DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

S GIO DC V O TO H NI
TRUNG TM GDKTTH S 5

BO CO TNG KT KHOA HC

ti:

DạY HọC NGHề PHổ THÔNG THEO
TIếP CậN SƯ PHạM TƯƠNG TáC ở CáC TRUNG TÂM GDKTTH
TRÊN ĐịA BàN THàNH PHố Hà NộI
Mó s: 01X-12/06-2015-2

H NI - 2016


NỘI DUNG BỔ SUNG BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIỆM THU CẤP CƠ SỞ
TT
1
2
3
4
5
6
7
8

Nội dung
Cấu trúc của SPTT và mối quan hệ của các yếu tố
Đặc trưng của dạy học NPT theo tiếp cận SPTT
Chương 1: Cơ sở lý luận

tiếp cận sư phạm tương tác ở trung tâm GDKTTH
3/ Biện pháp xây dựng môi trường học tập NPT

72, 77, 78, 82, 83, 85

theo tiếp cận SPTT ở trung tâm GDKTTH
4/ Biện pháp tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học 85, 87, 88
tập NPT theo tiếp cận SPTT ở trung tâm GDKTTH


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDKTTH

: Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

QTDH

: Quá trinh dạy học

PPDH

: Phương pháp dạy học

SPTT

: Sư phạm tương tác

GQVĐ

: Giải quyết vấn đề


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước hiện nay đang đặt ra
những yêu cầu mới cho giáo dục là đào tạo một nguồn nhân lực chất lượng cao thích
ứng với nền kinh tế thị trường, có năng lực hành nghề, năng lực sáng tạo để đáp ứng
được nhu cầu xã hội và việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông. Nghị quyết
số 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh: “ Phát
triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực
tiễn; giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội ”. Sự
đổi mới rõ nhất được khẳng định là chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát
triển toàn diện năng lực và phẩm chất ở người học.
Nghị quyết 29-NQ/TW cũng đã xác định “mục tiêu giáo dục phổ thông tập
trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống,
ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Như vậy, mục
tiêu giáo dục phổ thông là phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ở người học gắn
với bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Điều này khẳng định
mục tiêu định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Hơn nữa, chất lượng giáo
dục toàn diện được nhấn mạnh đặc biệt vào giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức,
lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào
thực tiễn. Định hướng trên đã chỉ rõ những yêu cầu về giáo dục lý tưởng, đạo đức,
truyền thống và năng lực, kỹ năng thực hành vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc
đổi mới ở mục tiêu sẽ đặt ra những sự chuyển đổi mạnh mẽ không chỉ đối với chương
trình giáo dục phổ thông nói chung, mà cả tổ chức nhà trường và cách thức dạy học.
Luật giáo dục năm 2005 (Điều 27, chương III) phần đề cập đến mục tiêu của

sáng tạo trong lao động nghề nghiệp đòi hỏi GV phải vận dụng tổ hợp nhiều phương
pháp dạy học khác nhau và biến đổi các phương pháp dạy học ấy tùy theo nội dung
của từng bài học để tích cực hóa hoạt động học tập của HS.
Việc tổ chức hoạt động dạy học NPT ở các trung tâm GDKTTH-Hà Nội hiện
nay chủ yếu để 100% HS có thể tham gia và có được điểm khuyến khích khi thi tuyển
sinh (xét tuyển) vào lớp 10 hoặc thi tốt nghiệp THPT mà một số các nhà giáo dục gọi
đó là cái phao cho HS trung bình, yếu trong các kỳ thi nêu trên. Vì vậy, phải dạy học
NPT như thế nào để nâng cao tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS, nâng cao chất
lượng dạy học NPT đang là điều trăn trở cho các nhà quản lý giáo dục và các GV bộ
môn ở các trung tâm GDKTTH.
Quan điểm đổi mới trong tư duy và thực tiễn giáo dục của chúng ta trong suốt
vài thập kỷ qua là hướng vào người học, phát huy tính chủ động, tích cực của người
học. Những đổi mới về chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trong các nhà
trường đã có những dấu hiệu tích cực nhưng trong dạy học NPT còn nhiều hạn chế và
chưa đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, học sinh chưa hứng thú và chưa thực
sự nhận thấy giá trị của nó.
Sư phạm tương tác là một hướng tiếp cận dạy học hiện đại, cơ bản, năng động,
mang tính hệ thống và khoa học dựa trên sự tương tác qua lại giữa 3 yếu tố cơ bản là
người dạy, người học và môi trường. Trong đó, yếu tố người học luôn được đề cao vai trò
tự giác, tích cực, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình dưới vai trò
tổ chức, định hướng của người dạy; yếu tố môi trường là một yếu tố động, nó không chỉ
2


