DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công ty cổ phần
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng
Giá trị sản xuất
Giá trị tăng thêm
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
Hợp đồng xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
Hệ số gia tăng vốn - sản lượng
Khu công nghiệp
Kinh tế - xã hội
Nghị định - Chính phủ
Phát triển công nghiệp
Tổ chức Thương mại thế giới
Tổng sản phẩm quốc nội
Trách nhiệm hữu hạn
Thu nhập doanh nghiệp
Thu nhập cá nhân
Tiểu thủ công nghiệp
Ủy ban nhân dân
Liên Hợp Quốc
Tổng sản phẩm quốc nội
Sản xuất công nghiệp
Hệ thống thông tin di động toàn cầu
Đa truy nhập phân chia theo mã
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1
Trang
3
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
1.1
CÔNG NGHIỆP Ở ĐỊA PHƯƠNG
Những vấn đề lý luận chung, tiêu chí đánh giá và các
1.2
nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp
Kinh nghiệm phát triển công nghiệp ở một số địa
phương và bài học rút ra cho quận Dương Kinh, thành
Chương 2
10
25
phố Hải Phòng
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
QUẬN
DƯƠNG
ĐỊNH HƯỚNGVÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH
3.1
PHỐ HẢI PHÒNG THỜI GIAN TỚI
Định hướng phát triển công nghiệp quận Dương Kinh,
3.2
thành phố Hải Phòng đến năm 2020
Giải pháp phát triển công nghiệp của quận Dương Kinh
thành phố Hải Phòng đến năm 2020
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
73
73
79
89
90
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Nghị quyết 32/NQ-TW ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng
và phát triển thành phố Hải phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
một mặt xác định vị trí vai trò của thành phố trong sự phát triển chung của
quy mô và tốc độ tăng trưởng thu hút đầu tư công nghiệp trên địa bàn đã đạt
và vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra, sản xuất công nghiệp - xây dựng tiếp tục
phát triển khá do có sự cải thiện về môi trường đầu tư và khuyến khích phát
triển các thành phần kinh tế xã hội, nhiều sản phẩm công nghiệp có sức tiêu
thụ khá tại thị trường trong nước và xuất khẩu góp phần tích cực chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trên địa bàn Quận. Các dự án đầu tư công nghiệp đã thu hút
hơn mười nghìn lao động, thuộc quận Dương Kinh và các quận, huyện khác
trong thành phố Hải Phòng. Giải quyết việc làm và thu nhập khá ổn định cho
một bộ phận không nhỏ dân cư sinh sống trên địa bàn quận tích cực giải
phóng năng lực lao động xã hội, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển,
góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên, để phát triển công nghiệp của quận có trọng tâm, vững chắc,
từng bước hiện đại, tạo ra những bước đột phá phù hợp với bối cảnh phát triển
chung của thành phố và đất nước, đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ về thực
trạng công nghiệp để có cái nhìn tổng quát, từ đó đưa ra được định hướng và
giải pháp cho sự phát triển bền vững công nghiệp của quận. Với lý do đó,
chọn đề tài: “Phát triển công nghiệp tại quận Dương Kinh, thành phố Hải
Phòng” làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế chính trị của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phát triển công nghiệp không phải là một đề tài mới mẻ, đã có rất nhiều
những đề tài, công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
- Đề tài “Xây dựng lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế
Đồng Nai đến năm 2020” của tập thể tác giả PGS.TS Ngô Quang Minh, TS
Phạm Văn Sáng, TS Nguyễn Hữu Thắng, TS Đặng Ngọc Lợi (đồng chủ biên)
(2005), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Đề tài đã làm rõ ý luận cơ bản về
4
chính sách phát triển công nghiệp tại địa phương trong quá trình thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phân tích làm rõ quan hệ tác động của các
triển thủ công nghiệp theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực
trạng của phát triển thủ công nghiệp tại đồng bằng sông Hồng từ đó đưa ra
giải pháp của sự phát triển định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại đồng
bằng sông Hồng.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Lục “Phát triển tiểu thủ
công nghiệp trong kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở đô thị
Việt Nam hiện nay” năm 1996. Đã đề cập tới lý thuyết về phát triển thủ
công nghiệp trong kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, những thuận lợi, khó
khăn đặt ra cũng như giải pháp trong phát triển tiểu thủ công nghiệp trong nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Minh Phương “Phát triển kết cấu hạ
tầng giao thông đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”
đề cập đến vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng giao thông là điều kiện cũng như
yêu cầu để có thể thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Long “Vai trò của thương mại
trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam” năm 2004. Đề cập tới lý thuyết giữa thương mại và phát
triển kinh tế, từ đó làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn vai trò của thương mại
đối với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập nền kinh tế
toàn cầu.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Công Toàn “Công nghiệp với sự
phát triển của tỉnh Long An” năm 2007. Đề cập tới lý thuyết phát triển công
nghiệp cũng như tầm quan trọng của công nghiệp đối với sự phát triển của
nền kinh tế của tỉnh. Đồng thời phân tích những mặt được và chưa được của
quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh.
