MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHĂM
SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN Ở CÁC HUYỆN PHÍA
TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Những vấn đề chung về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
1.2. Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tây
thành phố Hà Nội
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHĂM SÓC
SỨC KHỎE SINH SẢN Ở CÁC HUYỆN PHÍA TÂY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Tổng quan tình hình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
ở các huyện phía Tây thành phố Hà Nội thời gian qua
2.2. Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về phát triển
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các huyện phía Tây thành phố
Hà Nội
Chương 3. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHĂM SÓC
SỨC KHỎE SINH SẢN Ở CÁC HUYỆN PHÍA TÂY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm cơ bản đẩy mạnh phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản các huyện phía Tây thành phố Hà Nội
3.2. Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản các huyện phía Tây thành phố Hà Nội
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHAO
PHỤ LỤC
3
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển KT - XH của đất nước. Nhận thức được vấn
đề đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định:
“Tập trung phát triển mạnh hệ thống chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất
lượng dịch vụ y tế…Thực hiện tốt chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe,
tầm vóc con người Việt Nam… Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế
hoạch hóa gia đình…” [21].
Phía Tây thành phố Hà Nội gồm 14 quận, huyện, thị xã của Hà Tây cũ
là nơi có tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa nhanh, nhiều khu
công nghiệp, khu đô thị, du lịch và dịch vụ đã và đang phát triển mạnh. Bên
cạnh dân số của từng địa phương, tốc độ tăng dân số cơ học đang có xu hướng
ngày càng tăng. Chính vì vậy, nhu cầu khám chữa bệnh nói chung và
CSSKSS ở khu vực này rất lớn. Trên cơ sở nhận thức đúng vị trí, vai trò quan
trọng của công tác chăm sóc sức khỏe nói chung và CSSKSS nói riêng cho
người dân, thời gian qua lãnh đạo, chính quyền Thành phố và các quận,
huyện, thị xã trên địa bàn phía Tây thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách đồng thời tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động
3
chăm sóc sức khỏe và CSSKSS cho người dân thành phố nói chung và ở phía
Tây thành phố Hà Nội nói riêng. Đặc biệt, ngành y tế đã rất quan tâm triển
khai nhiều biện pháp, đầu tư kinh phí cũng như mở rộng xã hội hóa dịch vụ
CSSKSS, do đó, công tác này đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng
và đáp ứng khá kịp thời nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, quá trình phát triển
dịch vụ CSSKSS cho người dân Thành phố nói chung và ở các quận, huyện,
thị xã phía Tây thành phố Hà Nội nói riêng đã và đang còn bộc lộ những hạn
chế, yếu kém, bất cập.
Nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát: Phát triển thể
lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới vấn đề nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; từng bước nâng cao
thức và việc sử dụng kiến thức trong hoạch định chính sách đang được Liên
minh nghiên cứu chính sách và hệ thống y tế xác định là một vấn đề chiến
lược quan trọng trong việc cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe ở những
quốc gia có thu nhập thấp.
Báo cáo nghiên cứu “Thực trạng quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà
mẹ tại Việt Nam” (2014) hay nghiên cứu HESVIC là một nghiên cứu phối
hợp đa phương với sự tham gia của nhiều đối tác, được triển khai trong vòng
3 năm (từ tháng 7/2009 đến tháng 6/2012) dưới sự tài trợ của Uỷ ban Châu
Âu theo chương trình khung số 7. Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu tổng
thể tại Việt Nam với mục tiêu nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý và triển khai
các chính sách trong lĩnh vực sức khoẻ bà mẹ. Nghiên cứu áp dụng phương
pháp tiếp cận tổng hợp để đánh giá được thực trạng thực hiện chính sách
trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ (CSSKBM), qua đó, sẽ đánh giá
được tác động của các chính sách đến khả năng tiếp cận công bằng với các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ. Nghiên cứu cũng tìm hiểu tác động của các
yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ y tế thông qua phân tích bối cảnh
và môi trường chính sách nói chung, cung cấp bằng chứng cho các nhà hoạch
định chính sách trong việc đưa ra các chính sách tăng cường khả năng tiếp
5
cận công bằng đối với các dịch vụ y tế tại Việt Nam. Nghiên cứu đã đưa ra
khuyến nghị: Tăng cường thực hiện chính sách. Một số chiến lược nhằm tăng
cường tiếp cận công bằng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ có chất lượng đã
được đề xuất. Các chiến lược này bao gồm cải thiện hệ thống thông tin, các
quy chuẩn, trách nhiệm giải trình và cơ chế thưởng, phạt. Công tác vận động
thực hiện chiến lược để tăng cường vai trò của các bên liên quan trong quá
trình thực hiện chính sách [41].