làm ảnh hưởng đến người dạy, người học, điều quan trọng nó làm thay đổi người học,
người dạy nhằm đảm bảo sự thích nghi của người dạy, người học với môi trường, và
ngược lại chính người dạy, người học cũng làm thay đổi môi trường. Với hướng tiếp cận
này, hy vọng sẽ tìm ra những biện pháp tổ chức dạy học NPT có hiệu quả.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Dạy học
nghề phổ thông theo tiếp cận sư phạm tương tác ở các trung tâm Giáo dục kỹ thuật

7.1. Các hướng tiếp cận chủ yếu trong đề tài
+ Tiếp cận hệ thống: Quá trình dạy học nghề phổ thông là một hệ thống toàn
vẹn bao gồm các thành tố có quan hệ mật thiết với nhau như: mục tiêu, nội dung,
3


phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, lực lượng dạy học (người dạy và người
học), môi trường và kết quả dạy học. Các thành tố của quá trình dạy học không tồn tại
độc lập mà tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Sự vận động, phát triển của thành
tố này là cơ sở cho sự vận động và phát triển của các thành tố khác và ngược lại. Mặt
khác, quá trình dạy học là một hệ thống con trong hệ thống KT-XH, sự vận động và
phát triển của quá trình dạy học chịu tác động môi trường KT-XH bên ngoài.
Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp là một bộ phận trong hệ thống GDQD và
hệ thống KT-XH, có quan hệ mật thiết với giáo dục phổ thông, trung cấp chuyên
nghiệp, dạy nghề, giáo dục đại học và với hệ thống sản xuất - dịch vụ của đất nước
trong quá trình CNH, HĐH. Mặt khác, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp lại là một
hệ thống con, gồm các thành tố là các tổ, phòng, ban cho đến các cá thể. Chất lượng
dạy học của trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp phụ thuộc vào chất lượng của từng
thành tố trong quá trình dạy học, trong nhà trường, đồng thời chịu ảnh hưởng của các
thành tố khác bên ngoài nhà trường.
+Tiếp cận lịch sử - lôgíc: Đổi mới, đặc biệt đổi mới dạy học là một sự kế thừa.
Đổi mới dạy học ở các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp nhằm đáp ứng yêu cầu về
nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong bối
cảnh mới của đất nước. Tuy nhiên, để đổi mới cần kế thừa những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc về giáo dục và phát triển những thành tựu của giáo dục nghề nghiệp đã đạt
được trong quá khứ.
Bên cạnh đó, mọi công việc đổi mới cần có điểm xuất phát. Để đổi mới cần
đánh giá rõ được hiện trạng, xác định được những mặt mạnh để kế thừa, những mặt
yếu để khắc phục, nắm bắt được thời cơ để tranh thủ và biết được các nguy cơ có thể
xẩy ra để có giải pháp khắc phục.

hiện của người học để tổ chức đào tạo, kiểm tra - đánh giá và cấp văn bằng chứng chỉ.
Nghiên cứu và vận dụng các quy luật quy luật cung - cầu, quy luật giá trị và
quy luật cạnh tranh vào dạy học trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh... các văn kiện, tài liệu khoa học, Nghị quyết của Đảng, Nhà
nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở
lý luận cho đề tài nghiên cứu.
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Bằng các phương pháp quan sát,
điều tra, trò chuyện, nghiên cứu sản phẩm, tổng kết kinh nghiệm, chuyên gia, thực
nghiệm sự phạm; các phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thực
trạng về dạy học nghề phổ thông ở các trung tâm GDKTTH trên địa thành phố Hà Nội
và minh chứng cho mức độ cần thiết, khả thi của quy trình dạy học nghề phổ thông
theo tiếp cận sư phạm tương tác.
+ Các phương pháp hỗ trợ khác: Bằng việc sử dụng một số thuật toán của
toán học thống kê, một số phần mềm tin học. Các phương pháp này được sử dụng
với mục đích xử lý và trình bày các số liệu và để kiểm chứng độ tin cậy của các
kết quả nghiên cứu.