6
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lý Thế Dương “Đầu tư phát triển tại các
khu công nghiệp khu vực phía Bắc: Thực trạng và giải pháp” năm 2013. Đề
cập đến lý thuyết phát triển đầu tư, cho ta thấy thực trạng đầu tư phát triển tại
khu công nghiệp khu vực phía Bắc và một số giải pháp nhằm tăng cường đầu
tư phát triển tại các khu công nghiệp khu vực phía Bắc.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp
chí, báo, các bài tham luận tại các hội thảo quốc tế và trong nước đề cập đến
sự phát triển của công nghiệp.
Mỗi đề tài, công trình nghiên cứu đều đem đến một kết quả, cũng như một
lời gửi gắm của chính tác giả. Chính vì vậy mà qua đề tài này thì tôi hy vọng có
thể góp một phần nhỏ của mình vào việc định hướng cũng như giải quyết vấn đề
phát triển công nghiệp của quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát
triển công nghiệp ở địa phương, từ đó nêu ra định hướng và giải pháp phát triển
công nghiệp ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đến năm 2020.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích rõ những vấn đề lý luận như: quan niệm, nội dung, tiêu chí,
các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp ở địa phương;
- Khảo sát kinh nghiệm phát triển công nghiệp ở một số địa phương
trong nước rút ra bài học cho quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng;
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân của
phát triển công nghiệp ở quận Dương Kinh trong thời gian qua;
- Đưa ra định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển công nghiệp
ở quận Dương Kinh đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển công nghiệp.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Nghiên cứu sự phát triển công nghiệp của 1 quận thuộc
1.1. Những vấn đề lý luận chung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố
tác động đến phát triển công nghiệp
9
Trong hệ thống kinh tế quốc dân, công nghiệp là một ngành kinh tế
thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất. Công nghiệp có phạm vi hoạt động hết sức
rộng, bao gồm từ việc khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên (công nghiệp
khai thác) đến việc chế biến các loại khoáng sản và nông, lâm, thủy sản (công
nghiệp chế biến). Công nghiệp sản xuất tất cả các loại tư liệu lao động (máy
móc, thiết bị, dụng cụ), nhiều loại đối tượng lao động (nguyên, nhiên vật liệu,
năng lượng) và sản phẩm tiêu dùng đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời
sống. Công nghiệp còn thực hiện việc sửa chữa một số loại tư liệu sản xuất và
vật phẩm tiêu dùng (dịch vụ mang tính chất công nghiệp).
Sự ra đời và phát triển công nghiệp gắn liền với sự phát triển của tiến
bộ kỹ thuật và phân công lao động xã hội. Trong thời kỳ đầu của xã hội loài
người, đã có một số hoạt động mang tính chất công nghiệp sản xuất các loại
sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất (công cụ sản xuất), đời sống (vật phẩm
tiêu dùng) và chiến đấu (vũ khí). Những loại hoạt động sản xuất này tồn tại
trong khuôn khổ nền kinh tế tự cấp với trình độ hết sức thấp kém: sản phẩm
sản xuất ra không phải là hàng hóa, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của chính
người sản xuất và công đồng của họ. Đến phân công lao động lớn lần thứ hai,
một số người sản xuất được chuyên môn hóa vào các hoạt động sản xuất
mang tính chất công nghiệp và trở thành những người thợ thủ công chuyên
nghiệp. Sản phẩm của họ là hàng hóa-sản xuất để trao đổi mua bán trên thị
trường. Đó là hình thức sơ khai, manh nha đầu tiên của nền đại công nghiệp
hiện đại ngày nay. Với các nước tư bản đi đầu thực hiện công nghiệp hóa (vào
thế kỷ 17-18), nền công nghiệp lớn hiện đại ngày nay của họ được phát triển
qua 3 giai đoạn: Hiệp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp
cơ khí. Các giai đoạn này phát triển của công nghiệp không chỉ khác nhau về
ngành công nghiệp. Kế hoạch hóa cơ cấu ngành công nghiệp là nhiệm vụ đặc
biệt quan trọng của công tác quản lý công nghiệp.