"Báo cáo kết quả khảo sát thực trạng mạng lưới và năng lực cung cấp
dịch vụ CSSKSS Việt Nam 2010" (2012) do Vụ Sức khỏe Bà mẹ trẻ em, Bộ Y tế
loiạ hình dịch vụ này trên địa bàn Thành phố thời gian tới [28].
Luận văn thạc sỹ: "Phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương"
(2013) của Hoàng Tuấn Anh, trường Đại học Y Hải phòng năm 2013. Căn cứ
vào những đặc thù của địa phương, dưới góc độ chuyên ngành y tế cộng đồng,
tác giả luận văn đã đánh giá những kết quả và hạn chế của phát triển dịch vụ y
tế ở tỉnh Hải Dương đồng thời đề ra những giải pháp, biện pháp chuyên ngành
y tế cộng đồng nhằm góp phần tiếp tục phát triển dịch vụ y tế trên địa bàn
Tỉnh những năm tiếp theo [28].
* Các bài báo khoa học
Có rất nhiều bài viết nội dung xoay quanh các vấn đề về CSSKSS đăng
trên các tạp chí nghiên cứu Y học. Trên tạp chí Y học Việt Nam (Dân số và
sức khỏe nông thôn) năm 2005 có bài: "Đánh giá cơ sở vật chất, trang thiết bị
và thuốc thiết yếu phục vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản theo chuẩn quốc gia
tại một số trạm y tế xã" của nhóm tác giả Phạm Văn Tám, Lương Xuân Hiến,
Đinh Phương Hòa, "Nhận thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản
của phụ nữ 15 - 49 tuổi đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi" của Nguyễn Thu
Hà và Cộng sự.
Trên tạp chí Y học dự phòng năm 2005, Khương Văn Duy phân tích
về: "Tình hình sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh sản và sức khỏe trẻ em ở một số
xã thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, Năm 2004".
7
Nghiên cứu về "Nhận thức về một số nội dung chăm sóc sức khỏe sinh
sản/ kế hoạch hóa gia đình của cộng đồng tại các địa bàn triển khai mô hình
nâng cao chất lượng dân số" của Đỗ Ngọc Tấn đăng trên tạp chí Tạp chí Y
học thực hành năm 2005. Cũng trên tạp chí Y học thực hành năm 2009,
Nguyễn Viết Tiến lại đi sâu tìm hiểu: "Hiểu biết về quyền của khách hàng
trong chăm sóc sức khỏe sinh sản".
Về CSSKSS cho phụ nữ độ tuổi tiền mãn kinh, Đoàn Kim Thắng có
công trình khoa học của các tác giả khác đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển dịch vụ CSSKSS ở các
huyện phía Tây thành phố Hà Nội; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và một số
giải pháp đẩy mạnh phát triển dịch vụ CSSKSS trên địa bàn trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển dịch vụ CSSKSS các
huyện phía Tây thành phô Hà Nội.
Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ CSSKSS ở các huyện phía Tây
thành phố Hà Nội trong thời gian qua; chỉ rõ nguyên nhân của những thành
tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra.
Đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu góp phần đẩy mạnh
phát triển dịch vụ CSSKSS ở các huyện phía Tây thành phô Hà Nội trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển dịch vụ CSSKSS dưới góc độ kinh tế chính trị.
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Phát triển dịch vụ CSSKSS
Về không gian: Phát triển dịch vụ CSSKSS ở huyện phía Tây thành phố
Hà Nội.