5


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN SƯ
PHẠM TƯƠNG TÁC Ở CÁC TRUNG TÂM
GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới bước vào nền kinh tế hậu công nghiệp, cạnh tranh bằng tri thức,
và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực chất lượng cao
là nguồn lực quan trọng nhất của một đất nước. Giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ thành

6


theo quy luật và cuối cùng cho một kết quả nhất định. Sự tương tác của các nhân tố
trong quá trình dạy học được các nhà giáo dục nghiên cứu từ rất sớm.
Mối quan hệ thầy - trò trong dạy học đã được các nhà giáo dục trên thế giới
quan tâm nghiên cứu từ rất lâu như nhà giáo dục Nga N.V.Savin, T.A.Ilina,
B.P.Eexipốp, M.a.Danhilop, N.G.Kazanxki, Iu.Kbabanxki,..với hệ thống lý thuyết dạy
học đã xác định tính chất nhiều nhân tố của hoạt động dạy học và mối quan hệ qua lại
giữa các nhân tố, đặc biệt nổi lên mối quan hệ của nhân tố người dạy và người học,
tam giác sư phạm: người dạy-người học-nội dung.
Đến những năm 70 của thế kỷ XX, nhóm tác giả Guy Brouseau, Claude
Comiti…tại viện đào tạo giáo viên (IUFM) ở Gremnoble (Pháp) đưa ra thêm yếu tố
môi trường trong cấu trúc hoạt động dạy học và bao gồm 4 nhân tố: người học-người
dạy-nội dung-môi trường. Yếu tố môi trường là những tình huống dạy học do người
dạy tạo ra cho người học chiếm lĩnh nội dung dạy học,..
Nhóm tác giả Jean-Mare Denomme và Madelein Royvới với tác phẩm “Tiến tới
một phương pháp sư phạm tương tác” đã đề cập tới trường phái sư phạm tương tác
cùng với nền tảng lý luận của nó. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả nói rõ vị trí vai trò
của người học-người dạy-môi trường và nhấn mạnh yếu tố môi trường trong mối quan
hệ tương tác với người dạy, người học. Môi trường ở đây được tác giả xem xét rất toàn
diện, kỹ lưỡng và đề cao sự ảnh hưởng của môi trường sẽ tạo cơ hội để người dạyngười học tự biến đổi, điều chỉnh, thích nghi.
Theo “Phương pháp luận dạy học tương tác” của tác giả David McQuoid –
Mason cho rằng: một bài giảng có hiệu quả cần nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ là
diễn giảng mà bao gồm cả phương pháp dạy học (PPDH) tương tác và để sử dụng
PPDH tương tác cần phải biết dùng những chiến lược tương tác, chẳng hạn: GV
phải nắm được những kỹ năng và kỹ thuật trình bày, kỹ thuật đặt câu hỏi, đặt ra các
mục tiêu và mục đích rèn luyện, phát triển nội dung rèn luyện theo cấu trúc và có
trình tự,…
Trong tác phẩm “Học tập tương tác và sự cạnh tranh của học sinh trong dạy

nghề phổ thông theo tiếp cận sư phạm tương tác cho học sinh phổ thông.
Ở Việt Nam, bước vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, cơ cấu nền kinh tế
Việt Nam đã có những thay đổi, giáo dục kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp-dạy nghề
mới được bắt đầu đưa vào chương trình dạy học.
Vào những năm 70, một nhóm nghiên cứu do giáo sư tiến sĩ Phạm Tất Dong
cùng các cộng sự của ông đã chính thức nghiên cứu vấn đề về hứng thú và khuynh
hướng nghề nghiệp của học sinh (HS) phổ thông để đưa ra chương trình hướng nghiệp
dạy nghề chính khóa cho các trường phổ thông. Bên cạnh đó, vấn đề về động cơ chọn
nghề, hứng thú nghề và khả năng thích ứng nghề của HS học nghề cũng được Phó giáo
sư tiến sĩ Đặng Danh Ánh cùng các cộng sự đưa ra nghiên cứu theo một hướng xây
dựng phòng truyền thống trong các cơ sở dạy nghề, đồng thời soạn thảo tài liệu hướng
nghiệp cho trường phổ thông. Trong giai đoạn này có các công trình nghiên cứu về
hướng nghiệp dạy nghề và công tác quản lý của các tác giả như: Phạm Tất Dong,
Phạm Huy Thụ, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quan Uẩn, Hà
Thế Tuyền, Lưu Xuân Mới, Nguyễn Viết Sự, . . . đã tạo nền tảng cho hoạt động dạy
nghề phổ thông
Tác giả Đặng Danh Ánh đã phân tích sự cần thiết phải đổi mới về cấu trúc, nội
dung, phương pháp trong chương trình giáo dục hướng nghiệp hiện nay, bắt đầu từ
những nội dung có tính tổng quát rồi mới đến các chuẩn kiến thức kỹ năng và thái độ
của môn học mà HS cần phải đạt được trong quá trình học tập nhằm đảm bảo tính liên
thông và đồng bộ các kiến thức trong chương trình, tránh được tình trạng cái cần giảng
dạy thì không có, còn cái có rồi thì lặp lại.
Trong công trình khoa học: “Hoàn thiện giáo dục lao động – kỹ thuật và nghề
8


