LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN lâm NGHIỆP bền VỮNG ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY - Pdf 38

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN
1.1.

LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
10
Quan niệm về lâm nghiệp và phát triển lâm nghiệp bền vững

1.2.

ở tỉnh Thái Nguyên
10
Sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển lâm

1.3.

nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên
19
Kinh nghiệm phát triển lâm nghiệp bền vững ở một số địa

phương và bài học rút ra cho tỉnh Thái Nguyên
30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP BỀN
2.1.

VỮNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN THỜI GIAN QUA 40
Thành tựu, hạn chế phát triển lâm nghiệp bền vững ở tỉnh


PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

1


Kinh tế - xã hội

KT - XH

Liên hiệp Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên

UICN

Phát triển lâm nghiệp vền vững

PTLNBV

Phát triển bền vững

PTBV

Tổ chức Nông nghiệp thế giới

đã cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội, dược
liệu phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh cho nhân dân. phát triển lâm nghiệp làm
tăng ngân sách của huyện, tỉnh, giải quyết việc làm, góp phần xóa đói, giảm
nghèo, tạo thu nhập cho người dân sống ở vùng rừng. phát triển lâm nghiệp bền
vững góp phần thúc đẩy, hỗ trợ các lĩnh vực kinh tế khác phát triển và từ tác
dụng to lớn của rừng đối với việc cải tạo tự nhiên và làm chức năng phòng hộ.
Xuất phát từ thực trạng phát triển lâm nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên thời
gian qua. Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc, có vị trí
địa lý, khí hậu, thời tiết và điều kiện đất đai thổ nhưỡng rất thuận lợi cho phát
triển ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên, ngành lâm nghiệp vẫn phải đối mặt với
nhiều khó khăn, thách thức. Đó là tình trạng phá rừng, khai thác tự nhiên, sử
3


dụng đất lâm nghiệp trái phép còn diễn ra phức tạp ở một số địa phương. Năng
suất, chất lượng, giá trị rừng sản xuất thấp. Độ che phủ rừng tăng, nhưng chất
lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm (80% diện
tích rừng tự nhiên là rừng nghèo), giá trị thu nhập trên 1ha rừng trồng mới đạt
khoảng 7- 8 triệu đồng/ha/năm. Đáng lưu ý là, trình độ tay nghề lao động lâm
nghiệp thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trồng rừng vẫn chủ yếu là quảng canh.
Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào sản xuất còn nhiều
bất cập, thị trường máy móc, vật tư phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp gần như bị
bỏ ngỏ, phụ thuộc vào nhập khẩu. Bên cạnh đó, công tác quy hoạch, quản lý sử
dụng đất lâm nghiệp tại nhiều địa phương còn nhiều bất cập... Vì vậy, nghiên
cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển lâm nghiệp bền vững, đánh giá đúng
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; thực trạng phát triển lâm nghiệp, đề xuất
quan điểm, giải pháp phát triển lâm nghiệp bền vững trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở Thái Nguyên hiện nay là vấn đề
có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Phát triển
lâm nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn cao học.

Nội. Đã làm rõ đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu kinh tế lâm
nghiệp. Tài nguyên rừng và xây dựng vốn rừng. Lao động, vốn và đầu tư xây
dựng cơ bản trong lâm nghiệp. Hiệu quả kinh tế trong lâm nghiệp. Phương thức
sản xuất kinh doanh Nông - Lâm kết hợp. Chính sách kinh tế trong lâm nghiệp.
Những công trình khoa học trên đã đề cập một cách tương đối khái quát về
xây dựng và phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững. Nhưng vì nhiều lý do
khác nhau, các công trình mới chỉ đề cập ở phạm vi nghiên cứu rộng nên các tác
giả chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu, phân tích những đặc điểm trực tiếp tác
động đến phát triển lâm nghiệp của một tỉnh. Hệ thống giải pháp mà các tác giả
đưa ra mang tính tổng thể của cả vùng và cả nước. Trong đó phát triển lâm
nghiệp bền vững chưa được chú ý đúng mức trong nghiên cứu.
* Các luận văn, luận án nghiên cứu về lĩnh vực lâm nghiệp
Phan Đình Bình (2002), Phát triển kinh tế lâm nghiệp ở Lâm Đồng với
xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ
kinh tế, Học viện Chính trị quân sự. Công trình đã luận giải những vấn đề về
phát triển kinh tế lâm nghiệp nói chung và kinh tế lâm nghiệp ở Lâm Đồng,
gắn với xây dựng khu vực phòng thủ Tỉnh, trên cơ sở đó đề ra phương hướng
giải pháp cơ bản gắn phát triển kinh tế lâm nghiệp với xây dựng khu vực
phòng thủ của Tỉnh.
5


