LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP hỗ TRỢ NGÀNH cơ KHÍ ở TỈNH ĐỒNG NAI - Pdf 43

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1: PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH
CƠ KHÍ Ở TỈNH ĐỒNG NAI - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số vấn đề chung về công nghiệp cơ khí và công
nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí
1.2. Quan niệm, nội dung và những nhân tố tác động đến phát
triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí ở tỉnh Đồng Nai
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
HỖ TRỢ NGÀNH CƠ KHÍ Ở TỈNH ĐỒNG NAI
2.1. Thành tựu và hạn chế trong phát triển công nghiệp hỗ
trợ ngành cơ khí ở tỉnh Đồng Nai
2.2. Nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và những vấn đề
đặt ra cần giải quyết
Chương 3: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH
CƠ KHÍ Ở TỈNH ĐỒNG NAI THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm cơ bản phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành
cơ khí ở tỉnh Đồng Nai thời gian tới
3.2. Giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành
cơ khí ở tỉnh Đồng Nai thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ, nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội (CNXH),

mới với mức độ tự do hoá (mở cửa) sâu với “tiêu chuẩn cao” hơn nhiều so với
quy định của WTO, xoá bỏ hầu hết các dòng thuế, mở cửa mạnh các lĩnh vực
hàng hoá, dịch vụ,… Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng
công nghiệp lần 4, hàng hoá, công đoạn sản xuất sử dụng lao động giản đơn
và giá trị gia tăng thấp, hiện là các lĩnh vực xuất khẩu chủ lực của nước ta sẽ
giảm dần lợi thế. Trong bối cảnh đó, muốn tồn tại và phát triển, muốn nâng
cao năng lực cạnh tranh tốt hơn thì tỉnh Đồng Nai cần chú trọng phát triển
CNHTNCK, xem đây là bệ phóng cho các ngành nghề khác. Từ lý do trên tác
giả chọn vấn đề: “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí ở tỉnh Đồng
Nai” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển CNHTNCK là một trong những vấn đề quan trọng của quá trình
CNH, HĐH đất nước. Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan tới các ngành CNHT ở Việt Nam nói chung, trong đó có CNHTNCK, cụ thể là:
* Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, chỉ ra những vấn
đề có tính quy luật và xu hướng vận động của CNHTNCK có các công trình:
Trần Văn Thọ (2006), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp
hóa Việt Nam, Nxb CTQG. Tác giả đã đưa ra khái niệm: “Công nghiệp phụ trợ là
khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản
xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm
bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng có thể bao gồm cả những sản
phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế”. Tác giả cũng nhấn mạnh đến vai trò
của công nghiệp phụ trợ trong tiến trình CNH, HĐH rút ngắn của Việt Nam, đề
xuất một số giả pháp phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa (DNNVV) ở nước ta hiện nay.


Trần Đình Thiên (2007), Phát triển công nghiệp hỗ trợ - đánh giá thực trạng và hệ
quả, Nxb Khoa học xã hội. Tác giả đã chỉ ra thực trạng phát triển CNHT ở một số ngành
cụ thể đó là: ngành sản xuất xe máy, ngành chế tạo và sản xuất ôtô, ngành điện tử, ngành

nhân khách quan, chủ quan của những thành tựu, hạn chế về phát triển CNHTNCK ở
thành phố Hà Nội. Luận văn đã xác định 4 quan điểm cơ bản, 5 giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển CNHTNCK ở thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, khung lý luận còn
“mờ”; chưa chỉ ra nguyên nhân khách quan dẫn đến hạn chế trong phát triển
CNHTNCK ở thành phố Hà Nội; chưa làm rõ được vị trí, vai trò của các giải pháp.
* Dưới góc độ nghiên cứu về vai trò của công nghiệp hỗ trợ ngành cơ
khí, chỉ ra kinh nghiệm và bài học đối với Việt Nam có các công trình sau:
Nguyễn Kế Tuấn (2004), “Phát triển công nghiệp phụ trợ trong chiến lược
phát triển công nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 85. Tác giả đã
đề cập tới vai trò của các ngành CNHT đối với quốc gia đang phát triển như Việt
Nam. Tác giả cho rằng CNHT là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và
nâng cao giá trị gia tăng của ngành sản xuất sản phẩm thuộc khu vực hạ nguồn,
giảm xuất khẩu sản phẩm thô và nhập khẩu nguyên liệu, mở rộng khả năng thu hút
FDI, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Theo tác giả nhà
nước cần đầu tư nhiều hơn theo chiều sâu vào một số ngành như sản xuất phôi thép,
các linh kiện, phụ kiện hỗ trợ trong công nghiệp ô tô, xe máy,… Xác định loại
nguyên liệu nào nhập khẩu và loại nào cần và có thể đầu tư trong nước.
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - Trung tâm thông tin tư liệu
(2010), Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ - thực trạng, định hướng và giải
pháp. Bài viết đã nêu ra 4 vai trò của CNHT đó là: Tăng sức cạnh tranh của sản
phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa
mở rộng vừa chuyên sâu; thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp, đồng
thời, kích thích phát triển DNNVV trong nước; thúc đẩy việc chuyển giao công
nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Góp phần tạo công ăn việc làm,