nghiệp ở nhà trường phổ thông Việt Nam” của tác giả Đức Xước (Chủ nhiệm đề tài)
đã đề cập đến một số khía cạnh như: “Giải quyết các điều kiện dạy kỹ thuật phổ thông,
dạy kỹ thuật ứng dụng ở các cấp học của bậc trung học phổ thông.
Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã nghiên cứu một cách có hệ thống phương pháp

toàn quốc tổ chức bồi dưỡng, tập huấn GV dạy học theo tiếp cận SPTT như: Đại học
quốc gia Hà Nội, ĐHSP Hà Nội, Cao đẳng sư phạm thành phố Hồ Chí Minh,..Quan
điểm SPTT bước đầu mang lại kết quả nhất định, đóng góp cho sự đổi mới của giáo
dục Việt Nam.

9


Trong các công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học, các tác giả đã xác
định các thành tố cơ bản của hoạt động dạy học và sự tác động qua lại lẫn nhau
giữa chúng theo những quy luật và nguyên tắc nhất định. Tác giả Đặng Thành
Hưng trong tác phẩm “Dạy học hiện đại, lý luận, biện pháp, kỹ thuật” đã tập trung
phân tích các mối quan hệ phát triển theo xu hướng tăng cường sự tương tác, hợp
tác và cạnh tranh, tham gia và chia xẻ trong dạy học hiện đại thông qua các quan hệ
thầy-trò, trò-trò, cá nhân-nhóm, nhóm-cả lớp và môi trường học tập (11) và tác giả
đã phân tích, khai thác những tính năng, đặc điểm kỹ thuật của các phương tiện dạy
học thông dụng nhất trong nhà trường (ở mọi bậc học và mọi lứa tuổi người học)
trong tài liệu “Tương tác hoạt động Thầy-Trò trên lớp học”.
Trong cuốn “Phương pháp dạy và học đại học” tác giả Lê Khánh Bằng chỉ ra
rằng: “Tương tác không phải là một quá trình đơn giản mà là một hiện tượng đa diện.
Do đó, có thể có rất nhiều hình thức hợp tác như học nhóm, nghiên cứu theo nhóm,
thảo luận ở tổ, lớp, ở khối lớp,…, tương tác giữa người dạy và người học, tương tác
trong nhóm cùng độ tuổi, trình độ.
Gần đây nhất, một số nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh,
Nguyễn Thành Vinh, Vũ Lệ Hoa, Nguyễn Thị Thanh Hằng, trong luận án tiến sỹ đã
xây dựng mô hình dạy học tương tác cho những đối tượng người học khác nhau. Các
tác giả đã phân tích sâu sắc vai trò của người học, người dạy và môi trường trong các
mối quan hệ tương tác giữa chúng. Mô hình này bước đầu đặt cơ sở lý luận và thực
tiễn cho việc nghiên cứu và vận dụng quan điểm SPTT trong các trường học Việt Nam
(phụ lục)