Nguyễn Võ Định (2003), Thực trạng và những giải pháp chủ yếu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình, Luận án
tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà nội. Đã phân tích cơ sở lý
luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp. Thực trạng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp ở Kỳ Sơn và nguyên nhân cản trở
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện. Một số giải pháp chủ yếu mang
tính khả thi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp lâm nghiệp của Kỳ
Sơn đến năm 2010.

xuất hàng hóa ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, Luận án phó tiến sỹ
khoa học kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. Công trình đã nêu
lên thực trạng, tiềm năng, ưu thế sản xuất của vùng trung du miền núi phía Bắc.
Phương hướng, giải pháp kinh tế nhằm đưa nông, lâm nghiệp vùng trung du miền
núi phía Bắc chuyển sang sản xuất hàng hóa một cách ổn định, nâng cao đời sống
kinh tế - xã hội nông thôn miền núi.
Nguyễn An Thịnh (2007), Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan phục vụ
phát triển bền vững nông, lâm nghiệp và du lịch huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Luận
án tiến sỹ Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội. Đã nêu lên tổng
quan các hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan và xây dựng luận điểm sinh thái
cảnh quan. Mối quan hệ phần sinh thái cảnh - quần xã sinh vật cộng đồng trong
cấu trúc sinh thái cảnh quan lãnh thổ Sa Pa. Nghiên cứu diễn thế sinh thái của các
cảnh quan điển hình. Xây dựng một số bài toán địa lý định lượng và mô hình hóa
để đánh giá cảnh quan.
Đinh Đức Thuận (2002), Kinh nghiệm phát triển lâm nghiệp xã hội ở
một số nước Châu Á và vận dụng vào điều kiện Việt Nam, Luận án tiến sỹ
kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Công trình đã nêu tổng
quan, cơ sở lâm nghiệp xã hội và phát triển lâm nghiệp xã hội, kinh nghiệm
phát triển lâm nghiệp xã hội ở một số nước châu Á, vận dụng kinh nghiệm
phát triển lâm nghiệp xã hội của một số nước châu Á vào điều kiện Việt Nam.
Các đề tài trên đã đề cập đến ngành kinh tế lâm nghiệp và nông lâm nghiệp,
đã luận giải cơ bản những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề ra những giải pháp
mang tính thực thi. Song dưới góc độ kinh tế chính trị, cho đến nay chưa có tác
giả nào nghiên cứu phát triển ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù lâm nghiệp, đặc biệt
là phát triển lâm nghiệp bền vững ở một địa phương.
* Các bài viết đăng trên các tạp chí đề cập đến phát triển lâm nghiệp
bền vững
7



8


4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển lâm nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên.
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu sâu lĩnh vực phát triển lâm
nghiệp bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường và nghiên cứu bền vững về
văn hóa, quốc phòng - an ninh.
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển lâm nghiệp
bền vững ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu, khảo sát số liệu,
tư liệu từ năm 2005 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin: phép
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của Kinh tế chính trị Mác Lênin, đó là: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp kết hợp lôgíc
lịch sử, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp và chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được hoàn thành sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực
tiễn về phát triển lâm nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng và ở các
tỉnh có thế mạnh về lâm nghiệp nói chung.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên
cứu và giảng dạy môn kinh tế chính trị Mác - Lênin ở các trường trong và
ngoài Quân đội; làm tài liệu tham khảo để các địa phương xây dựng chủ
trương, biện pháp phát triển lâm nghiệp bền vững.
7. Kết cấu của đề tài