- Căn cứ vào trình độ trang bị kỹ thuật, công nghiệp được chia thành
công nghiệp hiện đại và thủ công nghiệp. Cách phân chia này cho phép thấy
11
được trình độ phát triển công nghiệp và nhiệm vụ đổi mới nâng cao trình độ
kỹ thuật của sản xuất công nghiệp. Tuy thủ công nghiệp có trình độ trang bị
kỹ thuật thấp và do đó, năng xuất lao động thấp, nhưng lại có vai trò quan
trọng trong việc thu hút lao động và cung cấp hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong
nước và xuất khẩu.
- Căn cứ vào quan hệ sở hữu của các doanh nghiệp, công nghiệp được
chia thành công nghiệp quốc doanh (Nhà nước), công nghiệp ngoài quốc
doanh và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong quá trình đổi mới
kinh tế ở nước ta, đã hình thành cơ cấu công nghiệp nhiều thành phần, các
thành phần kinh tế đó tạo thành những trụ cột của nề công nghiệp và nền kinh
tế quốc dân.
Mỗi cách phân loại nêu trên có tác dụng riêng trong công tác quản lý
công nghiệp và chúng thường được sử dụng đồng thời trong quản lý nhằm
những mục tiêu cụ thể riêng.
1.1.1.Khái niệm phát triển công nghiệp
Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, lĩnh vực sản xuất hàng hóa
vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục
vụ sản xuất kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn,
được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.
Công nghiệp gồm ba loại hoạt động chủ yếu là khai thác nguồn nguyên liệu
nguyên thủy (khoáng sản, động thực vật); sản xuất và chế biến sản phẩm của công
nghiệp khai thác và sản phẩm của nông nghiệp; các ngành sữa chữa, khôi phục giá
trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và sinh hoạt.
nghiệp, khu chế xuất tận dụng được những lợi thế so sánh của địa phương,
qua đó hình thành nên các sản phẩm chủ lực, mũi nhọn cho địa phương.
Tác động của sự phát triển công nghiệp tới xã hội: phát triển công nghiệp
nói riêng cũng như phát triển kinh tế nói chung luôn có sự phát triển song hành
của các lĩnh vực xã hội và mục tiêu phát triển của mọi quá trình phát triển suy cho
cùng vẫn phải hướng tới con người. Vì vậy nâng cao trình độ phát triển nguồn
nhân lực trong phát triển công nghiệp và thông qua phát triển công nghiệp thực
13
hiện quá trình xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cũng như giảm bất bình
đẳng xã hội là những mục tiêu sâu xa cần vươn tới của quá trình phát triển này, tác
động của sự phát triển công nghiệp tới xã hội - là một nội dung đòi hỏi phải có
quá trình nghiên cứu sâu để phản ánh được sự tác động không chỉ biểu hiện qua
tiêu thức số lượng mà cần kết hợp chung của nhiều tiêu thức số lượng. Do đó,
trong quá trình nghiên cứu của tôi chỉ đề cập chủ yếu đến ba nội dung cơ bản là
quy mô và tốc độ tăng trưởng của phát triển công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành công nghiệp và kết quả phát triển công nghiệp.
Trong quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp được coi là ngành chủ
đạo của nền kinh tế thông qua việc tạo ra thu nhập cho đất nước cũng như địa
phương, cung cấp hàng hóa trung gian cho các quá trình sản xuất cũng như
cung cấp hàng hóa tiêu dùng cuối cùng cho nền kinh tế, tạo ra nguồn thu từ
xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Công nghiệp được đánh giá là
ngành chủ đạo của nền kinh tế, do đó phát triển công nghiệp là rất cần thiết
đối với mỗi địa phương, sự cần thiết này thể hiện ở:
- Công nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển của địa phương;
- Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp và dịch vụ phát triển theo hướng CNH - HĐH;
- Công nghiệp quyết định sự thành công của quá trình CNH - HĐH;
- Phát triển công nghiệp cũng là góp phần phát triển lực lượng sản xuất.
nghiệp kém phát triển thì tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp đạt ở
mức cao, tuy nhiên quy mô của ngành lại thấp hơn rất nhiều so với khu vực,
nước có nền công nghiệp phát triển. Đồng thời, sự phát triển này lại mang
tính không bền vững, đôi khi lại phát triển quá nóng, thể hiện chất lượng
phát triển còn hạn chế.