động học tập, thực hành, họ được tương tác với thầy với bạn, với các đối tượng nhận
thức, với các tài liệu học tập, các phương tiện nghe nhìn, được sử dụng các thiết bị kỹ
thuật, được trực tiếp làm thí nghiệm nghiên cứu, thực hành, được trải nghiệm trong
thực tế nghề nghiệp qua đó đạt được các mục tiêu học tập nghề phổ thông.
Trong môi trường sư phạm tương tác giáo viên là người đồng hành định hướng,
hướng dẫn người học hợp tác, chia sẻ với các bạn; người học được trải nghiệm thực tế
qua đó tính tích cực được phát huy cao độ.
1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC
1.3.1. Cơ sở khoa học của dạy học theo tiếp cận sư phạm tương tác
1.3.1.1. Cơ sở sinh lý học
* Bộ máy học
Sự phát triển của ngành sinh học nói chung và khoa học thần kinh nói riêng,
ngày càng khẳng định hệ thống thần kinh là nơi ưu tiên phát triển tri thức. Các kết quả
12


nghiên cứu của ngành khoa học này đã chỉ ra ảnh hưởng lớn lao đến khoa học giáo
dục. Khoa học thần kinh cho chúng ta một cách nhìn toàn diện, một cách hiểu đầy đủ
trí não của con người trong quá trình nhận thức. Đó là cơ chế vận hành hệ thống thần
kinh mà sư phạm tương tác gọi là bộ máy học. Từ đó chúng ta biết được cơ chế của
người học và cách dạy thích ứng với sự vận hành tự nhiên của hệ thống thần kinh ở
người học.
Bộ máy học là hệ thống thần kinh chuyên biệt để tiếp nhận, xử lý thông tin và
đưa ra các phản ứng thích hợp. Nó là cơ sở của việc học ở mỗi con người. Bộ máy học
bao gồm 2 phần lớn: hệ thống thần kinh ngoại biên (năm giác quan và nơron) và hệ
thống thần kinh trung ương trải qua quá trình tiến hóa của các thời kỳ khác nhau từ bò
sát thời kỳ động vật có vú đến não người. Bộ máy học được sơ đồ hóa như sau:

5 giác quan: thị giác, thính giác, khứu
giác, xúc giác, vị giác

xúc, thu lượm, ghi và khai thác tri thức: thông tin các giác quan thu được truyền thẳng
đến vùng limbic (rào cản thứ nhất). Vùng limbic là trung tâm của sự hứng thú, có khả
năng điều khiển về tình cảm. Chính tính cảm xúc này sẽ thúc đẩy tiếp nhận hay từ chối
thông tin tùy theo lợi ích hay hứng thú. Nếu vùng này đánh giá là thực sự có lợi ích thì
sẽ phát triển mong muốn mà sau đó mong muốn này sẽ là nguồn hứng thú để chuyển
sang hành động. Khi vượt được rào cản thứ nhất, thông tin được truyền tiếp đến bán
cầu não phải - nơi tiếp nhận và chứa đựng những thông tin hỗn hợp gồm thông tin
nhận được từ bên ngoài (cảm giác về những kích thích bên ngoài) và thông tin đã được
lưu trữ (những trải nghiệm, kinh nghiệm - cái mà người học đã có). Thông tin từ bán
cầu não phải để tới được bán cầu não trái (quá trình chuyển từ cái không đồng nhất
sang cái đồng nhất), chúng phải vượt qua rào cản thứ hai đó là trạng thái “T”. Trạng
thái “T” đạt được khi người học tìm được mối quan hệ giữa thông tin nhận được với
những gì đã biết. Cuối cùng khi đã vượt qua được trạng thái “T”, thông tin sẽ được bán
cầu não trái xử lý (đưa ra kiến thức mới, hình thành khái niệm).
Đây là cơ chế học của bộ máy học ở tất cả những người học bởi việc học của
con người có bản chất tự nhiên là dựa vào hệ thống thần kinh của người học. Tìm
hiểu bộ máy học và hoạt động của nó cho chúng ta thấy bộ máy học không đơn
thuần là cấu trúc bao gồm: giác quan, nơron, não nguyên thủy, não cổ và bán cầu
não mà các yếu tố đó luôn có mối liên hệ thường xuyên, liên tục, hướng tới việc thu
lượm và sử dụng tri thức.
* Vận dụng vào quá trình dạy học
Bộ máy học không đơn thuần là cấu trúc bao gồm các yếu tố: giác quan, nơron,
não nguyên thủy, não nguyên thủy, não cổ và bán cầu não mà các yếu tố đó luôn có
mối liên hệ thường xuyên, liên tục, hướng tới việc thu lượm và sử dụng tri thức. Vận
dụng vào trong quá trình dạy học đối với cả người dạy và người học để có cách xử lý
phù hợp với hoạt động của hệ thần kinh sẽ đem lại hiệu quả cao.
Các giác quan trong quá trình lĩnh hội kiến thức
Các giác quan là cổng thông tin đầu tiên cho tiếp nhận thông tin và học tập hiệu
quả. Để tiếp thu kiến thức ta phải sử dụng các cơ quan cảm giác. Các giác quan cần
được kích hoạt cả từ người học và người dạy để chúng hoạt động tốt nhất cho mục

