DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
An sinh xã hội
Bảo hiểm y tế
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội đồng Nhân dân
Khoa học công nghệ
Kế hoạch hóa gia đình
Lao động - Thương binh và Xã hội
Mặt trận Tổ quốc
Mục tiêu Quốc gia
Ngân sách nhà nước
Tổng cục thống kê
Ủy ban Nhân dân
Xóa đói giảm nghèo
Chữ viết tắt
ASXH
BHYT
CNH, HĐH
HĐND
KHCN
KHHGĐ
LĐ-TB&XH
MTTQ
MTQG
NSNN
TCTK
UBND
XĐGN
Tổng quan về tình hình nghèo ở thành phố Hà Nội thời gian qua
36
Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
trong công tác giảm nghèo ở thành phố Hà Nội
46
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN GIẢM
NGHÈO Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI
3.1.
Quan điểm cơ bản thực hiện giảm nghèo ở thành phố Hà
Nội thời gian tới
3.2.
65
65
Giải pháp chủ yếu thực hiện giảm nghèo ở thành phố Hà
Nội thời gian tới
73
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
luôn coi vấn đề giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội của đất nước.
Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị của đất nước, trong những năm
qua, bám sát và thực hiện đúng mục tiêu, yêu cầu trong các Nghị quyết của
3
Đảng đề ra, việc thực hiện công tác giảm nghèo đã có sự chuẩn bị chu đáo,
phần nào đã tạo được yếu tố chủ động tích cực và có nhiều chuyển biến, đời
sống nhân dân được nâng cao, các chính sách ASXH được thực hiện một cách
có hiệu quả. Nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau,
công tác giảm nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội còn nhiều vấn đề bất cập cả
về chủ trương, chính sách cũng như công tác tổ chức thực hiện. Đặc biệt là sau
khi mở rộng địa giới hành chính, kinh tế, chính trị, xã hội đã có sự thay đổi lớn
cả về quy mô và cơ cấu. Để kinh tế - xã hội ổn định phát triển đi lên và từng
bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Thủ đô là một thách
thức khá lớn vì hiện nay tỉ lệ hộ nghèo, người nghèo còn khá cao. Giảm nghèo,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của Thủ đô
trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là tiếp tục làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về công
tác giảm nghèo, từ đó đề xuất những quan điểm và giải pháp thực hiện giảm
nghèo trên địa bàn. Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Giảm nghèo ở thành
phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên nghành kinh tế chính
trị
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghèo đói không phải là một vấn đề gì mới mẻ với mọi quốc gia.
Nghèo đói gây cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội, và kìm hãm nguồn
lực của quốc gia khi sức sản xuất không có đủ điều kiện để phát triển, và các
quỹ phúc lợi của xã hội phải chia sẻ để hỗ trợ cho những khu vực có mức thu
nhập thuộc loại nghèo. Giảm nghèo trở thành vấn đề xuyên suốt trong các
đánh giá thực trạng mặt trái của cơ chế thị trường. Đưa ra những giải pháp cơ
bản nhằm khắc phục mặt trái của sự tác động trong cơ chế thị trường đến
phân hóa giàu nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta.
* Nhóm công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn, luận án có:
Vũ Thị Hiểu (1996), Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần
xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam, Luận án PTSKH Kinh tế, Đại học
5
kinh tế quốc dân, Hà Nội. Tác giả đã phân tích tình hình sử dụng lao động và
thực trạng đói nghèo ở Việt Nam, khẳng định sự cần thiết phải nâng cao hiệu
quả sử dụng lao động để góp phần xóa đói giảm nghèo từ đó đề xuất các giải
pháp giải quyết để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động.
Đỗ Thế Hạnh (1998), Thực trạng và những giải pháp kinh tế chủ yếu
nhằm xoá đói giảm nghèo ở vùng định canh định cư tỉnh Thanh Hoá, Luận
văn thạc sĩ kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Nguyễn Thị Hằng (1999) Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ kinh tế. Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lí
luận và thực tiễn của vấn đề xóa đói giảm nghèo, khảo sát đánh giá thực trạng
vấn đề nghèo đói ở nông thôn nước ta. Tác giả đã phân tích và làm rõ những
nguyên nhân nghèo đói, đặc biệt là những nguyên nhân chủ quan từ đó đề ra
một số giải pháp.