chuyển gỗ) và tiến hành gia công chế biến hóa học hoặc cơ giới theo hình thức
công xưởng, cơ giới hóa toàn bộ (như xẻ gỗ, sản xuất gỗ dán, làm giấy, thủy
phân, đồ mộc, làm diêm, hóa học lâm sản, gỗ ván sàn tiêu chuẩn, gán sợi).
Ở Đức có 2 loại luận điểm: Một loại cho lâm nghiệp là hoạt động của
con người nhằm gây dựng và thu hoạch sản phẩm lâm nghiệp. Một loại nữa
coi lâm nghiệp là hoạt động có kế hoạch để trồng, chăm sóc và lợi dụng rừng.
10


Nhật Bản cho rằng: Lâm nghiệp là một thứ sự nghiệp sản xuất của đất
đai, trồng thành rừng bảo hộ và chăm sóc rừng nhằm mục đích sản xuất sản
phẩm lâm nghiệp. Nói một cách chính xác thì sản phẩm lâm nghiệp là mục
đích của lâm nghiệp, rừng là thủ đoạn.
Luận điểm của Mỹ khác hẳn Liên xô, Đức và Nhật tức là hợp nhất cả
lâm nghiệp và công nghiệp gỗ.
Ngoài những luận điểm trên, còn có một số học giả coi lâm nghiệp bao
hàm trong nông nghiệp với nghĩa rộng. Cho đó là một phân ngành của sự
nghiệp sản xuất thuộc về đất đai, là một bộ phận của nông nghiệp. Nông
nghiệp với nghĩa hẹp không bao gồm lâm nghiệp.
Các học giả Đức, Nhật… coi lâm nghiệp thuần túy là sự nghiệp sản xuất
thuộc về đất đai là một thứ luận điểm về sự nghiệp sản xuất nguyên thủy.
Trong điều kiện khoa học ngày một phát triển như ngày nay và càng phát triển
sau này, luận điểm trên không thật thuyết phục. Vì thế không được ủng hộ.
Hiện nay, ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới có những
quan điểm khác nhau về lâm nghiệp.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất
trong nền kinh tế quốc dân có nhiệm vụ trồng cây gây rừng, chăm sóc, nuôi
dưỡng, bảo vệ rừng nhằm cung cấp lâm sản, phòng hộ và bảo vệ môi trường sống.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất
độc lập của nền kinh tế quốc dân có nhiệm vụ trồng cây gây rừng, chăm sóc,

hệ phân phối thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân phối, lấy phân phối theo
kết quả lao động và hiệu quả kinh tế trong lâm nghiệp là chủ yếu, đồng thời một
phần phân phối phúc lợi xã hội.
1.1.2. Quan niệm, nội dung về phát triển lâm nghiệp bền vững ở tỉnh
Thái Nguyên
* Quan niệm về phát triển bền vững
Vào những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, quan niệm phát triển
bền vững (PTBV) được xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường, khi
cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã bùng nổ, chất lượng cuộc sống của xã
hội loài người đã có bước tiến bộ rõ rệt do năng suất lao động và khoa học
công nghệ mang lại. Của cải ngày càng được tạo ra nhiều và phong phú về
chủng loại đã phần nào thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con
người, nền văn minh nhân loại cũng được phát triển nhanh chóng. Song, cũng
12


chính từ sự phát triển ấy, con người chỉ chú trọng đến việc phát triển kinh tế
thật nhanh để thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao của mình, đã làm nảy
sinh vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng
một cách quá mức của cải, tài nguyên, năng lượng, thiên tai bão, lũ, ô nhiễm
và sự cố môi trường ngày càng gia tăng đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển
của xã hội, làm ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và làm giảm sút chất lượng
sống của con người và xã hội.
Để đảm bảo sự phát triển bền vững cần phải có sự kết hợp hài hòa cả về
kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường trên con đường phát triển, đó
chính là bảo đảm tái sản xuất xã hội bền vững, là sự lựa chọn xem xét lại
những hành vi ứng xử của con người với thiên nhiên, phương cách phát triển
kinh tế xã hội vào tiến trình phát triển của mình.
Vào đầu những năm 1980, Liên hiệp Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (UICN)
đã nêu lên vấn đề PTBV. Tới năm 1987, khái niệm này đã được Ủy ban quốc