được nhiệm vụ học tập, họ đặt mình trong tư thế chủ động sãn sàng trong quá trình học
tập. Khi có hứng thú người học dễ dàng say mê môn học đó, tự tin, chủ động chiếm
lĩnh kiến thức mới, tích cực, sáng tạo khi giải quyết các nhiệm vụ học tập. Để làm
được điều đó cần có sự tương tác giữa người học và người dạy. Người dạy tổ chức cho
người học tự phát hiện ra cái mới, tạo ra mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức của người
học (tri thức mới) với trình độ hiện có của người học (tri thức cũ) để tự người học giải
quyết mâu thuẫn.
Não người trong việc lĩnh hội tri thức
Quá trình học được hoàn thành trong bộ não nơi mà bán cầu phải và bán cầu
trái vừa thực hiện vai trò chức năng độc lập lại vừa bổ sung cho nhau. Bán cầu phải là
trung tâm giác quan, không đồng nhất và dị biệt, ở đó tất cả các thu lượm của người
học luôn ở trạng thái một tiềm năng sẵn sàng phục vụ. Tính không đồng nhất của bán
cầu phải khi được thực hiện hóa, có xu thế hướng về một đồng nhất mới, một sự tương
đồng được sản sinh trong bán cầu trái. Tuy nhiên, việc chuyển từ cái đã biết sang cái
mới biết không thể thực hiện được khi bán cầu phải không đạt tới ngưỡng dữ liệu đầy
đủ để tạo nên một trật tự mới, đó là trạng thái “T”, ở đó thông tin không chỉ còn là cái
đã biết và cái chưa biết, mà còn phải biểu đạt tri thức cũ (cái đã biết) làm cơ sở, nền
15


tảng và liên quan đến tri thức mới (cái chưa biết). Chỉ có như thế, mâu thuẫn cơ bản
này mới trở thành động lực học tập cho người học - chức năng thứ ba của não bộ.
Trong quá trình học tập, người học nhận được các ký hiệu báo trước của trạng
thái thứ ba khi nhận thấy rằng đã tìm ra giải pháp vấn đề. Chính lúc này, bán cầu trái
được thực hiện hóa và nhận ra tri thức mới. Vào thời điểm “T” này, người học cảm
thấy hứng thú học tập và khám phá. Người học là người thầy duy nhất của bộ não của
mình, do đó người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong
quá trình học. Người học cần được hiểu bộ máy học của mình để có ý thức về đường
đi trong việc học tập và có điều chỉnh phù hợp bằng cách kích thích các giác quan và
trí nhớ từ những cái đã biết và tiếp tục tìm kiếm đếu khi tìm được giải đáp.



toàn mới so với hệ thống bố mẹ. Ở từng cá nhân, phương diện này đều có tính sáng
tạo. Hệ thống E trong mỗi cá nhân dựa vào phản ứng của khứu não (hệ thống limbic),
hệ thống này được thấm đầy tình cảm, xúc động và trực giác biểu hiện qua ngôn ngữ
hoặc những hành động bắt chước. Đó là hệ thống muốn học mà không cố gắng, thích
chơi hơn lao động, không để ý tới tương lai. Hệ thống E thường đưa ra các hoạt động
gắn liền với vui chơi giải trí và rất thích những cuộc chơi hứng thú.
Cũng giống như hệ thống bố mẹ, người ta nhận ra được những mặt tích cực và
tiêu cực bên trong của hệ thống trong hệ thống trẻ em. Đứa trẻ đã lớn lên trong một
môi trường chứa đựng những thái độ tích cực và cởi mở: người dạy thể hiện như một
hệ thống E thích nghi và tự do. Ngược lại, người mà được giáo dục dưới ảnh hưởng
của hệ thống P chỉ trích hoặc đã trải qua các sự kiện rắc rối sẽ phát triển ở người đó
một cách không có ý thức hệ thống E tiêu cực: người dạy thể hiện sự phục tùng vào
các sự kiện của cuộc sống, đó là đứa trẻ phục tùng hoặc bởi một sự nổi loạn có hệ
thống, đó là đứa trẻ nổi loạn.
Hệ thống người lớn hoặc cái tôi (hệ thống A)
Hệ thống A ám chỉ khả năng phân biệt bắt buộc phải lựa chọn giữa các xu
hướng. Điều này khẳng định sự trưởng thành của cá nhân về ý chí, sự đấu tranh động
cơ và do đó tương ứng với cái tôi của mỗi người.
Đối với mỗi cá nhân, hệ thống A là hạt nhân chính của nhân cách. Nó thiết lập
sự cân bằng giữa hệ thống P và E như một trọng tài và phối hợp các hành động của cá
nhân theo quyết định của trọng tài. Cái tôi tạo nên một sự khác nhau giữa từng người
và duy trì các mối quan hệ mang tính cách giữa các cá nhân.
Theo quan điểm SPTT, ba hệ thống đó phải được đánh giá ngang nhau. Mỗi hệ
thống biểu lộ trong những tình huống được ưu tiên và tạo ra những sắc thái đa dạng
của nhân cách.
Mối quan hệ giữa ba hệ thống
Theo Beme, ba hệ thống P, E, A trao đổi và tăng cường cho nhau. Hệ thống P
truy hại củng cố hệ thống E phục tùng hay hệ thống E nổi loạn cũng như hệ thống P

