LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN hợp tác xã KIỂU mới ở QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội HIỆN NAY - Pdf 42

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
Hợp tác xã
Hợp tác xã nông nghiệp
Hội đồng nhân dân
Kinh tế - xã hội
Kinh tế thị trường
Lực lượng sản xuất
Tổng sản phẩm quốc nội
Quan hệ sản xuất
Uỷ ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

Chữ viết tắt
CNH, HĐH
HTX
HTXNN
HĐND
KT-XH
KTTT
LLSX
GDP
QHSX
UBND
XHCN


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ

2.2.

Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt
ra đối với phát triển hợp tác xã kiểu mới ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

47

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI

Ở

QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI

3.1.

Quan điểm phát triển hợp tác xã kiểu mới ở quận Hà Đông thành phố Hà
Nội

3.2.

64

Giải pháp chủ yếu phát triển hợp tác xã kiểu mới ở
quận Hà Đông thành phố Hà Nội thời gian tới

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

64

còn nhiều HTX hoạt động chưa thật sự hiệu quả. Do vậy, việc nghiên cứu về hợp tác xã kiểu mới hiện nay là vấn đề cấp
bách cả về lí luận và thực tiễn.

Hà Đông là một quận trẻ, được sáp nhập vào thành phố Hà Nội thời
gian chưa lâu, nhưng tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh. Do việc thu hồi đất
nông nghiệp để làm các dự án trọng điểm xứng tầm với một quận phát triển
thì chuyển đổi mô hình HTX nông nghiệp sang HTX kinh doanh dịch vụ sẽ
tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế bền vững.
Từ khi Luật HTX đi vào cuộc sống, cùng với cả nước, HTX kiểu mới trên địa bàn quận Hà Đông đã có những
bước phát triển đáng ghi nhận, đáp ứng nhu cầu nhất định của những người lao động, hộ sản xuất kinh doanh nông
nghiệp, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển KT- XH của địa phương. Tuy nhiên hoạt động của HTX kiểu mới ở
quận Hà Đông cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém. Thực tế, việc chuyển đổi HTX còn mang tính hình thức, phát
triển chậm, lợi ích đem lại cho các thành viên chưa nhiều, số người lao động thực sự tham gia còn ít...

Có nhiều

vấn đề cần lý giải cho thực trạng đó của HTX kiểu mới ở quận Hà Đông và khắc phục được

những hạn chế sẽ giúp HTX phát triển có hiệu quả, phát huy vai trò hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ và trang trại, gắn với
quá trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Với lí do

trên, vấn đề “Phát triển

hợp tác xã kiểu mới ở quận Hà Đông thành

phố Hà Nội” được học viên chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị.
2.


lớn trên thị trường. Phân tích cơ chế vận hành và vai trò của Nhà nước, hình
thức dân chủ đối với sự phát triển hình thức kinh tế này.
- PGS, TS Hoàng Kim Giao (1997), HTX ở Ixraen, trong tài liệu phục
vụ nghiên cứu đề tài Kinh tế hợp tác, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, do
4