* Sự hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất
Công nghiệp là ngành có thể tận dụng tốt lợi thế so sánh của địa
phương, đất nước để phát triển với quy mô lớn và hiện đại nhờ áp dụng được
công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Do đó tất yếu của quá
trình phát triển công nghiệp là sự hình thành nên các khu, cụm, điểm công
15
nghiệp, khu chế xuất tập trung, đây cũng chính là một trong những biểu hiện
cụ thể cho kết quả sản xuất của quá trình sản xuất công nghiệp.
Khu công nghiệp là nơi có vị trí thuận lợi cho việc sản xuất, thương
mại, đầu tư trên cơ sở chính sách ưu đãi về kết cấu hạ tầng, cơ chế pháp lý,
môi trường đầu tư..., với đặc trưng của mô hình sản xuất quy mô lớn, mức độ
tập trung và trình độ chuyên môn cao nên có năng suất lao động cao và hiệu
quả, là đầu tàu, mũi nhọn cho sự phát triển công nghiệp của địa phương. Vì
vậy mà số lượng, quy mô, mức độ, hiệu quả hoạt động của các KCN là tiêu
chí để đánh giá kết quả sản xuất công nghiệp của địa phương.
* Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp chủ lực
Sự hình thành các sản phẩm chủ lực là kết quả của quá trình sản xuất
công nghiệp của địa phương. Các sản phẩm này số lượng nhiều hay ít, đa
dạng về mẫu mã, chủng loại hay không, chất lượng như thế nào chính là tiêu
thức phản ánh kết quả của sản xuất công nghiệp. Đây là tiêu chí đánh giá khả
năng đáp ứng nhu cầu trên thị trường cũng như chất lượng và khả năng cạnh
tranh của các sản phẩm trên thị trường đối với các sản phẩm của khu vực khác.
Năng lực cạnh tranh hay chất lượng của các sản phẩm chủ lực đến đâu
hiện đại hóa. Thông thường cơ cấu phân ngành phản ảnh sát hơn khía cạnh
chất lượng và mức độ hiện đại hóa của nền kinh tế. Ví dụ, những ngành công
nghiệp chế biến đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, vốn lớn hay công nghệ hiện đại
như cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp, dược phẩm, hóa mỹ phẩm... chiếm tỷ
trọng cao chứng tỏ nền kinh tế đạt mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao
hơn so với những ngành công nghiệp khai khoáng, sơ chế nông sản, công
nghiệp lắp ráp...
Ngoài ra một số chỉ tiêu kinh tế khác cũng thường được sử dụng là cơ cấu
giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế, chỉ tiêu này phản ánh giá trị
hàng năm được sản xuất ra thuộc sở hữu của khu vực kinh tế nào, Nhà nước, khu
vực tư nhân hay khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ tiêu này cho thấy được
mức độ tham gia đầu tư cho phát triển công nghiệp của các thành phần kinh tế.
1.1.3. Các nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp
* Nhân tố tự nhiên
17
- Vị trí địa lý
Nhân tố này là các điều kiện về vị trí, phân bố địa lý của một địa
phương đối với các địa phương hay vùng lãnh thổ khác. Nhân tố này là cơ sở
ban đầu ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, vùng nguyên liệu cho
phát triển công nghiệp. Các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, gần
các trục đường giao thông, bến cảng, nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn về thị
trường các yếu tố đầu vào (nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực) và thị trường
tiêu thụ đầu ra ... có ảnh hưởng quan trọng cho sự lựa chọn của các nhà đầu tư
khi quyết định đầu tư vào phát triển công nghiệp ở địa phương hay không vì
nếu địa phương có vị trí thuận lợi, đặc biệt về giao thông thì việc giao lưu,
vận chuyển hàng hóa được diễn ra dễ dàng, tiết kiệm thời gian và chi phí, tăng
lợi nhuận cho nhà đầu tư.