Nguyễn Thị Mai Hồng (2000), Phân hóa giàu nghèo trong quá trình
chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, thực trang, xu hướng và giải
pháp, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tác
giả đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa phân hóa giàu nghèo và kinh tế thị
trường. Thực trạng phân hóa giàu nghèo khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh
tế thị trường, dự báo những xu hướng biến động trong qúa trình phát triển
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới, trên cơ sở đó đưa ra một số
quan điểm và giải pháp nhằm giảm thiểu sự phân hóa giàu nghèo trong nền
Trên cớ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế sự phân hóa
giàu, nghèo trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Nguyễn Thị Nhung (2013), Giải pháp xóa đói giảm nghèo nhằm phát
triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế ,
Trường đại học Kinh tế quốc dân. Luận án đã tập trung phân tích thực tiễn xóa
đói giảm nghèo ở Việt Nam, điều tra, khảo sát để đánh giá tình hình nghèo đói
ở các tỉnh Tây Bắc về: đặc điểm nghèo đói, khó khăn hạn chế, nguyên nhân
hạn chế trong việc nâng cao vai trò của xóa đói giảm nghèo đối với phát triển
7
kinh tế xã hội. Từ đó, đưa ra quan điểm, phương hướng và một số giải pháp cơ
bản để thực hiện xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế - xã hội.
* Nhóm tài liệu nghiên cứu dưới dạng các bài viết, bài báo khoa học có:
Vũ Tuấn Anh (1997), "Những tiêu chuẩn đánh giá mức nghèo ở nông
thôn", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (227).
Thanh Hùng (2006), "Xoá đói giảm nghèo ở vùng Bắc Trung Bộ", Tạp
chí Cộng sản, (5).
GS, TS Hoàng Chí Bảo (2014), “An sinh xã hội với ổn định và phát
triển bền vững ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vấn đề đói
nghèo dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn cũng như các
phương hướng, giải pháp. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa
học nào dưới góc độ kinh tế chính trị nghiên cứu về giảm nghèo ở thành phố
Hà Nội hiện nay. Đề tài mà tác giả lựa chọn nghiên cứu không trùng lặp với
những công trình khoa học đã nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải những vấn đề về công tác giảm nghèo, phân tích thực trạng giảm
nghèo ở thành phố Hà Nội hiện nay, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm
nghiên cứu và giảng dạy về vấn đề giảm nghèo.
7. Kết cấu của luận văn
Bao gồm: phần mở đầu, nội dung: 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢM NGHÈO
1.1. Giảm nghèo và sự cần thiết giảm nghèo
1.1.1. Quan niệm về nghèo, giảm nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo
* Quan niệm nghèo
Nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội, tồn tại khách quan trong lịch
sử phát triển của mỗi quốc gia. Trong các xã hội cộng sản nguyên thuỷ, chiếm
hữu nô lệ, phong kiến nghèo có nguyên nhân chủ yếu và trước hết là do trình
độ lực lượng sản xuất còn thấp kém, sản phẩm thặng dư trong xã hội không
nhiều, thêm vào đó là tình trạng áp bức giai cấp nặng nề trong các xã hội có
giai cấp nên quyền phân phối sản phẩm lao động làm ra thuộc về một ít người về giai cấp thống trị. Dưới chủ nghĩa tư bản với nền sản xuất lớn đại công
nghiệp, đã tạo ra một năng suất lao động cao hơn hẳn các xã hội trước và với
một lực lượng sản xuất phát triển, đã mở ra khả năng to lớn để con người có
thể đáp ứng được các nhu cầu phát triển của mình. Tuy nhiên, trong xã hội
này nghèo vẫn tồn tại song hành cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tình
trạng nghèo dưới chủ nghĩa tư bản đã làm cho đối kháng giai cấp ngày càng
gay gắt và sự phân cực xã hội sâu sắc.
Chính vì vậy, vấn đề nghèo đã được nhiều nhà khoa học, nhiều học giả,
nhiều trường phái trong lịch sử cũng như hiện tại quan tâm nghiên cứu. Tuy
nhiên, mỗi thời đại khác nhau người ta có nhiều cách lí giải khác nhau về vấn
đề nghèo, nguyên nhân và cách giải quyết vấn đề này.
chủ xã hội của nhân dân lao động thì nghèo đói sẽ tự động biến mất, xã hội sẽ
ngay lập tức đạt tới sự phồn thịnh, mọi người ai cũng giàu có. Song thực tế lại
không phải như vậy, mặc dù trong chủ nghĩa xã hội, không còn đối kháng giai
cấp, nhưng những sự khác biệt của người lao động vẫn luôn tồn tại. Sự khác
biệt về phẩm chất, năng lực, trí tuệ, thể lực, cơ hội của những người lao động
đã dẫn đến sự khác nhau về kết quả lao động có ích mà họ cống hiến cho xã
hội, và do đó khác nhau về thu nhập do kết quả lao động đó mang lại.