thu hút lao động dư thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực
lân cận. Trên cơ sở đó, bài viết đã đánh giá thực trạng, đề xuất định hướng và giải
pháp phát triển ngành CNHT của Việt Nam trong thời gian tới.
* Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách và giải pháp phát triển CNHTNCK

như những hạn chế và thiếu sót ở mức độ nhiều, ít là không thể tránh khỏi. Hơn nữa, ở
phạm vi địa phương, theo nhận biết của tác giả, đến nay chưa có công trình khoa học
nào nghiên cứu vấn đề CNHTNCK ở tỉnh Đồng Nai dưới dạng luận văn thạc sĩ kinh tế
chính trị một cách có hệ thống, từ cơ sở lý luận, thực trạng, giải pháp phát triển
CNHTNCK. Vì vậy, việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu của tác giả là cần thiết ở tỉnh
Đồng Nai hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển CNHTNCK, đề
xuất quan điểm và giải pháp phát triển CNHTNCK ở tỉnh Đồng Nai thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển CNHTNCK ở tỉnh
Đồng Nai hiện nay.
- Đánh giá thực trạng phát triển CNHTNCK ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ 2010 đến nay.
- Đề xuất quan điểm, giải pháp đẩy mạnh phát triển CNHTNCK ở tỉnh
Đồng Nai thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí.
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn chỉ giới hạn việc nghiên cứu trong nhóm ngành
thuộc các lĩnh vực CNHTNCK sản xuất chi tiết, linh kiện, phụ tùng, nguyên
phụ liệu bằng kim loại phục vụ sản xuất các sản phẩm công nghiệp cơ khí của
máy nông nghiệp, máy động lực cỡ nhỏ, các chi tiết nội địa hoá ôtô, xe máy,...
Về không gian: Nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu khảo sát số liệu, tư liệu từ
năm 2010 đến nay.


5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận

1.1. Một số vấn đề chung về công nghiệp cơ khí và công nghiệp hỗ
trợ ngành cơ khí
1.1.1. Quan niệm về công nghiệp cơ khí và công nghiệp
hỗ trợ ngành cơ khí
* Quan niệm về công nghiệp cơ khí
C.Mác và Ph.Ăng - ghen chỉ ra rằng, đại công nghiệp cơ khí phát triển dưới chủ
nghĩa tư bản (CNTB) đã tạo ra tiền đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội
(CNXH). Đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất và kỹ thuật duy nhất của CNXH.
Quá trình phát triển của đại công nghiệp cơ khí dưới chế độ TBCN đã tạo ra LLSX xã
hội hùng mạnh. Sự phát triển của LLSX ấy làm cho mâu thuẫn cơ bản của CNTB mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất và hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa gay gắt. Mâu thuẫn cơ bản đó đẩy xã hội TBCN vào cảnh hỗn loạn, khủng
khoảng triền miên, đi đến sụp đổ. Đại công nghiệp cơ khí đã sinh ra, rèn luyện và đoàn
kết giai cấp vô sản, giai cấp bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất; do đó, đây là giai cấp có
sứ mệnh lịch sử làm cách mạng XHCN, thủ tiêu CNTB, xây dựng xã hội XHCN.
C.Mác và Ph.Ăng - ghen còn chỉ rõ, sau khi thoát khỏi xiềng xích của chế độ tư hữu
TBCN, đại công nghiệp cơ khí được phát triển một cách có kế hoạch, tạo ra khả năng
mở rộng vô hạn nền sản xuất xã hội, xóa bỏ lối phân công cũ, xóa bỏ sự đối lập giữa
thành thị và nông thôn tạo nên một thế hệ những con người mới phát triển toàn diện,
thỏa mãn nhu cầu vật chất và văn hóa tăng nên không ngừng của người lao động.
Dựa vào những nguyên lý của C.Mác và Ph.Ăng - ghen, V.I.Lênin đã chỉ ra:
Thực chất của sự quá độ từ CNTB lên CNXH là ở chỗ các nhiệm vụ chính trị giữ địa
vị phụ thuộc so với các nhiệm vụ kinh tế. Nhiệm vụ kinh tế ấy chỉ có thể được giải
quyết “với điều kiện là những tiền đề cơ bản về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị của
sự quá độ đó đã được CNTB tạo ra đầy đủ. Không có nền sản xuất lớn cơ khí, không
có mạng lưới đường sắt, bưu điện và điện báo tương đối phát triển, không có một


