về số lượng và độ phức tạp, trong khi đó việc giải quyết của
Tòa án còn nhiều sai sót cần phải có cơ chế giám sát, kiểm sát.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi
mới toàn diện và hội nhập quốc tế, nền kinh tế đang chuyển đổi, các tranh chấp
dân sự phát sinh ngày càng nhiều với tính chất ngày càng phức tạp hơn, thì vấn
đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo đảm việc giải
quyết các vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật là yêu cầu
quan trọng trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, đặc biệt là việc
bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, những người yếu thế và người hiểu
biết pháp luật kém. Thực tiễn cho thấy trong thời gian qua tỷ lệ bản án, quyết

2

Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2011), “Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLTTDS”, ngày 14/3/2011.


15

3

Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2011), “Báo cao giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLTTDS”, ngày 14/3/2011.
4
http://www.nhandan.org.vn/chinhtri/tin-tuc-su-kien/item/26965702-nganh-kiem-sat-nhan-dan-55-nam-xaydung-va-phat-trien.html


16

nhất Tòa án mới có chức năng xét xử giải quyết các vụ việc dân sự. Vì vậy, đòi
hỏi phải có cơ chế kiểm tra, giám sát bản án, quyết định của Tòa án một cách có
hiệu quả.
1.3. Những yếu tố ảnh hƣởng tới kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự
1.3.1. Tính hợp lý của các quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự
Tính hợp lý của các quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự của Viện kiểm sát là yếu tố tác động tới hiệu quả của công tác kiểm
sát án dân sự. Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, mặc dù chức năng
của VKS có sự điều chỉnh: Thực hiện chức năng KSVTTPL và thực hành quyền
công tố theo quy định của Hiến pháp 1959, 1980, 1992, 2013 và các Luật Tổ
chức VKSND 1960, 1981, 1992; 2014 thực hiện chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo Hiến pháp 1993 và Luật Tổ chức
VKSND năm 2014. Song, yêu cầu kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và
trong lĩnh vực dân sự nói riêng luôn đặt ra và được pháp luật ghi nhận.
KSVTTPL trong TTDS xuất phát từ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật, kiểm sát các hoạt động tư pháp (cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên ngoài) và
gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của VKSND.
Trước năm 2004, phạm vi và quyền hạn của Viện kiểm sát đối với kiểm

huyện cũng thiếu dữ liệu cần thiết, không thể đủ cơ sở tin cậy để phát hiện sai
lầm, vi phạm của Toà án. Trên phương diện cải cách tư pháp, nếu yêu cầu tăng
cường vai trò của VKS thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp thì
việc hạn chế quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự có thể dẫn tới
Viện kiểm sát không thể thực hiện có hiệu quả chức năng của mình.
1.3.2. Chủ trương cải cách tư pháp của Đảng về chức năng, nhiệm vụ
của Viện Kiểm sát trong tố tụng dân sự
Chủ trương cải cách tư pháp của Đảng về chức năng, nhiệm vụ của Viện
Kiểm sát trong tố tụng dân sự là yếu tố thúc đẩy hoạt động kiểm sát án dân sự
của Viện kiểm sát. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, mà nội dung cốt lõi chính là sự quản lý nhà
nước và xã hội bằng pháp luật, đòi hỏi sự tuân theo pháp luật triệt để của các cơ
quan nhà nước, các tổ chức và công dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta (bổ sung, phát triển năm 2011)
và Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X trình Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân...Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có


18

sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức,
quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, tăng cường các cơ chế giám sát. Qua sơ kết 03 năm thực hiện Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020, Bộ chính trị đã chỉ rõ: Một trong những nguyên nhân làm cho
chất lượng xét xử các vụ án dân sự thời gian qua còn thấp là do chưa có cơ chế
giám sát, kiểm sát hiệu quả việc giải quyết các vụ án này. Kết luận số 79-KL/TW
ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động Toà án,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status