Hiện nay, trên thế giới, các học giả thường chủ yếu đề cập đến nghèo
và nghèo khổ mà ít đế cập đến khái niệm đói. Ở mỗi quốc gia đều sử dụng
một khái niệm để xác định mức độ nghèo và đưa ra các chỉ số nghèo để xác
định giới hạn nghèo khổ. Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia được xác định
bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu
11
nhập mà một hộ gia đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục
vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành.
Theo quan điểm của Chương trình Phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP):
Người nghèo là những người có thu nhập dưới đường ranh giới nghèo, được xác
định bằng số tiền cho nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở... Trước mắt là lương thực,
thực phẩm để duy trì sự sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng 2.100 - 2.300
Calo/người/ngày [47].
Đây là định nghĩa chung nhất về nghèo, tuy nhiên, những tiêu chí về
nghèo chưa được đề cập cụ thể vì ở đây còn phải tính đến yếu tố lịch sử, đến
trình độ phát triển kinh tế, phong tục tập quán của mỗi địa phương. Song có
thể nói, định nghĩa đã đề cập được đến nội dung cơ bản của vấn đề nghèo là
nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu,
cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại về mặt sinh học của con người.
Khi xác định quan điểm về nghèo thông thường các học giả hiện nay phân
thành hai khái niệm, nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối
xét và giải quyết đói nghèo phải từ bản chất chế độ kinh tế - xã hội, đồng thời
phải có quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể. Phải có cách nhìn một cách tổng
thể trong tính thống nhất cả kinh tế và xã hội.
Trên cơ sở tham khảo các khái niệm về nghèo trên thế giới và căn cứ
vào thực tiễn Việt Nam, nghèo ở Việt Nam cũng bao gồm nghèo tương đối và
nghèo tuyệt đối
Nghèo tương đối, là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung
bình của cộng đồng tại thời điểm xét.
Nghèo tuyệt đối là một bộ phận dân cư có thu nhập không đủ thỏa mãn
các nhu cầu tối thiểu (ăn, mặc, ở, các nhu cầu văn hóa, y tế, giáo dục) để duy
trì cuộc sống.
Nhu cầu tối thiểu bao hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao
động như năng lượng cần thiết cho cơ thể, giáo dục, vui chơi giải trí và các
hoạt động văn hóa khác. Nhu cầu tối thiểu, mức cụ thể của nhu cầu tối thiểu
phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, theo từng thời kỳ.
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, cách tiếp cận nghèo về thu
nhập đã để xác định chuẩn nghèo đã bộc lộ những hạn chế. Thực tế, có những
nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng được bằng tiền, có những người tuy
không nghèo về thu nhập nhưng lại không tiếp cận được một số nhu cầu cơ
13
bản về y tế, giáo dục, thông tin... theo đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa
vào thu nhập sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng.
Vì vậy, đã có nhiều chuyên gia đề xuất đưa ra chuẩn nghèo đa chiều
để đo lường được mức độ thiếu hụt các nhu cầu về: Giáo dục, y tế, điều kiện
sống… của từng hộ gia đình, từng địa phương. Từ những kết quả đó, các địa
phương sẽ có những phương án phân bổ ngân sách cho công tác giảm nghèo
hiệu quả hơn. Nghèo đa chiều cần xem xét dựa trên 5 chiều gồm: Y tế, giáo
dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, bảo hiểm và trợ giúp xã hội. Kết quả
+ Nước cực giàu: trên 25.000 USD/người/năm
+ Nước giàu: từ trên 20.000 USD đến 25.000 USD/người/năm
+ Nước khá giàu: từ trên 10.000 USD đến 20.000 USD/người/năm
+ Nước trung bình: từ trên 2.500 USD đến 10.000 USD/người/năm
+ Nước nghèo: từ trên 500 USD đến 2.500 USD /người/năm
+ Nước cực nghèo: dưới 500 USD/người/năm
Với mục tiêu hàng đầu là đấu tranh chống nạn nghèo khổ ở các nước
đang phát triển, WB đã đưa ra chuẩn nghèo đói tính theo số Calo tối thiểu cần
thiết cho một người để sống là 2100 Calo/người/ngày, những hộ gia đình
không đảm bảo được mức này là những hộ nghèo khổ. Tiêu chuẩn này được
tính chung cho các nước trên thế giới, do đó nghèo khổ theo tiêu chuẩn này
chính là nghèo tuyệt đối. Theo mức đánh giá chung của thế giới, để đảm bảo
mức 2100 Calo/người/ngày thì cần ít nhất là 1USD/người/ngày. Theo tiêu
chuẩn này, thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đói nghèo, các khu vực có người
nghèo nhất thế giới hiện nay là Châu Phi và Châu Á.