mạng lưới các cơ quan giáo dục quốc dân ít nhiều phát triển, thì tuyệt đối không thể
giải quyết hai nhiệm vụ đó một cách có hệ thống với quy mô toàn dân” [40, tr.163].
V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò nền tảng của công nghiệp cơ khí. Người xác

hai mặt giá trị và hiện vật của tổng sản phẩm xã hội là tiền đề lý luận quan
trọng để nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội. Là hiện vật, tổng sản phẩm xã
hội được C.Mác phân chia thành hai loại: Tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu
dùng, và do đó nền sản xuất xã hội được chia thành hai khu vực: Khu vực I:
sản xuất tư liệu sản xuất; khu vực II: sản xuất tư liệu tiêu dùng.
Căn cứ vào cơ sở lý luận này mỗi khu vực sản xuất lại bao gồm rất nhiều
ngành, và số lượng những ngành này ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển
của phân công lao động xã hội. Trên thực tế, ranh giới giữa khu vực I và II
không phải lúc nào cũng rõ ràng, có thể một số ngành vừa thuộc khu vực I, vừa
thuộc khu vực II. Nhưng nếu xét về mặt sản xuất ra nguyên liệu, linh kiện phụ
tùng phục vụ cho công nghiệp cơ khí lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh thì
CNHTNCK thuộc khu vực I.
V.I.Lênin đã áp dụng lý luận của C.Mác về tái sản xuất tư bản xã hội để
nghiên cứu sự hình thành thị trường tư bản chủ nghĩa do kết quả trực tiếp của
việc phát triển lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật.
V.I.Lênin đã chú ý đến sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản. Trong cả hai
khu vực, cấu tạo hữu cơ của tư bản đều tăng lên, nhưng cấu tạo hữu cơ khu
vực I tăng nhanh hơn khu vực II. Căn cứ vào thực tế đó và phân tích sự phát
triển của tư bản xã hội trong nhiều năm và đã nêu ra một biểu so sánh về sự
tăng lên của các bộ phận khác nhau của tổng sản phẩm xã hội. Trên cơ sở đó
V.I.Lênin đã rút ra quy luật kinh tế của tái sản xuất tư bản mở rộng trong điều
kiện kỹ thuật ngày càng tiến bộ (quy luật ưu tiên phát triển sản xuất tư liệu
sản xuất): Sản xuất tư liệu sản xuất để tạo ra tư liệu sản xuất phát triển nhanh
nhất, sau đến sản xuất tư liệu sản xuất để tạo ra tư liệu tiêu dùng; và cuối cùng
chậm nhất là sự phát triển của sản xuất tư liệu tiêu dùng.


Như vậy, trên cơ sở lý luận của C.Mác - Lênin thì phát triển
CNHTNCK là vấn đề có tính quy luật, sản xuất CNHTNCK là sản xuất để tạo
ra tư liệu sản xuất, sau đến sản xuất tư liệu sản xuất để tạo ra tư liệu tiêu dùng.