Viện Kinh tế HTX thuộc Liên minh các HTX Việt Nam chủ trì. Giới thiệu
quá trình phát triển của các loại hình HTX ở Thái Lan từ khi thành lập tổ
chức đầu tiên (năm 1916) đến nay, bao gồm HTX nông nghiệp, HTX định cư
đất đai, HTX tiêu dùng, HTX tín dụng và tiết kiệm…
- PGS, TS Hoàng Kim Giao (1997), HTX ở Indonexia, trong tài liệu
phục vụ nghiên cứu đề tài Kinh tế hợp tác, một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
do Viện Kinh tế HTX thuộc Liên minh các HTX Việt Nam chủ trì. Phân tích
các chính sách của chính phủ nước này về phát triển HTX từ năm 1958 đến
những năm gần đây, chỉ ra vai trò của chính phủ trong quản lý phát triển hình
thức tổ chức này ở Indonexia.
- Hội đồng Trung ương Liên minh các HTX Việt Nam, Viện Kinh tế
HTX (1997), Báo cáo nghiệm thu đề tài kinh tế hợp tác, một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, do PGS, TS Hoàng Kim Giao làm chủ nhiệm. Phân tích một số
vấn đề lý luận về kinh tế hợp tác, các loại hình kinh tế hợp tác, vai trò của
Nhà nước đối với khu vực kinh tế hợp tác và một số kiến nghị phát triển
phong trào hợp tác hóa ở nước ta theo mô hình mới.
- Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã (1999), “Đổi mới tổ chức và
quản lý các Hợp tác xã trong nông nghiệp và nông thôn”, NXB Nông nghiệp,
Hà Nội. Cuốn sách phân tích thực trạng quản lý các HTX nông nghiệp ở Việt
Nam kể từ khi thành lập và kiến nghị giải pháp đổi mới phương thức quản lý
đáp ứng yêu cầu phát triển mô hình HTX theo Luật HTX ban hành năm 1996.
- Phạm Thị Cần, Vũ Văn Phúc, Nguyễn Văn Kỷ (2003), “ Kinh tế Hợp
tác trong nông nghiệp ở nước ta hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Á, Tạp chí Công nghiệp. Khái quát các mô hình kinh tế HTX ở một số nước:
Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan và Malaixia mà Việt Nam có thể tham khảo để
phát triển các loại hình HTX kiểu mới hiện nay.
- Nguyễn Ty “Phong trào HTX Quốc tế qua gần hai thế kỷ”(2010),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong công trình này, tác giả đi sâu, đánh
giá, phân tích những thành tựu, hạn chế của phong trào HTX Quốc tế qua gần
hai thế kỷ, nêu bật những phương hướng, cách làm, mô hình của các HTX
trên thế giới, từ đó chỉ ra những bài học đối với việc xây dựng và phát triển
HTX ở Việt Nam.

6


- Nguyễn Minh Tú “Mô hình tổ chức HTX kiểu mới”( 2012), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong công trình này, tác giả đã khái quát toàn bộ
bức tranh HTX từ ngày đầu thành lập đến khi đổi mới; chỉ rõ thành tựu, hạn
chế, nguyên nhân của thành tựu hạn chế cũng như những vấn đề đặt ra cần
giải quyết. Trên cơ sở đó, đề xuất mô hình HTX kiểu mới cùng với những
quan điểm, giải pháp cụ thể phù hợp với mô hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Trần Minh Tâm, “Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành Thành phố
Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp” (2000). Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại
học Kinh tế Quốc dân thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn nghiên cứu lý luận
và thực tiễn hoạt động của kinh tế hợp tác ở ngoại thành Thành phố Hồ Chí
Minh, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất phương
hướng và một số giải pháp phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Lê Thùy Hương “Kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Hải Dương, thực
trạng và giải pháp” (2003), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc
dân Hà Nội. Luận văn làm rõ vai trò, tính tất yếu khách quan của việc phát

mới ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội mà người nghiên cứu rất coi trọng.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào tiến hành
nghiên cứu khảo sát thực tiễn một cách hệ thống để hoàn thiện chính sách
phát triển HTX kiểu mới ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội từ khi đổi mới,
nhất là trong 5 năm trở lại đây. Đề tài mà học viên lựa chọn nghiên cứu không
trùng lặp với một công trình khoa học nào đã được công bố.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển

HTX kiểu mới ở quận Hà Đông, đề

xuất quan điểm, giải pháp phát triển HTX kiểu mới ở quận Hà Đông thành phố Hà Nội trong thời gian tới.

* Nhiệm vụ nghiên cứu
8


Hệ thống hoá các vấn đề lí luận cơ bản về HTX, HTX kiểu mới.
Phân tích, đánh giá thực trạng của HTX kiểu mới ở quận Hà Đông.
Đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển HTX kiểu mới ở quận Hà Đông trong thời gian tới.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển hợp tác xã kiểu mới.
* Phạm vi nghiên cứu


Kết cấu của đề tài

Gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI
Ở QUẬN HÀ ĐÔNG
1.1.