WB còn đưa ra khuyến nghị thang đói nghèo như sau:
Các cá nhân bị coi là nghèo đói khi mà có thu nhập dưới:
+ Đối với nước nghèo là 0,5 USD/người/ngày
+ Đối với nước đang phát triển là 1 USD/người/ngày
+ Đối với các nước thuộc khu vực Mỹ La tinh và Caribe là 2
USD/người/ngày
+ Các nước Đông Âu là 4 USD/người/ngày
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/người/ngày.
15
Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện đặc thù của từng nước, các quốc
gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình. Thông thường, chuẩn quốc gia thấp
hơn thang nghèo đói mà WB đưa ra. Ví dụ, Mỹ đưa ra là thu nhập dưới
sống hộ gia đình Việt Nam, trong đó tình trạng nghèo được nghiên cứu theo
phương pháp đo lường mức sống của WB. Theo TCTK, tiêu chuẩn nghèo của
TCTK và WB tương đương nhau, tỷ lệ nghèo do hai cơ quan này đưa ra cũng
rất gần nhau và đều dựa trên số liệu về thu nhập hoặc chi tiêu được điều tra
một cách khách quan.
Bộ LĐ-TB&XH đồng tình với quan điểm về đói nghèo của hội nghị
chống đói nghèo khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại
Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Chuẩn nghèo được dùng để đánh giá mức
độ đói nghèo ở Việt Nam là tính theo thu nhập nhân khẩu một tháng hoặc một
năm và được đo bằng giá trị hoặc hiện vật qui đổi. Vì chuẩn nghèo là một
khái niệm động, nó biến động theo không gian và thời gian. Về không gian, ở
Việt Nam, chuẩn nghèo biến động theo 3 vùng sinh thái khác nhau, đó là:
vùng thành thị, vùng nông thôn đồng bằng và vùng nông thôn miền núi. Về
thời gian, Bộ LĐ-TB&XH đã đưa ra chuẩn đói nghèo chủ yếu dựa vào các số
liệu về thu nhập của hộ gia đình tùy theo thời kỳ phát triển của đất nước.
Theo phương pháp trên và căn cứ vào mức sống thực tế của các địa
phương, Bộ LĐ-TB&XH đã 5 lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập
bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhau: giai đoạn 19931995, giai đoạn 1996- 2000, giai đoạn 2001- 2005, giai đoạn 2006 - 2010 và
gia đoạn 2011 - 2015.
Năm 2001, theo quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐ-TB&XH ngày
01/11/2000 của Bộ LĐ-TB&XH, hộ đói nghèo ở nước ta giai đoạn 2001 2005 được điều chỉnh theo mức chuẩn mới với mức thu nhập bình quân 1 đầu
người trong hộ cho từng vùng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo : 80.000 đồng/người/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng
: 100.000 đồng/người/tháng
17
+ Vùng thành thị
xuống đối với khu vực thành thị, từ 550.000 đồng/người/tháng trở xuống đối
với khu vực nông thôn.
18
Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 751.000
đồng/người/tháng đến 1.000.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị
và thu nhập từ 551.000 đồng/người/tháng đến 750.000 đồng/người/tháng đối
với khu vực nông thôn [44].
Sở LĐ-TB&XH Hà Nội được giao nhiệm vụ chủ trì việc chỉ đạo tổ chức
lập danh sách hộ nghèo, cận nghèo chính thức trên địa bàn Thành phố. Đồng
thời, xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch thực hiện mục tiêu giảm nghèo
thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2015 sau khi UBND thành phố phê duyệt.
Theo tiêu chuẩn mới nêu trên, Hà Nội sẽ có khoảng 148.000 hộ nghèo,
chiếm 9,6% (trước đây là 117.000 hộ nghèo); khoảng 61.000 hộ cận nghèo,
chiếm 3,98%.
Thời gian qua, thành phố đã tiến hành điều tra, rà soát toàn bộ các gia
đình đang sinh sống tại 577 xã, phường, thị trấn của Hà Nội để xây dựng
chuẩn nghèo, cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015 và xác định nguyên nhân
nghèo, nguyện vọng của hộ để thống nhất chính sách, giải pháp hỗ trợ.