Quan niệm CNHTNCK của Thái Lan đã đi cụ thể vào một số ngành công
nghiệp nhất định, trong khi đó quan niệm của Mỹ và Nhật Bản lại bao chùm chung
ngành công nghiệp. Nhưng nhìn chung, các khái niệm về CNHT trên đây đều nhấn
mạnh tầm quan trọng của các ngành công nghiệp sản xuất đầu vào cho thành phẩm
và CNHT nằm ở phần giữa của quá trình sản xuất. Tuy nhiên, mỗi khái niệm lại xác
định một phạm vi khác nhau. Nếu không định nghĩa một cách cụ thể thì khó có thể
xác định được đó là ngành công nghiệp nào và hỗ trợ cho cái gì và cho ai.
Quan niệm của Việt Nam về công nghiệp hỗ trợ (bao gồm cả CNHTNCK):
Năm 2007, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) ban hành Quyết định số
34, ngày 31 - 7 - 2007 về Phê duyệt Quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2010, tầm
nhìn đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Công nghiệp hỗ trợ là hệ thống các cơ sở sản
xuất và công nghệ sản xuất các sản phẩm đầu vào là nguyên vật liệu, linh phụ kiện,
phụ tùng,… phục vụ cho khâu lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng”.
Ngày 24 - 2 - 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
12/2011/QĐ - TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ,
trong đó CNHT được xác định là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ
tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản
xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng.
Sản phẩm CNHT là sản phẩm của các ngành cơ khí chế tạo, điện tử tin học, sản
xuất lắp ráp ô tô, dệt may, da - giầy và CNHT cho phát triển công nghiệp công
nghệ cao, gồm: Vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm sản xuất
tại Việt Nam để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh.
Ngày 03 tháng 11 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số
111/2015/NĐ - CP về phát triển CNHT, trong đó CNHT được xác định: “Công
nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện


và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh”. Quan điểm này dựa
trên cơ sở các ngành công nghiệp hạ nguồn của chuỗi sản xuất và mỗi một ngành
công nghiệp hạ nguồn lại có từ một đến vài ngành sản xuất khác nhau cùng liên

Từ sự phân tích trên, theo tác giả: Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí là
ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng và phụ kiện để
cung cấp cho ngành công nghiệp cơ khí sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn
chỉnh.
1.1.2. Đặc điểm chủ yếu của công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí
So với các ngành CNHT khác, CNHTNCK có những đặc điểm riêng
nên việc nhận thức đúng vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định
vai trò, quan điểm phát triển và quản lý ngành. Các đặc điểm đó là:
Thứ nhất, CNHTNCK là ngành phức tạp, đòi hỏi độ chính xác
cao và bao phủ một phạm vi rộng trong các ngành chế tạo, sửa
chữa, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh
Là các thành phần thiết bị của máy móc công nghiệp hiện đại như: Trục
chuyển động, tay quay, con lăn, trục vít, thanh truyền lực, linh kiện, cụm linh
kiện thuộc cơ cấu điều khiển, thiết bị công nghiệp chuyên dụng.
Các sản phẩm CNHTNCK cần độ bền của sản phẩm xét trên vật liệu
kim loại, độ bền trong quá trình hoạt động với tốc độ cao; nhiều chi tiết nhỏ
nhưng lại đảm bảo cho các bộ phận và cả bộ máy có thể hoạt động liên tục, ổn
định với công suất lớn. Do đó, các yêu cầu độ chính xác về kích thước của sản
phẩm chỉ cho phép khoảng sai số 1/1000 mm.
Dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ, sự phân
công lao động xã hội diễn ra sâu, rộng. Để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh
cần có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp với nhiều công đoạn như đúc, rèn,
dập, hàn kỹ thuật cao; các loại khuôn kỹ thuật; các chi tiết chính xác (vi gia
công),... Có những bộ phận tinh xảo có giá trị gia tăng lớn, đòi hỏi kỹ thuật
sản xuất, công nghệ cao mà một doanh nghiệp khó có thể và thường không tự
mình sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm. Vì vậy, đòi hỏi các CNHTNCK phải
đa dạng về công nghệ, bao phủ bao phủ một phạm vi rộng trong các ngành
chế tạo, sửa chữa, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh.