9
Về thời gian: từ năm 2008 khi tỉnh Hà Tây cũ sáp nhập vào thành phố
Hà Nội đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
1.1. Những vấn đề chung về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
1.1.1. Khái niệm dịch vụ và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Khái niệm về dịch vụ
Theo từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho
những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [23,
tr.256]. Theo C.Mác thì nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi con người
trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và sự phát triển của
mình. C.Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa,
khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông, thông
suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người
thì dịch vụ ngày càng phát triển” [14].
Như vậy, với quan niệm trên C.Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự
phát triển của dịch vụ là do sự phát triển kinh tế hàng hóa, đồng thời C.Mác
cũng nhấn mạnh một đặc tính của dịch vụ, đó là: “Trong những trường hợp
mà tiền được trực tiếp trao đổi lấy một lao động không sản xuất ra tư bản, tức
là trao đổi lấy một lao động không sản xuất, thì lao động đó được mua với tư
cách là một sự phục vụ lao động đó cung cấp những sự phục vụ không phải
với tư cách là một đồ vật, mà với tư cách là một sự hoạt động” [14].
Dịch vụ theo nghĩa rộng là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết
quả của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật thể. Hoạt động dịch vụ bao
trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và
toàn thế giới nói chung. Ở đây dịch vụ không chỉ bao gồm những ngành
truyền thống như: giao thông vận tải, ngân hàng, du lịch, thương mại, bảo
hiểm, bưu chính viễn thông mà còn lan tỏa tới các lĩnh vực rất mới như: dịch
11
vụ văn hóa; hành chính, bảo vệ môi trường, dịch vụ tư vấn. Như vậy, dịch vụ
là những dạng hoạt động thuộc lĩnh vực, một ngành kinh tế.
cung cấp và có người sử dụng thì phải trả tiền (có thể người trả tiền là cá
nhân, có thể là tập thể, Nhà nước). Dịch vụ y tế mang tính chuyên môn cao
nên người tiêu dùng hoàn toàn bất lợi về mặt thông tin so với người bán (bệnh
nhân và bác sỹ). Với một số hàng hóa khác, người tiêu dùng có thể có hiểu
biết nhất định về sản phẩm hoặc có được thông tin về sản phẩm bằng kinh
nghiệm. Nhưng đối với dịch vụ y tế, người bệnh biết rất ít về hiệu quả hay
hậu quả của điều trị, thậm chí người ta còn không biết mình bị ốm. Chính vì
thế, dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường
không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết
định. Nói cách khác, ngược lại với thông lệ “cầu quyết định cung”, trong dịch
vụ y tế “cung quyết định cầu”. Người bệnh có nhu cầu KCB nhưng điều trị
bằng phương pháp nào, dùng loại thuốc hay dịch vụ gì và thời gian bao lâu lại
do bác sĩ quyết định. Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở
một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được chủ động chọn phương
pháp điều trị.
Tuy nhiên, cũng giống như các lại hình dịch vụ khác, thì dịch vụ y tế là
một ngành kinh tế. Nhưng ngành dịch vụ này có điều kiện, tức là có sự hạn
chế nhất địch đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y
tế. Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp phép hành nghề và cần
đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác,
trong thị trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo. Dịch vụ y tế là
một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan hệ với
nhau thông qua giá dịch vụ.
Phân loại dịch vụ
Dịch vụ là một lĩnh vực rất đa dạng và phong phú. Theo đà phát triển
kinh tế - xã hội cũng như sự tiến bộ của văn minh nhân loại, dịch vụ phát triển
ở tất cả các lĩnh vực sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần, lĩnh vực quản lý
13
và thích hợp nhằm điều hoà việc sinh đẻ không trái với pháp luật, quyền được
tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp giúp cho người phụ nữ
trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn và tạo cho các cặp vợ chồng những điều
kiện tốt nhất để có đứa con khỏe mạnh.