tiến bộ xã hội, giáo dục và đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo
đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội.
Thứ ba, bền vững về môi trường và tài nguyên: Là các dạng tài nguyên
thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng một cách cân đối nhằm khôi phục
được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải
được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất,
nước, cảnh quan thiên nhiên…) cơ bản không bị các hoạt động của con người
làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh
hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người
được sống trong môi trường sạch.
Như vậy, PTBV có nội dung rộng và phong phú, không chỉ hàm nghĩa
phát triển về kinh tế bền vững mà còn bao hàm nội dung phát triển xã hội bền
vững và gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường sinh thái. Trong mỗi nội dung
có những thành tố riêng nhưng chúng luôn thống nhất biện chứng và quan hệ
hữu cơ với nhau tạo nên sự PTBV. Việc quán triệt và nhận thức đúng đắn nội
hàm của phát triển bền vững là phương pháp luận tốt khi thực hiện phát triển
lâm nghiệp bền vững phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay.
* Quan niệm về phát triển lâm nghiệp bền vững
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 Khóa XI (2013) đã
thông qua Nghị quyết về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường
14


quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, trong đó , nhấn mạnh tài nguyên là tài sản quốc
gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước, phải được đánh giá đầy đủ các giá
trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế; quản lý khai thác hợp lý, sớm dừng khai thác rừng tự nhiên, nâng độ che
phủ của rừng lên 45% vào năm 2020; bảo vệ, đẩy mạnh phục hồi, trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển,
rừng phòng hộ đầu nguồn, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng, bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật
hoang dã quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng; ưu tiên thực hiện sáng kiến quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính
thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng và nâng cao

15


bản sắc văn hóa dân tộc và củng cố quốc phòng - an ninh. Như vậy, phát triển
lâm nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên là sự kết hợp hài hòa của ba mặt cơ
bản: Bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, liên tục, ổn định, lâu dài; giải quyết có
hiệu quả các vấn đề về mặt xã hội; bảo vệ môi trường sinh thái và giữ vững bản
sắc văn hóa dân tộc, củng cố quốc phòng - an ninh.
Chủ thể của phát triển lâm nghiệp bền vững đó là: Đảng bộ, các cấp chính
quyền, các cơ quan ban ngành chức năng, lực lượng kiểm lâm, các thành phần
kinh tế và nhân dân trong Tỉnh.
Mục đích của phát triển lâm nghiệp bền vững là: Nhằm đảm bảo tăng trưởng
kinh tế liên tục, ổn định, lâu dài, đạt hiệu quả cao; chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hợp lý, tiến bộ; giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân,
góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội, xây dựng nông
thôn mới có đời sống vật chất, tinh thần ngày càng cao; gắn với bảo vệ, nâng
cao chất lượng môi trường sống, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc và củng cố
quốc phòng - an ninh.
Phương thức phát triển lâm nghiệp bền vững là: Tỉnh sử dụng đường lối,
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án; sử dụng các cơ chế,
chính sách, các hình thức, biện pháp để phát huy có hiệu quả các nguồn lực tác
động vào quá trình phát triển lâm nghiệp bền vững.
Nội dung của phát triển lâm nghiệp bền vững là: PTLNBV về kinh tế,
PTLNBV về xã hội, PTLNBV về môi trường và phát triển lâm nghiệp bền
vững về văn hóa, quốc phòng - an ninh.
* Nội dung phát triển lâm nghiệp bền vững
PTLNBV là sự phát triển dựa trên sự giải quyết hài hoà mối quan hệ
giữa kinh tế, xã hội và môi trường, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài,
giữa tự nhiên và con người. Đó là sự tăng trưởng kinh tế lâm nghiệp ổn định;
thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm

PTLNBV về môi trường là sự phát triển lâm nghiệp bảo đảm tính bền
vững của các hệ sinh thái, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có các biện
pháp để cải thiện và quản lý môi trường.