khoa học
- SPTT là cách tiếp cận cơ bản đối với hoạt động dạy và học. Hoạt động dạy học diễn ra trên nền tảng cơ bản vững chắc là dựa trên bản chất tự nhiên của ba yếu tố
người học, người dạy và môi trường. Hệ thống thần kinh giúp con người tư duy và
người học sử dụng một cách thích đáng hệ thần kinh của mình để tiếp nhận kiến thức.
Người học học theo cơ chế vận hành của bộ máy học của chính mình.
Trong vai trò của mình, người dạy truyền thụ kiến thức bằng việc giúp người
học sử dụng tối đa hệ thần kinh của bản thân để chiếm lĩnh tri thức mới. Người dạy
cần phải luôn tôn trọng hoạt động của bộ máy học ở người học và bằng cách đó người
dạy mới mang lại thành công trong dạy học. Yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng một
cách trực tiếp hay gián tiếp đến người dạy và người học trong hoạt động của họ.
- SPTT là cách tiếp cận mang tính năng động, sử dụng nhiều yếu tố năng động
của ba tác nhân. Cách tiếp cận của hoạt động SPTT mang tính năng động vì nó dựa
trên hoạt động của hệ thống thần kinh con người. Đây là một hệ thống đang sống và
luôn hoạt động. Vì vậy, khi người học học và cố gắng hiểu một điều gì đó có nghĩa là
cả hệ thống thần kinh của người học đang hoạt động, cơ thể đó hoàn toàn năng động.
Người dạy cũng hoạt động năng động. Người dạy phải sử dụng nhiều phương pháp
dạy học một cách linh hoạt giúp người học học tốt nhất. Môi trường tác động tích cực
hay tiêu cực đến hoạt động dạy học. Những tác động đó có thể chủ động tạo ra những
yếu tố thuận lợi hay không thuận lợi trong hoạt động của người dạy và người học.
- SPTT là cách tiếp cận mang tính hệ thống. Các vấn đề được xem xét không
tách biệt mà trong một tổng thể các bộ phận khác nhau có mối quan hệ phụ thuộc
tương hổ. Tiếp cận có hệ thống thể hiện ở chỗ SPTT được xây dựng trên một nguyên
18


tắc và suy ra những hệ quả loogic. Người học là tác nhân chính trong hoạt động học
nên phải có trách nhiệm về hoạt động của mình, kích hoạt hệ thống thần kinh và tìm ra
hứng thú để học. Người dạy, môi trường với vai trò là các tác nhân giúp đỡ, tạo điều
kiện cho người học hướng tới mục đích. Mối quan hệ tương tác giữa người dạy, người
học và môi trường góp phần tạo nên hiệu quả hoạt dộng sư phạm.