Từ những phân tích trên có thể quan niệm: Chăm sóc sức khỏe sinh sản
và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản là hoạt động lao động của đội ngũ cán
bộ, nhân viên y tế cung cấp dịch vụ phòng chống và giải quyết những vấn đề
có liên quan đến sức khỏe sinh sản, giúp cho con người có sức khỏe tốt, tham
gia phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
1.1.2. Vai trò của dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Dịch vụ CSSKSS có vai trò rất quan trọng, bởi trong điều kiện phát
triển nền kinh tế thị trường, khi mà đời sống của nhân dân đã được nâng cao
thì nhu cầu về sức khỏe là rất lớn. Các dịch vụ CSSKSS ra đời đã đáp ứng
được nhu cầu của nhân dân (nhất là lao động nữ) góp phần nâng cao năng lực,
hiệu quả công tác, hoạt động SX – KD. Vai trò của việc phát triển dịch vụ
CSSKSS được biểu hiện:
Thứ nhất, dịch vụ CSSKSS góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực cho phát triển KT – XH và sự nghiệp CNH, HĐH
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, gồm có thể lực và trí lực. Thể
lực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của con người, mức sống, thu nhập, chế
độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi v.v.. Trí lực là nguồn tiềm tàng to lớn
của con người, đó là tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân
cách v.v..
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Nguồn nhân lực của một quốc gia
là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Tiếp cận
dưới góc độ của Kinh tế chính trị có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể
lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc
15
16
tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất khác nhau và do vậy cũng tham
gia vào các hình thức phân phối thu nhập cá nhân khác nhau nên mức thu
nhập của mỗi người không hoàn toàn giống nhau. Thậm chí do tác động của
các quy luật kinh tế, có một bộ phận người lao động rơi vào tình trạng phá
sản, thất nghiệp, nghèo đói, ngược lại có một bộ phận người lao động trở nên
giàu có với thu nhập cao. Trong điều kiện đó, dich vụ y tế nói chung và dịch
vụ CSSKSS nói riêng phát triển sẽ làm tăng nguồn cung đáp ứng nhu cầu
quan trọng của người lao động, cho mọi đối tượng; đồng thời bảo đảm an sinh
xã hội, quyền về sự công bằng trong tiếp cận dịch vụ CSSKSS được đáp ứng
đầy đủ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ nhân dân nói chung và
người lao động nói riêng. Bảo đảm đáp ứng yêu cầu cung cấp đầy đủ, đồng bộ
số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội
đất nước.
Thứ ba, dịch vụ CSSKSS góp phần nâng cao chất lượng dân số, cải tạo
nòi giống, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các thế hệ kế tiếp và
tương lai
Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và
tinh thần của toàn bộ dân số. Chất lượng dân số là tập hợp những đặc điểm về
năng lực của một quần thể dân cư, một cộng đồng, một đất nước được thực
hiện qua hệ thống các chỉ báo: Cơ cấu tuổi, thể lực, trí lực, mức sống và ý
thức xã hội… trong việc thực hiện những chức năng xã hội nhất định nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của toàn bộ dân số nói chung và sự phát
triển của chính bản thân mỗi gia đình, mỗi người dân nói riêng.
17
199, ngày 27 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Giữ gìn dân
chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới
thành công. Mỗi một người dân yếu, tức là cả nước yếu, mỗi một người dân
mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe…Dân cường nước thịnh…”.
Như vậy, nâng cao chất lượng dân số, cải tạo nòi giống, trong đó có
nâng cao thể lực và tầm vóc cho những thế hệ kế tiếp, những thế hệ tương lai
là một yêu cầu cấp thiết, một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong đó, dịch vụ
tế nói chung và dịch vụ CSSKSS nói riêng có vai trò hết sức quan trọng (đặc
biệt là các dịch vụ như: chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em; dịch vụ DS –
KHHGĐ, chăm sóc SKSS vị thành niên…). Cũng chính vì vậy,“Đề án
chương trình tổng thể nâng cao thể lực và tầm vóc người Việt Nam giai đoạn
2010 – 2030” Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định mục tiêu: “Nâng
cao tầm vóc và thể trạng người Việt Nam, góp phần phát triển giống nòi, phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [2].