- Tài nguyên thiên nhiên
Dân số và lao động được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh
tế nói chung và công nghiệp nói riêng. Các yếu tố về chất lượng nguồn nhân
lực như trình độ dân trí, khả năng tiếp thu kỹ thuật của lao động tạo thành cơ
sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao. Nguồn nhân
lực dồi dào cũng như giá cả rẻ cũng là yếu tố để thu hút phát triển công
nghiệp của địa phương cũng như thu hút được nguồn vốn đầu tư từ nước
ngoài. Việt Nam là một nước có gần 93 triệu dân (năm 2014) cung cấp một
nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, cơ cấu lao động trẻ, năng động, cần
cù... đây là một lợi thế của nước ta trong quá trình phát triển các ngành, các
lĩnh vực, đặc biệt là ngành công nghiệp thiên về sử dụng nhiều lao động như
dệt may, chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp gia công. Tuy nhiên thì
chất lượng của nguồn nhân lực vẫn luôn là bài toán thách thức đối với không
chỉ các doanh nghiệp mà của cả nền kinh tế, đòi hỏi phải có các chính sách
đúng đắn và kịp thời.
Nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp bao gồm nhân lực quản lý, cán
bộ kỹ thuật và công nhân lao động với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ
thuật lao động phù hợp, tác phong lao động và ý thức tổ chức kỷ luật tốt. Nếu địa
phương nào hay quốc gia nào có nguồn lao độngcó chất lượng, trình độ lành nghề,
19
năng lực chuyên môn cao sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư vì họ sẽ làm cho hoạt động
sản xuất kinh doanh tốt hơn, bên cạnh đó là tiết kiệm được chi phí để đào tạo.
- Nguồn vốn
Nguồn vốn đầu tư là một yếu tố tác động trực tiếp tới phát triển công
nghiệp, đây còn là đầu vào không thể thiếu được trong quá trình phát triển
công nghiệp cũng như phát triển nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang
phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển
đều rất thiếu vốn, do đó vấn đề huy động vốn được coi là vấn đề lớn nhất
xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn để tránh gây ô nhiễm môi trường.
Hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm: đây là một trong những yếu
tố không thể thiếu đối với các doanh nghiệp vì mọi hoạt động của doanh
nghiệp liên quan đến nhu cầu về vốn như mua bán nguyên vật liệu đầu vào,
đầu ra, đầu tư chứng khoán, bất động sản... Nếu chỉ sử dụng nguồn vốn tự có
của doanh nghiệp thì khó có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất với quy mô
lớn được, do đó mà cần có sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng để
đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Bên
cạnh đó thì là hệ thống bảo hiểm cho người lao động, bảo hiểm cho cơ sở vật
chất của các doanh nghiệp cũng rất cần thiết.
Hệ thống các hoạt động dịch vụ khác: nhà ở cho người lao động, quán ăn,
khu vui chơi giải trí, trường học, bệnh viện... cũng rất cần thiết vì hệ thống này
giúp người lao động có thể làm việc, nghỉ ngơi thuận tiện hơn. Các dịch vụ này
phát triển góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động.
- Nhu cầu thị trường
Các quan hệ cung - cầu, giá cả cũng như dung lượng của thị trường là
những yếu tố tác động trực tiếp tới sự phát triển công nghiệp mỗi quốc gia.
Thị trường tác động trực tiếp tới sự hình thành và phát triển của các ngành
công nghiệp vì đây là những tín hiệu để các doanh nghiệp phân bổ các nguồn
lực vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Hạt nhân cơ bản của nền công
nghiệp là các doanh nghiệp và là những người phân tích và nắm bắt được quy
mô và xu hướng vận động của thị trường khi quyết định đầu tư kinh doanh
một loại sản phẩm nào đó. Mỗi doanh nghiệp phải hướng ra thị trường, phải
xuất phát từ quan hệ cung cầu hàng hóa và các hoạt động dịch vụ của thị
21
trường để từ đó hoạch định chiến lược kinh doanh cho riêng mình. Thị trường
tác động vào đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp và làm biến đổi nhiệm vụ
- Việc thực hiện các nội dung của tiến bộ khoa học công nghệ trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội đòi hỏi phát triển mạnh một số
ngành công nghiệp như việc thực hiện điện khí hóa phụ thuộc trực tiếp vào
ngành công nghiệp điện.