Những vấn đề chung về hợp tác xã, hợp tác xã kiểu mới

1.1.1.

Quan niệm về hợp tác xã

Hợp tác, với tư cách là đặc tính xã hội của lao động, được thực hiện t ừ
khi loài người xuất hiện và ngày càng phát triển như là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hành động kinh tế của
con người. Nhận định về quá trình sản xuất của con người, C.Mác đã từng chỉ rõ: “Người ta không thể sản xuất được nếu
không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất
được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc
sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ và những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó”. Có thể nói, hợp tác là một phạm trù
rộng, quá trình thực hiện nó biểu hiện ra ở nhiều hình thức và cấp độ khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn ngành
đến đa ngành. Mỗi loại hình kinh tế hợp tác phản ánh đặc điểm, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và hình thức
phân công lao động tương ứng, trong đó kinh tế hợp tác phát triển và được tổ chức ở trình độ cao chính là các hợp tác xã.
Lênin cho rằng: “Chế độ ấy (tức chế độ hợp tác xã) có một ý nghĩa đặc biệt trước hết là về phương diện nguyên tắc (nhà
nước nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất), sau nữa là về phương diện bước quá độ sang một chế độ mới bàng con đường

tác hóa. Người đã có những bài phát biểu và tham luận về HTX. Người đã
đúc rút lý luận và kinh nghiệm hợp tác xã của thế giới, điển hình là Anh,
Pháp, Đức, Nga, Nhật. Điều kỳ lạ là, quan niệm của Hồ Chí Minh về hợp tác
xã lúc đó rất đúng với nhận thức của quốc tế, trước hết là ICA, ILO và các
nước hiện nay về hợp tác xã, về bản chất, giá trị và nguyên tắc, cách thức tổ
chức hợp tác xã. Hồ Chí Minh trình bày các quan niệm về hợp tác xã một cách
hệ thống, từ lịch sử, mục đích, loại hình hợp tác xã (hợp tác xã tiền bạc, hợp tác
xã mua, hợp tác xã bán, hợp tác xã sinh sản), tổ chức của các loại hợp tác xã,
đến cách thức tổ chức hợp tác xã, với ngôn ngữ dung dị, dễ hiểu, và đặc biệt rất
ngắn gọn: “HTX là hợp vốn, hợp sức với nhau, vốn nhiều, sức mạnh thì khó nhọc ít mà lợi nhiều” .
* Hợp tác xã ở một số nước châu Á
Kinh tế tập thể, trong đó, hợp tác xã đóng vai trò nòng cốt trong phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt, hiện nay, HTX đã trở thành lực
lượng vững mạnh ở một số nước châu Á.
Tại Ấn Độ: Hợp tác xã được ra đời từ lâu và chiếm vị trí quan trọng
trong nền kinh tế của nước này, trong đó, Liên minh HTX Quốc gia Ấn Độ
(NCUI) là tổ chức cao nhất, đại diện cho toàn bộ HTX ở Ấn Độ. NCUI có
212 thành viên, gồm 17 liên đoàn HTX chuyên ngành cấp quốc gia, 171 liên
đoàn HTX thuộc các bang và 24 liên hiệp HTX đa chức năng cấp quốc gia.
Mục tiêu chính của NCUI là hỗ trợ và phát triển phong trào HTX ở Ấn Độ,
giáo dục và hướng dẫn nông dân cùng nhau xây dựng và phát triển HTX. Là
một nước nông nghiệp, sự phát triển kinh tế của Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều
vào việc phát triển nông nghiệp. Người nông dân coi HTX là phương tiện để
tiếp nhận tín dụng, đầu vào và các nhu cầu cần thiết về dịch vụ.
11