phẩm. Và ngược lại, CNHTNCK lại cần các ngành khác hỗ trợ cho mình như:
Điện - điện tử, cơ điện tử và tự động hóa; công nghệ thông tin; công nghệ hóa
học; công nghệ vật liệu; công nghệ môi trường;... Như vậy, để hệ thống
CNHTNCK phát triển, ngoài việc phát triển các ngành công nghiệp cơ bản, thì
cần có sự phát triển của các ngành CNHT khác.
Các đặc điểm chủ yếu của CNHTNCK có quan hệ chặt chẽ với nhau,
phản ánh mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với các quan hệ kinh tế trong
quá trình tái sản xuất; phản ánh mối quan hệ giữa trình độ KHCN với thị
trường. Do đó, cần nhận thức đúng các đặc điểm trên và mối quan hệ giữa
chúng để tác động có hiệu quả đến sự phát triển của CNHTNCK.
2.1.3. Vai trò của phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí
Thứ nhất, công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí góp phần nâng cao năng
suất, chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh cho hàng công nghiệp cơ khí
Khả năng cạnh tranh của hàng công nghiệp cơ khí phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ
bản: Chi phí, chất lượng và thời gian cung cấp hàng hóa. Trong đó, nâng cao năng
suất, chất lượng và giảm chi phí sản xuất có thể coi là nhân tố quan trọng hàng đầu.
Bởi vậy, phát triển CNHTNCK sẽ đem lại lợi thế kinh tế nhờ quy mô sản xuất vừa
và nhỏ sẽ làm cho: (1) chi phí cố định hay chi phí khấu hao trung bình giảm; (2)
chuyên môn hóa cao và gia tăng năng suất; (3) giúp doanh nghiệp có thể đầu tư
máy móc hiện đại, nghiên cứu phát triển và xây dựng thương hiệu, thị phần.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay, phát triển CNHTNCK theo
hướng hiện đại, tập trung vào chuyên môn hóa sản xuất một hoặc một số công đoạn
của sản phẩm, đầu tư nghiên cứu phát triển công đoạn có tính nền tảng, có lợi thế so
sánh sẽ nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế; góp phần nâng cao sức cạnh tranh của
sản phẩm cơ khí do chủ động trong nguồn cung ứng, cắt giảm chi phí vận chuyển,
lưu kho, tận dụng nhân công rẻ và nguồn nguyên liệu ngay tại chỗ, tăng hiệu quả
sản xuất và sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp.
Bảo đảm tính chủ động cho nền kinh tế và hạn chế nhập siêu: Việc cung ứng
nguyên vật liệu, linh kiện, các bán thành phẩm ngay trong địa bàn tỉnh làm cho nền công




Do khu vực đầu tư nước ngoài thường sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng
công nghệ tiên tiến đã có trong nước nên khi đầu tư vào Việt Nam các doanh nghiệp
cơ khí sẽ mang theo máy móc, công nghệ hiện đại chuyển giao vào tỉnh tiếp nhận đầu
tư. Mặt khác, thông qua mối quan hệ với doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp
CNHTNCK nội địa phải tự đổi mới, ứng dụng công nghệ sản xuất tương ứng để sản
xuất sản phẩm CNHTNCK đáp yêu cầu về chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cơ
khí đặt hàng. Như vậy, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, CNHTNCK phát triển sẽ góp phần
quan trọng trong đổi mới sản xuất, nâng cao nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại.
Thứ tư, công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí tạo tiền đề cho công nghiệp
quốc phòng nâng cao năng lực sản xuất, lắp ráp, sửa chữa vũ khí trang bị
Cơ khí là ngành quan trọng, là ngành công nghiệp nền tảng để đảm bảo
nội lực cho các ngành công nghiệp khác, kể cả trong lĩnh vực an ninh, quốc
phòng. Về thực chất, công nghiệp quốc phòng bắt nguồn từ một số lĩnh vực
công nghiệp dân dụng (trong đó có CNHTNCK) được nâng cao và chuyên
dụng hóa để sản xuất sản phẩm quân sự. Các hoạt động nghiên cứu, thiết kế,
sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật của công nghiệp quốc phòng như
sản xuất vật tư, nguyên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất hàng quốc phòng; các
loại vũ khí, khí tài, quân sự; đạn pháo chiến dịch; súng bộ binh; khí tài thông
tin, tác chiến điện tử; phương tiện giám sát, cảnh giới, quản lý vùng trời, vùng
biển; đóng tàu tên lửa, tàu pháo, các loại tàu tuần tiễu, cứu hộ cứu nạn, …
đều có vai trò quan trọng của CNHTNCK.
Như vậy, phát triển CNHTNCK để vừa đáp ứng nhu cầu công nghiệp
cơ khí vừa chủ động đáp ứng nhu cầu công nghiệp quốc phòng trước mắt và
hướng tới mục tiêu lâu dài; vừa tận dụng kế thừa ở mức cao nhất cơ sở vật
chất, kỹ thuật hiện có, tranh thủ đầu tư phát triển cho phù hợp với khả năng
của nền kinh tế, chuẩn bị mọi mặt cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Thứ năm, công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí góp phần quan trọng vào sự
ổn định kinh tế, xã hội, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