- Tiến bộ khoa học công nghệ không những tạo ra khả năng sản xuất
mới, đẩy nhanh nhịp độ phát triển một số ngành công nghiệp mà còn tạo ra
nhu cầu mới. Chính những nhu cầu mới này đòi hỏi sự ra đời và phát triển
một số ngành công nghiệp. Tiến bộ khoa học công nghệ hạn chế tác động bất
lợi của tự nhiên, cho phép phát triển công nghiệp ngay cả khi điều kiện tự
nhiên bất lợi. Cụ thể, sự phát triển của công nghiệp hóa dầu sẽ tạo ra những
loại nguyên liệu phong phú, bổ sung cho nguồn nguyên liệu tự nhiên.
Sự ảnh hưởng của nhân tố này tới phát triển công nghiệp phụ thuộc vào
chính sách khoa học công nghệ của từng vùng cũng như của đất nước.
* Nhân tố thể chế
Cơ chế chính sách của Nhà nước có vai trò rất quan trọng với việc phát
triển công nghiệp trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Nó đề ra mục tiêu,
phương hướng và các chiến lược, quy hoạch kế hoạch... cho từng thời kỳ,
từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nói chung và sự phát triển công nghiệp
nói riêng của đất nước. Huy động phân bổ, điều chỉnh nguồn lực theo yêu cầu
của phát triển công nghiệp. Đề ra các chính sách cần thiết để khai thác mọi
tiềm năng trong và ngoài nước để thực hiện nhanh và hiệu quả quá trình phát
triển bền vững công nghiệp. Chính sách phù hợp sẽ thúc đẩy nhanh việc phát
triển công nghiệp, phát triển kinh tế xã hội cũng như đảm bảo các yếu tố bền
vững về môi trường, con người hiện tại cũng như tương lai.
Cơ chế chính sách của nhà nước có vai trò quyết định trong việc xây
dựng cơ cấu và định hướng ngành công phát triển công nghiệp nào (khai thác
hay chế biến...). Các chính sách thu hút vốn đầu tư các nguồn trong và ngoài
nước, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư bằng cách tạo
23
1.2.1.Kinh nghiệm phát triển công nghiệp ở một số địa phương
* Huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
24
Bình Xuyên là một huyện nằm gần trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh
Phúc, cách thành phố Vĩnh Yên 7 km dọc theo quốc lộ 2, cách Thủ đô Hà Nội
khoảng 50km theo hướng Tây - Tây Bắc, có diện tích tự nhiên là 14.847,31ha.
Huyện có vị trí địa lý thuận tiện cho sự giao lưu hàng hóa, phát triển dịch vụ và
là huyện trọng điểm phát triển khu công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc.
Bình Xuyên là huyện chiếm tỷ trọng cao về tỷ trọng công nghiệp trên
địa bàn so với các thành phố, thị xã của tỉnh Vĩnh Phúc. Trong thời gian qua,
huyện Bình Xuyên đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về phát triển
kinh tế, đặc biệt là phát triển công nghiệp, cụ thể:
Giai đoạn 2008-2014, kinh tế Bình Xuyên đã có bước phát triển khá
với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 28,57%/năm, trong đó khu vực công
nghiệp - TTCN và xây dựng đạt 37,15%/năm.
Cơ cấu kinh tế của huyện trong thời kỳ 2005 - 2014 đã chuyển dịch
mạnh mẽ theo hướng phát triển công nghiệp. Năm 2008 cơ cấu khu vực công
nghiệp - xây dựng trên địa bàn huyện chiếm 53,6% lên 83,50% năm 2014.
Đặc biệt, công nghiệp - xây dựng đã liên tục khởi sắc trong nhiều năm, đã thu
hút được nhiều dự án đầu tư, hình thành mới 04 khu công nghiệp với tỷ lệ giải
phóng mặt bằng khoảng 50%/ tổng diện tích các khu, cụm công nghiệp trên
địa bàn huyện.
Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế của huyện vẫn bộc lộ sự phát triển chưa
hài hòa khi so sánh với tỉnh Vĩnh Phúc và cả nước: nền kinh tế của huyện
tập trung nhiều vào khu vực công nghiệp - xây dựng khi mà ngành dịch
vụ còn chiếm tỷ trọng quá nhỏ (năm 2008 là 82,7/5,92 và năm 2014 là
89,63/6,34%). Tỷ lệ giữa khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực
dịch vụ của hai mốc so sánh cho thấy khu vực dịch vụ của huyện còn nhỏ