Tại Nhật Bản: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tổ chức HTX Nhật Bản
là nhân tố tích cực, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn
định xã hội. Các loại hình tổ chức HTX Nhật Bản gồm: HTX nông nghiệp,

đói nghèo là phải xây dựng HTXNN từ thấp đến cao. “Chúng ta nhất định phải nâng cao dần đời sống của đồng bào nông

12


dân. Nhưng nếu nông dân cứ làm ăn riêng lẻ thì đời sống không thể nâng cao. Muốn nâng cao đời sống thì chỉ có một
cách là tổ chức nông dân làm ăn tập thể, tức là tổ chức nông dân vào HTXNN. Tổ chức HTX tốt thì mới có thể tăng gia
sản xuất, thực hành tiết kiệm, do đó mà nâng cao dần đời sống vật chất và văn hoá của người dân và củng cố khối liên
minh công nông”[30, tr.61].

Hai là, HTX phải chủ lực trong việc giải quyết những công việc lớn như: chống hạn, lũ lụt, thuỷ lợi...
Bởi những khâu này cần đến sức lực của nhiều người, phải nhiều người
cùng chung sức, chung lòng mới làm được và có như vậy mới đem đến lợi ích
cho dân, cho xã hội. Mặt khác, HTX phải xây dựng kế hoạch về sản xuất, về
lao động, về kỹ thuật, về tài vụ. Có như vậy mới đảm bảo cho hoạt động của
HTX chủ động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển, không phải là
hoạt động tự phát đến đâu hay đến đó.
Ba là, các HTX phải giúp đỡ và học hỏi lẫn nhau, trao đổi sáng kiến kinh nghiệm cho nhau.
HTX không phải chỉ đóng cửa trong nội bộ mà để tạo nền tảng cho nền
kinh tế và HTX phát triển kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh,
là sự chia sẻ thông tin cho nhau về các mặt tổ chức quản lý, khoa học kỹ thuật
và cả sự hỗ trợ khi gặp rủi ro trong kinh doanh. Có như vậy HTX mới có thể
vững mạnh được.

Muốn tổ chức HTX thành công, hoạt động có hiệu quả thì không chỉ nhận thức đúng về lý

luận mà trong chỉ đạo thực hiện cần phải có phương châm, phương pháp và nguyên tắc phù hợp. Do dó, xây dựng hệ
thống các nguyên tắc bảo đảm cho quá trình hợp tác hoá diễn ra phù hợp với các quy luật khách quan và điều kiện Việt
Nam, trong đó nổi bật là nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Tuân thủ những nguyên tắc đó
về HTX giúp cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển HTX trong nhiều thời kỳ

công cụ sản xuất chủ yếu. Trong HTX kiểu mới, sở hữu tập thể và sở hữu cá
nhân của thành viên được phân định rõ. Sở hữu tập thể (sở hữu của hợp tác
xã) bao gồm các nguồn vốn tích luỹ tái đầu tư, các tài sản do tập thể mua sắm
để dùng cho hoạt động của HTX, tài sản trước đây được giao lại cho tập thể
sử dụng và tài sản do nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
tài trợ làm tài sản không chia và các quỹ không chia. Thành viên khi tham gia
HTX không phải góp tư liệu sản xuất mà điều kiện tiên quyết là phải góp vốn
theo quy định của điều lệ HTX, có thể góp sức khi HTX có nhu cầu; suất vốn
góp không hạn chế, song được khống chế một tỷ lệ nhất định so với tổng số
vốn góp của các thành viên (vốn điều lệ của HTX) nhằm bảo đảm tính chất
của HTX (theo Luật HTX năm 2003 thì không quá 30%). Vốn góp của thành
viên được chia lãi hàng năm và được rút khi th ành viên ra HTX. Thành viên có
thể góp vốn bằng ngoại tệ, tài sản, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ và
các loại giấy tờ có giá khác, được quy ra tiền Việt Nam theo giá thị trường tại
thời điểm góp và giá trị đó được ghi thành vốn góp của thành viên, còn bản
thân hiện vật thuộc sở hữu tập thể HTX. Sở hữu thuộc cá nhân thành viên được tôn trọng; thành viên có toàn quyền sử dụng vốn, các phương tiện sản xuất
thuộc sở hữu riêng để sản xuất, kinh doanh. Những thành viên của HTX vẫn
là những chủ thể độc lập, có kinh tế riêng. Vị trí, vai trò cũng như quyền tự
chủ của kinh tế thành viên không bị mất đi mà ngược lại được hỗ trợ thêm từ
phía HTX để phát triển.