17


Thước đo môi trường của sự phát triển bền vững về lâm nghiệp có thể
đánh giá thông qua chất lượng các thành phần môi trường không khí, nước,
đất, sinh thái; mức độ duy trì các nguồn tài nguyên tái tạo; nguồn vốn của xã
hội dành cho các hoạt động bảo vệ môi trường rừng; khả năng kiểm soát của
chính quyền đối với các hoạt động kinh tế xã hội, tiềm ẩn các tác động tiêu
cực đối với môi trường rừng, ý thức bảo vệ môi trường của người dân... Để đo
mức độ bền vững về môi trường của sự phát triển lâm nghiệp người ta dùng
các chỉ số như mức độ ô nhiễm môi trường đất, không khí, nước, mức độ suy
giảm đa dạng sinh học, diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng...
Thứ tư, phát triển lâm nghiệp bền vững về văn hóa và quốc phòng - an ninh.
PTLNBV về văn hóa đó là duy trì và phát triển những giá trị bản sắc văn hóa
nhân văn của 8 dân tộc cùng sinh sống ở tỉnh Thái Nguyên, trong đó nổi bật là
văn hóa của tinh thần đoàn kết trong phát triển kinh tế lâm nghiệp của đồng
bào, dân tộc vùng rừng. Văn hóa của đức tính chịu khó, cần cù và sáng tạo
trong lao động, tinh thần tương thân, giúp đỡ nhau trong đời sống, trong lao
động sản xuất. Tinh thần dám chịu đựng khó khăn, gian khổ, bám đất, giữ
thôn, bản, chồng cây gây rừng...
Rừng của Thái Nguyên đã gắn bó với lịch sử vẻ vang trong cuộc đấu tranh
chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc, là nơi đầu nguồn của các con sông
như: sông Công, Sông Chợ Chu, sông Rong,... cung cấp nước cho các hồ đập
thủy lợi lớn như hồ Núi Cốc, hồ Bảo Linh, hồ Suối Lạnh… Bên cạnh những giá
trị kinh tế, bảo vệ môi trường cảnh quan, bảo vệ nguồn gen động thực vật quí
hiếm, còn có giá trị về mặt lịch sử văn hoá và nghiên cứu khoa học.

nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên
1.2.1. Sự cần thiết phát triển lâm nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên
Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò của phát triển lâm nghiệp bền vững
đối với kinh tế - xã hội ở tỉnh Thái Nguyên.
Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam đã xác định lâm nghiệp là
một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân, là bộ phận không thể tách rời của lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn. Lâm nghiệp đã cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng của xã hội, dược liệu phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh.
Một là, lâm nghiệp là ngành quan trọng và chủ yếu tạo nguồn gỗ và các
loại lâm sản ngoài gỗ, phục vụ cho nhu cầu của sản xuất và đời sống. Trong sản
19


xuất, gỗ được dùng làm nguyên liệu cho các ngành giấy, diêm, chế tạo các loại
công cụ sản xuất, làm gỗ trụ mỏ, tà vẹt, xây dựng các nhà xưởng… Trong đời
sống, gỗ dùng để xây dựng nhà cửa, đóng bàn ghế, giường, tủ và các loại vật
dụng khác. Ngoài ra, những phế phụ phẩm về gỗ được dùng làm chất đốt. Gỗ và
các sản phẩm từ gỗ có mặt hầu hết trong các lĩnh vực sản xuất và đời sống, với
các ưu điểm về độ bền, bóng, đẹp, dễ chế tạo và sử dụng gỗ là loại vật liệu khó
thay thế và nhu cầu về gỗ ngày càng cao, nhất là các loại gỗ quý.
Lâm nghiệp là ngành cung cấp các loại động vật, thực vật rừng là các thực
phẩm đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư, cung cấp
các dược liệu quý phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con
người. Về động vật, hầu hết các sản phẩm của các loại muông thú, trăn, rắn, ong,
xương hổ, sừng tê giác, mật gấu… có giá trị sử dụng cao và giá trị kinh tế lớn. Về
thực vật, có các loại cây, cỏ ở trong rừng với nhiều loại là các dược liệu quý, là
nguyên liệu quan trọng và chủ yếu của các phương thuốc chữa bệnh dùng trong
đông y. Ngoài ra, một số sản phẩm của cây rừng có thể làm lương thực, nguyên
liệu cho chế biến thực phẩm như mít, chuối… Một số loại chim, thú, cây (phong