Mặt khác, nâng cao chất lượng dân số luôn đặt ra yêu cầu phải ổn
định dân số, hay nói một cách khác: sự ổn định về dân số là một trong
những tiêu chí đánh giá kết quả của nâng cao chất lượng dân số. Nếu
một quốc gia có tỷ lệ sinh quá thấp, tình trạng già hóa dân số sẽ gây
nhiều khó khăn cho việc huy động nhân lực, huy động lực lượng lao
động cho phát triển KT – XH, củng cố quốc phòng…; ngược lại một
quốc gia có tốc độ tăng dân số quá cao, tỷ lệ trẻ sơ sinh giữa nam và nữ
quá chênh lệch sẽ dẫn đến những hệ lụy khó lường cho sự phát triển bền
vững và sự ổn định xã hội. Dịch vụ CSSKSS - bằng các dịch vụ cung cấp
cho người dân và cộng đồng – luôn có vai trò hết sức quan trọng trong
việc tham gia ổn định dân số, góp phần xây dựng một xã hội ổn định và
phát triển bền vững.
Thứ tư, dịch vụ CSSKSS góp phần thực hiện và duy trì kết quả thực
hiện mục tiêu thiên niên kỷ, nâng cao khả năng cạnh tranh của nhân lực Việt
Nam trong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế
19
20
vực hoạt động khác như thể thao nước nhà vươn tới tầm cao của khu vực và
quốc tế như các môn: bóng đá, bóng chuyền, quần vợt, cầu lông và các môn
điền kinh khác…
Để nâng cao chất lượng nhân lực, chất lượng lực lượng lao động, nâng
cao thể lực và tầm vóc của người Việt Nam đòi hỏi sự vào cuộc của cả cộng
đồng, của hệ thống chính trị, trong đó, dịch vụ CSSKSS luôn có vai trò và vị
trí đặc biệt quan trọng. “Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ
2010 - 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định mục tiêu
tổng quát: “Đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng
nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội,
nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương
các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các
nước phát triển trên thế giới”[17].
Thứ năm, dịch vụ CSSKSS góp phần giữ vững ổn định xã hội, củng cố
hạnh phúc gia đình và thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”
Quá trình phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế và khu
vực bên cạnh những tác động tích cực, luôn kèm theo những tác động tiêu
cực, trong đó có các vấn đề như sinh con trước tuổi thành niên, mang thai
ngoài ý muốn ở vị thành niên; đặc biệt là các hủ tục như: tảo hôn, kết hôn cận
huyết thống và các tệ nạn xã hội: mại dâm, môi giới mại dâm…đã và đang là
những nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội và chất lượng của nòi giống.
Dịch vụ CSSKSS với các hoạt động tuyên truyền, vận động, CSSK vị thành
niên và các dịch vụ khám chữa bệnh… sẽ góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và
xử lý có hiệu quả các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là ngăn
chặn, đẩy lùi và khắc phục hậu quả của đại dịch HIV/AIDS.
Với các gia đình, dịch vụ CSSKSS tổ chức cung cấp các dịch vụ sàng
thể các kế hoạch, chương trình, biện pháp, cách thức do các chủ thể tổ chức
thực hiện để cung cấp các loại hình dịch vụ CSSKSS cho nhân dân nhằm phát
triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dân số, phát triển giống nòi; góp
22
phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH và xây dựng xã hội “Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Dịch vụ CSSKSS là một loại hình dịch vụ đặc thù. Phát triển dịch vụ
CSSKSS ở nước ta là một hoạt động có tổ chức, có định hướng, đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN.
Thực chất của phát triển dịch vụ CSSKSS:
Thực chất của phát triển dịch vụ CSSKSS là quá trình gia tăng về số
lượng, quy mô, không ngừng nâng cao chất lượng và ngày càng hoàn thiện về
cơ cấu các loại hình dịch vụ CSSKSS đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
nhân dân về CSSKSS.