14


Hai là: Về quan hệ quản lý trong hợp tác xã
Trong các HTX kiểu cũ, quan hệ giữa xã viên với HTX là quan hệ phụ
thuộc. Xã viên bị tách khỏi tư liệu sản xuất trở thành người lao động làm công
theo sự điều hành tập trung của HTX, tính chất hợp tác đích thực trong HTX
không còn. Trong các HTX kiểu mới, quan hệ giữa HTX và thành viên là
quan hệ bình đẳng, thỏa thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro

xuất, kinh doanh, mặt khác tạo nên phúc lợi công cộng cho mọi thành viên
trong HTX được hưởng chung, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích tập thể, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.
Bốn là: Về tổ chức quản lý.
Các HTX hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm. HTX
hoạt động lấy lợi ích kinh tế là chính bao gồm lợi ích của các xã viên và lợi
ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các xã viên. Đánh giá hiệu
quả kinh tế tập thể dựa trên cơ sở quan điểm toàn diện cả kinh tế, chính trị, xã
hội. Mối quan hệ giữa các xã viên HTX với HTX dựa trên vị trí tương đối độc
lập nhưng lại gắn bó với nhau sâu sắc. HTX luôn tôn trọng quyền độc lập, tự
chủ về kinh tế của xã viên. Sự hình thành và phát triển của HTX không phá
vỡ tính độc lập, tự chủ kinh tế của mỗi xã viên. HTX kiểu mới hoạt động theo
cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật như các doanh nghiệp, tự quyết
định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác cũng như phân chia lỗ lãi,
bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đối với thành
viên. Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của HTX, không còn can thiệp trực tiếp vào các
hoạt động của HTX. Vai trò của Nhà nước trong việc quản lý đối với HTX
được chuyển qua việc ban hành pháp luật và các chính sách khuyến khích
phát triển HTX. Các nghĩa vụ đóng góp vật chất quá nặng trước kia của HTX
đối với chính quyền và cộng đồng, nhất là đối với các HTX ở nông thôn đã
16


từng bước được xoá bỏ, HTX tập trung vào phục vụ và thực hiện các nghĩa vụ
đối với các thành viên của chính mình là chủ yếu
Qua những đặc trưng trên cho thấy HTX kiểu mới có nhiều điểm khác
biệt so với HTX kiểu cũ và các loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Sự
khác biệt đó không chỉ nói lên bản chất của HTX mà còn khẳng định ưu thế,

trường. Hiện nay, có nhiều HTX điển hình kinh doanh tổng hợp đã góp phần
vào sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đa dạng hình thức sở hữu, phương
thức hoạt động phù hợp với xu hướng đô thị hoá, giải quyết vấn đề việc làm
theo hướng “ly nông bất ly hương, giữ đất, thêm nghề”.
Thứ tư, HTX kiểu mới theo ngành, theo nhu cầu liên kết của cộng đồng, đó là những HTX liên kết các hộ
trong làng nghề ở Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Nam Định, Bắc Giang, Nghệ An... Theo mô hình này, các HTX liên kết với
nhau hoặc với các doanh nghiệp khác tập trung vào việc cung ứng vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các hộ làm
nghề, hướng dẫn kỹ thuật tạo mẫu sản phẩm, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, dạy nghề và phát triển nghề. Ngoài ra, việc mở
rộng các quỹ tín dụng nhân dân với đặc điểm gần gũi, am hiểu hoàn cảnh, điều kiện của mỗi hộ, cho vay có kiểm soát
cũng đã giúp nhiều hộ phục hồi nghề truyền thống, mở mang nghề mới, mở rộng quy mô chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản,
buôn bán, tạo thêm nhiều việc làm góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.