Bốn là, phát triển lâm nghiệp bền vững còn góp phần ổn định chính trị xã
hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tỉnh.
PTLNBV không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công cuộc xây dựng và củng cố
quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tỉnh hiện nay. Trong lịch sử của dân tộc ta đã
chứng minh rằng, địa bàn rừng núi là căn cứ đầu tiên của các cuộc khởi nghĩa
chống lại sự nô dịch của các thế lực thù địch, xâm lược. Điển hình Thái Nguyên
là căn cứ ATK: Tên gọi tắt của An toàn Khu Trung ương trong thời kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954) trên địa bàn các huyện Định
Hoá, Đại Từ, Phú Lương của tỉnh Thái Nguyên. Đây là nơi đóng chốt các cơ
quan đầu não của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta; nơi ở, làm việc của Hồ Chủ
Tịch và các vị lãnh tụ kháng chiến; nơi ra đời những quyết định quan trọng nhất
để cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi. Rừng đã trở thành lá
chắn để che chở cho lực lượng cách mạng trước bom đạn của kẻ thù. Thắng lợi
của hai cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ có sự
đóng góp to lớn của rừng. Rừng núi là căn cứ địa cách mạng, là nơi bảo đảm bí
mật cho lực lượng cách mạng.
Hiện nay, để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thực hiện công
cuộc xây dựng và củng cố quốc phòng toàn dân thì phát triển lâm nghiệp (bộ
phận chủ yếu là rừng) có một vai trò đặc biệt quan trọng vì:

21


Thái Nguyên là vùng có lợi thế về phát triển lâm nghiệp, đây là nơi căn cứ
địa cách mạng có vị trí đặc biệt trong chiến lược quân sự của quốc gia, là trung
tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc, vùng trung du miền núi Đông Bắc.
Mặt khác, đây cũng là nơi kẻ thù đang nhòm ngó. Chúng lợi dụng những
khó khăn về kinh tế - xã hội ở vùng rừng núi, các thế lực thù địch đang dùng
nhiều âm mưu thủ đoạn thâm độc, nham hiểm để chống phá sự nghiệp xây