Mục tiêu phát triển dịch vụ CSSKSS:
Mục tiêu trực tiếp của phát triển dịch vụ CSSKSS là góp phần phát
triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng dân số, phát triển giống nòi, thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH trong tình hình mới. Mục tiêu
lâu dài của phát triển dịch vụ CSSKSS là góp phần xây dựng con người mới
XHCN, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội “Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Chủ thể phát triển dịch vụ CSSKSS:
Chủ thể phát triển dịch vụ CSSKSS là Đảng và Nhà nước, lãnh đạo
chính quyền các cấp ở địa phương, các đoàn thể nhân dân. Trong đó, chủ thể
trực tiếp, nòng cốt và quan trọng nhất ngành y tế, các cơ sở y tế và đội ngũ y,
bác sỹ thuộc các thành phần kinh tế; đội ngũ hộ sinh, đội ngũ cộng tác viên
DS – KHHGĐ ở các tỉnh thành, địa phương (đặc biệt là ở tuyến cơ sở).
Đối tượng tiếp nhận và thụ hưởng dịch vụ CSSKSS:
triển tương đối toàn diện cả về số lượng, quy mô; chất lượng và cơ cấu để đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và chăm
sóc SKSS nói riêng. Theo đó, nội dung phát triển dịch vụ CSSKSS bao gồm:
Thứ nhất, phát triển dịch vụ CSSKSS về số lượng, quy mô
Phát triển dịch vụ CSSKSS về số lượng trước hết là sự gia tăng về số
24
lượng các cơ sở y tế nói chung và các cơ sở y tế thực hiện dịch vụ CSSKSS
nói riêng ở tất cả các tuyến: ở tuyến tỉnh (thành phố) và Trung ương là các
bệnh viện trong đó có các bệnh viện đa khoa, hoặc chuyên khoa như: bệnh
viện phụ sản, bệnh viện nhi (hoặc bệnh viện Sản-Nhi) và các trung tâm
CSSKSS….Các bệnh viện đa khoa tuyến Trung ương và tuyển tỉnh (thành
phố) được quan tâm, đầu tư phát triển các khoa chuyên ngành, liên quan trực
tiếp đến cung cấp dịch vụ CSSKSS như: khoa phụ sản, khoa nhi, khoa sơ
sinh, khoa hiếm muộn, khoa nam học. Ở tuyến huyện có: các bệnh viện
huyện, trung tâm y tế, trung tâm y tế dự phòng…; ở tuyến xã là các trạm y tế,
nhà hộ sinh. Quá trình phát triển KT- XH của đất nước, thực trạng của ngành
y tế và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, trong đó có nhu cầu về
CSSKSS đã và đang đặt ra yêu cầu lớn về phát triển số lượng các cơ sở y tế
nói chung và các cơ sở y tế thực hiện CSSKSS nói riêng. Để phát triển các cơ
sở y tế, bên cạnh sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, cần phải khuyến khích,
tạo điều kiện cho sự tham gia của các thành phần kinh tế, của các nhà đầu tư
trong, ngoài nước và của các cá nhân.
Nhu cầu về chăm sóc SKSS đang có xu hướng tăng, vì vậy, mà việc mở
rộng phát triển các cơ sở đó cả về số lượng và quy mô là rất quan trọng. Phát
triển về số lượng là phát triển về quy mô, số lượng dịch vụ y tế CSSKSS. Một
số xã miền núi huyện Ba Vì đã đẩy mạnh các chiến dịch chăm sóc sức khỏe
sinh sản - kế hoạch hóa gia đình đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, nhiều xã có chỉ
tiêu đạt cao là Ba Trại, Minh Quang, Tản Lĩnh, Khánh Thượng. Thành phố
đường sinh sản. Các xã miền núi huyện Ba Vì cũng đẩy mạnh các chiến dịch
CSSKSS. Khám và cấp thuốc miễn phí cho 2.800 phụ nữ thuộc các xã miền
núi, các xã khó khăn và có tỷ lệ viêm nhiễm phụ khoa cao.
Phát triển dịch vụ CSSKSS còn được thể hiện ở số lượng các loại hình
dịch vụ có và sẵn sàng cung cấp cho người dân. Hiện nay ở nước ta, việc tổ
chức cung cấp các loại hình dịch vụ CSSKSS được thực hiện theo phương
thức phân cấp, phân tuyến kỹ thuật, kết hợp với ưu tiên xây dựng và hỗ trợ hệ
thống chuyển tuyến thích hợp. Đảm bảo cung cấp các gói dịch vụ DS 26