* Cơ sở khách quan của hợp tác xã kiểu mới trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Một là: xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nước ta.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ của Đảng đã xác định rằng, phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, phấn đấu đến năm
2020 cơ bản đưa nước ta trở thành nước công nghiệp. Theo đó, đã khẳng định tính tất yếu khách quan của sự tồn tại các
thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế tập thể mà nòng cốt là các HTX có vai trò không thể thiếu được trong
chiến lược phát triển kinh tế đất nước nói chung, CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn nói riêng.

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật
chất, kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo định
hướng sản xuất hàng hoá lớn hiện đại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và
dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao với mọi nguồn lực và lợi thế của
nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế nhằm
nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân
chủ, văn minh và CNXH.
Thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một tất yếu khách
quan và là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH

động nông thôn, giải quyết vấn đề thị trường, tiêu thụ, chế biến nông sản, phát triển các hình thức HTX, các ngành tiểu
thủ công nghiệp, giải quyết việc làm trong nông thôn, tăng trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc của
xã hội, nâng cao đời sống cho người dân, xoá đói giảm nghèo trong nông thôn. Hiện nay, hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự
chủ, tuy đã được tạo những điều kiện, động lực để phát triến nhưng nhìn chung kinh tế hộ vẫn trong tình trạng sản xuất
manh mún, thủ công, phân tán. Điều đó góp phần hạn chế việc đẩy mạnh cơ giới hoá, điện khí hoá, ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp. Vì thế mà thực tế năng suất lao động và năng suất cây trồng, vật nuôi vẫn
còn thấp, chất lượng nông sản kém, giá thành cao, khó cạnh tranh được với nông sản các nước trên thị trường thế giới và
ngay cả ở thị trường nội địa. Mục tiêu của CNH, HĐH vì vậy khó đạt được. Do đó, muốn có một nền nông nghiệp sản
xuất hàng hoá lớn để hội nhập với nền kinh tế thế giới thì không thế không tố chức lại nền nông nghiệp với nhiều hình
thức khác nhau trong đó các HTX kiểu mới là hình thức thích hợp và dễ tiếp thu nhất đối với hàng triệu hộ sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên, ở nông thôn hiện nay HTX kiểu mới phổ biến mới chỉ là HTX dịch vụ, có vai trò phục vụ hộ nông
dân một hoặc một số khâu, chủ yếu bản thân hộ nông dân vẫn là những đơn vị kinh tế tự chủ, nhiều hộ gia đình vẫn đang
đứng ngoài HTX. Sở dĩ có sự bất cập này là bởi trình độ lực lượng sản xuất yếu kém, còn có nhiều thiếu sót trong nhận

19


thức về mô hình HTX kiểu mới cũng như những hạn chế bộc lộ trong quá trình lãnh đạo và quản lý HTX, tâm lý hoài
nghi, mặc cảm với mô hình HTX kiểu cũ ... như nghị quyết TW13 của Ban bí thư đã nhận định.

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng ta đã chỉ rõ:

“Kinh tế tập thế phát triến với nhiều

hình thức hợp tác đa dạng, trong đó HTX là nòng cốt” , “Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thế ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”, theo hướng đó, cần củng cố những tổ hợp tác và HTX hiện có, tiếp
tục phát triến rộng rãi kinh tế hợp tác với nhiều hình thức, quy mô khác nhau trong các ngành, lĩnh vực và địa bàn có điều
kiện, trọng tâm là khu vực nông nghiệp, nông thôn. Phát triến các HTX trong nông nghiệp, nông thôn phải trên cơ sở đảm
bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, trang trại phát triển gắn với tiến trình CNH,
HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức


HTX đứng ra làm tín dụng, hỗ trợ xã viên vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, là cầu nối đưa phương tiện khoa học
kỹ thuật hiện đại ứng dụng vào sản xuất làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi...