Khi những điền chủ Tây - ban - nha đem đốt sạch những rừng trên sườn núi
thuộc Cu - ba, để lấy tro làm phân bón cho cây cà phê và có thể thu được lợi
nhuận lớn nhất, thì họ đâu có quan tâm đến việc mưa rào vùng nhiệt đới đã bào
mòn mặt đất không có một tí gì che phủ chỉ còn trơ lại nham thạch.
Nhờ có tán rừng, nước mưa được chuyển tải dần từ lá xuống thân và
ngấm dần vào đất. Vì vậy, mưa không gây nên những trận lũ lụt lớn, nước trôi
tạo thành các dòng lớn trên mặt đất làm rửa trôi đất. Nếu nước mưa có đổ vào
các hồ, sông suối, nhờ đó cường độ dòng nước bị giảm bớt không gây nên
những tác động tiêu cực cho các công trình thủy lợi, giao thông và các cơ sở
hạ tầng khác. Nước thấm dần vào lòng đất và tạo nên nguồn nước ngầm
phong phú. Nhờ vậy, nguồn nước của các sông, hồ, giếng được bổ sung vào
mùa khô, cung cấp cho các nhu cầu sản xuất và đời sống của con người.
Rừng còn làm chức năng chắn gió, phòng hộ cho sản xuất và đời sống.
Gió là những tác nhân gây nên nhiều tác hại đối với sản xuất và đời sống. Nếu
không có sự ngăn chặn sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng. Để giảm thiểu
sự tác động của chúng cần nhờ đến các đai rừng tự nhiên hoặc nhân tạo. Điều
đó cho thấy vai trò quan trọng của rừng với tư cách là sản phẩm của lâm
nghiệp trong chức năng phòng hộ.
Rừng là chức năng điều hòa khí hậu, làm trong sạch môi trường sinh
thái. Sản xuất lâm nghiệp với các hoạt động trồng và bảo vệ rừng đã tạo nên
những cánh rừng xanh tốt. Đây là những nhà máy khổng lồ sản xuất khí ô xi
(O2) cung cấp cho sự sống của con người, đồng thời lấy khí các bon (CO 2) do
con người thải ra trong quá trình sản xuất và sinh hoạt. Nếu không có các hoạt
động sinh học của cây xanh (nhờ hoạt động của nông nghiệp và lâm nghiệp),
con người sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí khổng lồ để sản xuất O 2 và làm
sạch không khí, hạ bớt nồng độ CO2. Hiện nay, xã hội đang sử dụng các sản
phẩm này miễn phí và coi đó như là sự ban phát của tự nhiên. Đã đến lúc cần
phải làm rõ chức năng này của lâm nghiệp để có những đánh giá công bằng
về hoạt động của nông, lâm nghiệp và có sự đầu tư, phát triển cho thỏa đáng.
23



Bên cạnh những điểm mạnh đã đạt được trong thời gian qua, phát triển
lâm nghiệp còn có những yếu tố thiếu tính bền vững đó là:
Một số diện tích đất trống, đồi núi trọc bị xói mòn, rửa trôi, độ phì kém,
gây khó khăn trong việc trồng rừng; đặc biệt, là trồng rừng bằng các cây gỗ
lớn bản địa; Đời sống người dân miền núi trong Tỉnh còn nhiều khó khăn và
thiếu thốn; tăng trưởng của ngành lâm nghiệp còn thấp và chưa bền vững, lợi
nhuận thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài nguyên rừng chưa được khai
thác sử dụng hiệu quả, nhất là lâm sản ngoài gỗ. Năng suất và chất lượng rừng
trồng cũng như rừng tự nhiên thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển
kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và
xuất khẩu; tác động của ngành lâm nghiệp đối với việc xoá đói giảm nghèo còn
hạn chế, chưa tạo ra nhiều việc làm, thu nhập của người làm nghề rừng còn thấp
và chưa ổn định; hiện tượng cháy rừng vẫn còn xẩy ra ở một số nơi trên địa bàn
Tỉnh; tình trạng khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra nhưng
chưa có giải pháp đồng bộ để ngăn chặn. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn
chậm, chủng loại cây trồng chưa đa dạng.
Một số khu rừng đặc dụng có 1 số diện tích quy hoạch chưa phù hợp với
diễn biến thực tế hiện nay, nên khó khăn cho công tác quản lý và bảo vệ rừng;
việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế
(Vườn quốc gia Tam Đảo, khu đặc dụng ATK); quy hoạch rừng phòng hộ:
Ranh giới rừng phòng hộ ở một số nơi thiếu bền vững gây khó khăn cho công
tác quản lý và bảo vệ rừng. Quy hoạch phát triển rừng sản xuất chưa chú
trọng tới thị trường tiêu thụ, vùng nguyên liệu chưa gắn với cơ sở sản xuất và
chế biến gây khó khăn cho người sản xuất nguyên liệu. Quy hoạch rừng sản
xuất nặng về quy mô vùng, chưa coi trọng việc đầu tư công nghệ trong việc
nâng cao năng suất và sản lượng rừng; vùng nguyên liệu mới chỉ sản xuất ra
các loại sản phẩm hiện có, chưa chú trọng tới việc sản xuất ra những loại sản
phẩm thị trường cần. Việc quản lý, sử dụng đất quy hoạch cho mục đích lâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status