người học, người dạy và môi trường. Ba tác nhân này luôn tác động qua lại lẫn nhau,
xâm nhập vào nhau, mỗi tác nhân hoạt động và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác
nhân kia, có ảnh hưởng đến kết quả học tập. Chính sự tương tác này làm tăng động lực
cả người học và người dạy, nó khắc phục tính chất thụ động, xuôi chiều, rập khuôn lâu
19


nay của dạy học. Sự tương tác này phân định rõ hơn vai trò chức năng riêng biệt của
người học và người dạy, nhưng đều hướng tới sư phát triển ở người học và thực hiện
có hiệu quả mục tiêu dạy học ngày nay. Muốn làm được điều này, người dạy không
chỉ thực hiện nội dung công việc theo kế hoạch cố định mà điều cốt lõi tìm ra cách
thức, thủ thuật kích thích người học hưởng ứng, có nhu cầu, hứng thú và trách nhiệm
cao trong học tập. Người dạy với chức năng người hướng dẫn, giúp đỡ, tổ chức cho
người học tương tác với nhau trong sự cạnh tranh, hợp tác thông qua nội dung học tập
theo hướng mở, linh động. Đồng thời người dạy luôn chú ý tạo ra cho người học luôn
hướng đến kho tàng tri thức rộng mở, phong phú; phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng,
năng lực của từng học sinh để thiết lập mối quan hệ tương tác thông qua các phương
tiện dạy học, tài liệu học tập,…
Như vậy trong dạy học, SPTT thể hiện những ưu điểm vượt trội với tác nhân
định hướng là người dạy và tác động của môi trường giúp người học không chỉ tìm
kiếm được tri thức mới, mà còn tìm ra cách thức và con đường đi đến tri thức đó.
1.3.3. Cấu trúc của sư phạm tương tác
Cấu trúc của SPTT là xem xét cơ chế tương tác trong mối quan hệ của 3 yếu tố:
người học - người dạy - môi trường và các yếu tố này tương tác với nhau nhằm đạt
mục đích học tập đề ra.
1.3.3.1. Người học
Người học trong SPTT được hiểu là người đi học, không phải là người được
dạy. Với năng lực cá nhân, người học tham gia vào quá trình thu nhận kiến thức mới
với bộ máy thần kinh của mình. Người học trước hết là người tìm cách học và cách
hiểu. Từ “người học” được dùng trong SPTT bao hàm tất cả đối tượng đi học.

- Phân bố nội dung môn học một cách hài hòa
- Xác định mục tiêu dạy học.
- Xác định phương pháp dạy học.
- Lựa chọn hình thức đánh giá
Các bước lập kế hoạch dạy học có quan hệ biện chứng, tương hỗ lẫn nhau.
Những yêu cầu chung này sẽ được cụ thể hóa vào nội dung trong từng môn học.
Người dạy là người đồng hành, giúp đỡ người học trong quá trình dạy học. Với
mong muốn tạo ra không khí học tập tốt, người dạy phải dạy cái mà người học cần,
nhu cầu xã hội đòi hỏi chứ không phải dạy theo cái người dạy có, mang đến kiến thức
và kinh nghiệm của mình cho người học, cùng hợp tác với người học khám phá tri
thức và chia sẻ khó khăn với người học trong quá trình dạy học. Người dạy đặt mình
vào vị trí người học, cảm thông các vấn đề người học vướng mắc và trợ giúp người
học tìm ra phương án giải quyết vấn đề, đồng thời luôn tạo môi trường thân thiện trong
hoạt động học của người học, sẵn sàng tư vấn trong học tập nhưng không thay thế
người học giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, người dạy có trách nhiệm dự báo và phát
hiện các khó khăn của người học và xây dựng chiến lược hỗ trợ cho người học hướng
tới mục đích.
Người dạy là người tạo điều kiện thuận lợi
Bên cạnh vai trò là người hướng dẫn, người dạy giúp người học kiên trì, bền bỉ
đường hướng học tập đúng đắn trong suốt quá trình học tập. Thậm chí trong những lúc
cần thiết, người dạy luôn tìm cách trợ giúp người học định hướng lại khi cần thiết, làm
cho việc học trở nên dễ dàng hơn.
Trong vai trò người tạo điều kiện, người dạy sẽ tập trung vào tạo động cơ cho
người học, làm cho người học hứng thú tham gia vào dạy học và tìm các chiến lược
thích hợp để tất cả các người học có thể thực hiện được mọi yêu cầu của việc học đã
được đề ra, đảm bảo sự thành công của người học. Do đó người dạy sẽ lựa chọn
phương pháp mà anh ta làm chủ được, phù hợp với khả năng từ sư phạm hứng thú và
sư phạm thành công.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status