động có mục đích của chủ thể nhằm làm biến đổi về quy mô, chất lượng và cơ


cấu công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu
cầu của ngành công nghiệp cơ khí sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh.
Nội hàm khái niệm phát triển CNHTNCK ở tỉnh Đồng Nai được hiểu
trên một số khía cạnh cơ bản sau đây:
Mục đích phát triển CNHTNCK ở tỉnh Đồng Nai: Thúc đẩy CNHTNCK là
qúa trình tăng tiến (lớn lên) về mọi mặt cả quy mô, nâng cao chất lượng và hoàn
thiện cơ cấu, là qúa trình biến đổi KT - XH và cấu trúc theo hướng tiến bộ nhằm
khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của Tỉnh, tạo ra những vật liệu,
phụ tùng, linh kiện, phụ kiện,… có chất lượng và giá trị gia tăng cao, đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của các doanh nghiệp trong nước và xuất khẩu.
Chủ thể và lực lượng tham gia phát triển CNHTNCK ở tỉnh Đồng Nai:
Là tổ chức Đảng, chính quyền các cấp trong Tỉnh, các doanh nghiệp và người
lao động trong lĩnh vực CNHTNCK. Mỗi chủ thể có vị trí, vai trò khác nhau
trong phát triển CNHTNCK.
Đối với Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan, ban ngành chức năng trong Tỉnh cần
sử dụng các công cụ và chính sách tác động vào quá trình SX-KD nhằm đảm bảo cho
CNHTNCK hoạt động hiệu quả, giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia.
Đối với các doanh nghiệp CNHTNCK thuộc mọi thành phần kinh tế trong
Tỉnh cần nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở các cấp, có kế
hoạch tổ chức SX-KD ổn định, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và
tính cạnh tranh của sản phẩm CNHTNCK đáp ứng với nhu cầu của thị trường.
Phương thức phát triển: Kết hợp vận dụng các quy luật kinh tế thị
trường và các chính sách của hệ thống chính quyền các cấp để tác động đến
phát triển CNHTNCK; kết hợp tăng cường đầu tư, xây dựng mới các doanh
nghiệp CNHTNCK với mở rộng, nâng cao hiệu quả SX-KD của các doanh
nghiệp CNHTNCK đã có trên địa bàn.
Như vậy, phát triển là một qúa trình, vận động liên tục theo thời gian và