Bên cạnh vai trò tích cực trong thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo, HTX theo sự lớn mạnh
của mình tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, xã hội, chăm lo phát triển cộng đồng như hỗ trợ về kinh tế khi xã viên, gia đình hộ
xã viên hiếu hỷ, ốm đau, cơ nhỡ; đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn...

20


Ba là, xuất phát từ thực trạng HTX kiểu mới ở nước ta hiện nay.
Với Luật HTX năm 2012, việc hình thành các HTX kiểu mới là nền
tảng quan trọng, là khâu đột phá để tái cơ cấu nông nghiệp, nâng cao sức cạnh
tranh và tạo thu nhập bền vững cho xã viên và hộ nông dân. Trên thực tế, mô
hình HTX kiểu mới tại một số địa phương cũng đã thu được những kết quả
khả quan bên cạnh còn nhiều thách thức.Do xây dựng định mức khoán các
dịch vụ chặt chẽ, gắn quyền lợi và trách nhiệm của người nhận khoán, cho
nên đã hạ được chi phí quản lý. Nhờ đó, sau khi đã thanh toán với Nhà nước
và người lao động, HTX đã tích lũy được một phần để ưu tiên cho phát triển
sản xuất, hoặc làm vốn đối ứng xây dựng các công trình thủy lợi. Lợi nhuận
HTX mỗi năm đạt được hàng trăm triệu đồng, bước đầu cho thấy HTX dịch
vụ nông nghiệp có thể đứng vững, phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Theo Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, hiện cả nước có khoảng 142.800
tổ hợp tác và gần 19 nghìn HTX đang hoạt động, trong đó khoảng hai phần ba
số HTX hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp và thủy sản. Kinh tế
hợp tác, HTX hiện thu hút khoảng 12 triệu hộ gia đình, các cơ sở sản xuất cá
thể, tiểu chủ và người lao động trong tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp.
Lĩnh vực hoạt động của các HTX khá đa dạng, chủ yếu là các HTX dịch vụ
nông nghiệp chiếm khoảng 70% tổng số các HTX; một số HTX dịch vụ nông

trong điều kiện mới chưa thống nhất; hơn nữa là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương còn phải gắn sát với
đặc thù phát triển của mỗi nơi về con người, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Từ kết quả nghiên cứu ở 1.1, tác giả luận văn
khái quát: Phát triển hợp tác xã kiểu mới ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội là hoạt động tích cực chủ động của chính quyền, cơ quan, hội
chức năng và nhân dân trong Quận nhằm biến đổi theo hướng tiến bộ về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp tác xã kiểu mới, góp phần phát
triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống xã viên và cộng đồng dân cư ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Nội hàm của quan niệm trên gồm những vấn đề sau:
Một là: Chủ thể phát triển hợp tác xã kiểu mới là chính quyền, phòng, hội chức năng của Quận và nhân dân
trong Quận, đặc biệt là đội ngũ chủ nhiệm hợp tác xã và thành viên Ban quản trị,

Ban kiểm soát, Ban chủ

nhiệm có phẩm chất, trình độ, năng lực và kỹ năng chuyên môn tốt sẽ làm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX.
Hai là: Nội dung phát triển hợp tác xã kiểu mới là biến đổi theo hướng
tiến bộ về số lượng, chất lượng và cơ cấu HTX kiểu mới.
Ba là: Mục tiêu phát triển hợp tác xã kiểu mới có bản chất tốt đẹp, nguyên tắc và giá trị bền
vững; HTX trở thành công cụ hữu hiệu để người dân, đặc biệt là người thiếu vốn,
thiếu năng lực sản xuất, những nhóm yếu thế trong xã hội liên kết, hỗ trợ lẫn
nhau phát huy các nguồn lực, nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm phát triển
kinh tế, thực hiện các nhu cầu xã hội, văn hoá,