doanh nghiệp CNHTNCK là nội dung thể hiện rõ nét nhất về quy mô của


doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tổng số vốn lớn, tất yếu doanh nghiệp đó
có quy mô lớn, bất kể doanh nghiệp đó sử dụng nhiều hay ít lao động.
Doanh thu trung bình của doanh nghiệp CNHTNCK: Doanh thu trung
bình của doanh nghiệp CNHTNCK cũng là nhân tố thể hiện rõ nét về quy mô
của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có doanh thu lớn, đồng nghĩa doanh
nghiệp đó có quy mô lớn và ngược lại.
Tuy nhiên, với đặc thù của ngành CNHTNCK chủ yếu là do các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tham gia, nên quy mô doanh nghiệp CNHTNCK có thể
được thể hiện ở khả năng đáp ứng yêu cầu cung cấp nguyên liệu, linh phụ
kiện cho các doanh nghiệp lắp ráp ngành công nghiệp cơ khí.
Thứ hai, nâng cao chất lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ
trợ ngành cơ khí
* Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (chủ thể lao động): Nguồn nhân lực
là nhân tố ảnh hưởng có tính quyết định đến chất lượng sản phẩm CNHTNCK.
Nguồn nhân lực gồm: Nguồn nhân lực tham gia trực tiếp và nguồn nhân lực tham
gia gián tiếp vào quá trình sản xuất CNHTNCK. Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực đòi hỏi phải nâng cao một cách toàn diện cả trí lực, thể lực và phẩm chất tâm lý
xã hội của người lao động theo yêu cầu của Ngành như: Tình trạng sức khỏe; trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là khả
năng nghiên cứu, sáng tạo, tiếp thu tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới phục
vụ p.triển CNHTNCK - đây được coi là những yếu tố cứng. Phẩm chất cá nhân yếu tố mềm: Đạo đức nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tính hợp tác, tính chủ động, ý
thức trách nhiệm, sự chuyên tâm, sự trung thành, tận tụy, gắn bó,… phù hợp với
công việc của CNHTNCK. Đây là tiêu chí rất quan trọng, nhất là trong điều kiện cơ
chế thị trường và hội nhập quốc tế, nhưng lại khó lượng hóa để đánh giá.
* Lựa chọn công nghệ sản xuất hợp lý, nâng cao trình độ kỹ thuật của
sản xuất (công cụ lao động): Công nghệ sẽ quyết định đến công suất, hiệu quả
sản xuất của CNHTNCK. Công nghệ phải bảo đảm tính tiên tiến trong thời điểm


CNHTNCK được thể hiện khi mà tỷ lệ sản phẩm thuộc các yếu tố đầu vào của các
doanh nghiệp lắp ráp mua của các doanh nghiệp sản xuất trong nước cao.
Giá trị và tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm CNHTNCK cũng thể hiện chất
lượng của nó trước yêu cầu cao về tiêu chuẩn kỹ thuật của các nhà sản xuất nước
ngoài. Giá trị và tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm CNHTNCK càng tăng chứng tỏ chất
lượng phát triển của CNHTNCK càng tốt.
Thứ ba, xây dựng cơ cấu CNHTNCK hợp lý
Cơ cấu CNHTNCK là cấu trúc bên trong của quá trình phân công lao động
xã hội. Đó là các quan hệ tỷ lệ cũng như xu hướng vận động, phát triển CNHTNCK
với cơ cấu vùng sản xuất, cơ cấu thành phần kinh tế.
* Cơ cấu ngành: CNHTNCK bao gồm nhiều phân ngành như CNHTNCK
chế tạo; CNHTNCK phục vụ lĩnh vực giao thông vận tải; CNHTNCK máy công cụ
phục vụ nông nghiệp; CNHTNCK tiêu dùng; CNHTNCK xây dựng;… những
phân ngành này cần được quan tâm phát triển với tỷ lệ phù hợp theo mối quan hệ
giữa các ngành với ngành. Trước hết cần có sự chuyển dịch theo hướng tăng số
lượng và tỷ trọng các sản phẩm chất lượng cao, tập trung phát triển CNHTNCK
cho các mặt hàng máy nông nghiệp, máy động lực cỡ nhỏ, các chi tiết nội địa hóa
ôtô, xe máy và các phương tiện vận tải hiện đại; hạn chế sự phát triển những sản
phẩm CNHTNCK nằm ngoài danh mục Chính phủ giao cho tỉnh Đồng Nai.
* Cơ cấu vùng sản xuất CNHTNCK: Quá trình hình thành, phát triển và
hoàn thiện cơ cấu vùng sản xuất CNHTNCK phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát
triển của phân công lao động theo vùng (lãnh thổ). Ngược lại, trình độ phát triển
của phân công lao động theo vùng lại phụ thuộc vào trình độ của CNHTNCK
mà động lực của nó là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ. Vì vậy,
việc xây dựng các doanh nghiệp sản xuất CNHTNCK cần có sự xắp xếp lại một
cách hợp lý để tiến hành tổ chức sản xuất. Tăng cường đầu tư, nâng cấp các
doanh nghiệp CNHTNCK sẵn có trong Tỉnh. Quy hoạch một số khu CNHT để
tận dụng tốt cơ sở hạ tầng, thu hút đầu tư, liên kết hỗ trợ trong sản xuất
CNHTNCK. Cân đối việc đặt các nhà máy sản xuất sản phẩm CNHTNCK một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status