đời sống vật chất, tinh thần xã viên và

phát

triển cộng đồng dân cư ở quận Hà Đông.
1.2.2. Nội dung phát triển hợp tác xã kiểu mới ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Phát triển HTX kiểu mới ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội là nhằm
củng cố, duy trì và phát triển các loại hình HTX đáp ứng được với mục tiêu,
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông trong điều kiện mới. Nội

theo luật năm 2012, gắn với chất lượng các HTX hoạt động ở các ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, tín dụng, dịch vụ…ở khu vực
nông nghiệp nông thôn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tập thể nói riêng,
kinh tế - xã hội nói chung ở quận Hà Đông. Cụ thể, với yêu cầu cao của phát
23


triển kinh tế thị trường ở quận Hà Đông sẽ dẫn đến hình thành, phát triển đa
dạng loại hình HTX đáp ứng sự phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ như: HTX sản xuất; HTX dịch vụ; HTX tạo việc làm; HTX
sản xuất kết hợp với dịch vụ…Ở quận Hà Đông phải thường xuyên hoàn thiện
cơ cấu này.
1.2.3. Những nhân tố tác động đến phát triển hợp tác xã kiểu mới ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Một là, nhân tố kinh tế và tài chính của Quận tác động đến sự phát triển HTX kiểu mới.
Phát triển HTX kiểu mới phải lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu hàng đầu. Chỉ khi nào xã viên, người lao
động được chứng minh làm ăn hợp tác có hiệu quả hơn, lúc đó họ mới tự nguyện gắn bó với HTX. Khi HTX hoạt động
không hiệu quả sẽ không thể hỗ trợ cho kinh tế hộ cũng như không tác động tích cực đến cộng đồng. Vì vậy, phát triển
HTX kiểu mới chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của khả năng kinh tế và tài chính của Quận, của các thành viên và của kinh tế
hộ.

Số liệu của Liên minh HTX Việt Nam cho biết: qua khảo sát 5.364
HTX thì vốn bình quân một HTX chỉ hơn 1,45 tỷ đồng, nhưng chủ yếu nằm ở
tài sản cố định (chiếm tỷ lệ 67,6%). Tài sản cố định của HTX có giá trị lớn là
các công trình điện và hệ thống thủy lợi, các loại máy móc; cơ sở sản xuất và
chế biến hầu như chưa có. Vốn góp bình quân một HTX khoảng 56 triệu
đồng; vốn lưu động bình quân của một HTX khoảng 160 triệu đồng.
Đông mới nhập về Hà Nội tình hình cũng tương tự như vậy cho nên

Quận Hà


quận Hà Đông sau khi tổ chức lại phải phát triển thêm nghề mới và dịch vụ
mới. Hoạt động các HTX phải mở rộng sang dịch vụ tổng hợp, đáp ứng nhu
cầu đa dạng của thành viên và nhân dân trên địa bàn.
Để nhân tố pháp lý tác động tích cực đến phát triển HTX cần phê phán
bệnh hình thức kiểu “bình mới rượu cũ”. Cần tuyên truyền nâng cao nhận
thức từ nội bộ HTX đến đối tượng quan tâm hàng đầu là cán bộ các cấp
ngành, nhất là bí thư, chủ tịch cấp phường. Từ đó, khơi thông mối quan hệ
phối hợp trong hệ thống chính trị, để chỉ đạo tổ chức lại HTX đạt kết quả,
tránh căn bệnh hình thức, làm trì trệ và khiến HTX không thể vươn lên sau
khi chuyển đổi HTX theo Luật. Những vấn đề cốt lõi của HTX như vốn quỹ,
tài sản, đất đai, công nợ, trách nhiệm và quyền lợi thành viên... đều phải dứt
điểm một cách rõ ràng và minh bạch.
Ba là, chất lượng nhân lực của xã, phường của Quận có vai trò quyết định sự phát triển HTX kiểu mới.
Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status