* Quan niệm về giảm nghèo
Giảm nghèo là một phạm trù cũng mang tính lịch sử, do đó chỉ có thể
từng bước giảm nghèo, chứ chưa thể xoá sạch được nghèo. Chỉ khi nào xã hội
loài người đạt tới trình độ xã hội cộng sản như chủ nghĩa Mác - Lênin dự đoán
thì hiện tượng nghèo sẽ không còn nữa và giảm nghèo cũng không cần.
Do cách đánh giá và nhìn nhận nguồn gốc khác nhau nên cũng có nhiều
quan niệm về giảm nghèo khác nhau:
Nếu hiểu nghèo là do đình đốn của phương thức sản xuất đã bị lạc hậu
song vẫn còn tồn tại thì giảm nghèo chính là quá trình chuyển đổi sang
phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn.
bước thoát khỏi tình trạng nghèo.
Từ những phân tích trên theo tác giả giảm nghèo là một quá trình
chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn, từng bước thoát
khỏi tình trạng đói nghèo.
1.1.2. Nguyên nhân nghèo và sự cần thiết giảm nghèo
* Nguyên nhân của nghèo
20
Nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu và tồn tại khách quan trong quá trình
phát triển của mọi quốc gia, ngay cả các nước có nền kinh tế phát triển cao và
càng phổ biến ở các nước đang phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra
nguyên nhân nghèo dưới chủ nghĩa tư bản có nguyên nhân là quá trình bóc lột
giá trị thặng dư. Sự bóc lột tàn bạo đó đã dẫn đến sự phân hoá xã hội thành hai
cực đối lập: tích luỹ sự giàu có đến tột độ về phía giai cấp tư sản và tích luỹ sự
nghèo khổ về phía giai cấp công nhân. Ở các nước đang phát triển và chậm phát
triển có nguyên nhân sâu xa là trình độ phát triển thấp kém của lực lượng sản
xuất, sự khác biệt về năng lực lao động của mỗi thành viên trong xã hội.
Hiện nay, dưới tác động của cách mạng khoa học kĩ thuật, xu thế toàn
cầu hóa. Ngoài nguyên nhân chủ yếu mà chủ nghĩa Mác - lênin đã chỉ ra còn
nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo, không chỉ là nguyên nhân thuần
tuý về mặt kinh tế hoặc do thiên tai dịch hoạ mà có sự đan xen, thâm nhập
vào nhau của cái tất yếu lẫn cái ngẫu nhiên, cái cơ bản và cái tức thời, cả
nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội.
Ở Việt Nam mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân nghèo,
nhưng các ý kiến đều thống nhất ở chỗ xác định đói, nghèo là sự tác động tổng hợp
của nhiều nguyên nhân. tựu trung lại có các nhóm nguyên nhân sau:
Nhóm nguyên nhân chung.
Đây là nhóm nguyên nhân gây nên nghèo trên diện rộng, bao gồm các
nguyên nhân thuộc về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và môi trường tự
không đủ ăn, không có điều kiện tái sản xuất mở rộng.
Vị trí địa lý không thuận lợi, xa các trung tâm kinh tế, văn hoá, giao
thông cách trở, đi lại khó khăn cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến
đói, nghèo. Bởi vì, dân cư sống ở những vùng này dễ rơi vào thế bị cô lập với
bên ngoài, khó tiếp cận với thị trường, khoa học kỹ thuật, tín dụng... Do đó,
phát triển giao thông, đặc biệt là ở miền núi có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với việc giảm nghèo hiện nay.
Khí hậu thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, bão lũ, lốc xoáy, lở đất, mưa
đá... cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đói, nghèo tình
thế trên diện rộng.
22
Môi trường kinh tế không thuận lợi bao gồm: Thiếu thốn về kết cấu hạ
tầng kĩ thuật như giao thông không thuận lợi, điện, nước… những yếu tố bảo
đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội không thuận lợi đã và đang kìm hãm
sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực.
Nghèo ở nước ta hiện nay còn do sự tác động của mặt trái kinh tế thị
trường; hậu quả nặng nề của chiến tranh, của cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp trước đây để lại.
Nhóm nguyên nhân trực tiếp
Đây là nhóm nguyên nhân trực tiếp dẫn tới nghèo của cá nhân, hộ và
cộng đồng, nhóm này gồm các nguyên nhân do chính người nghèo, hoặc
chính quyền các cấp gây nên.
Nguyên nhân của chính người nghèo. Đây là những nguyên nhân thuộc
bản thân người lao động, phổ biến là: Thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông
con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động,
ốm đau, rủi ro.
Nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ
vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh,
giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định
tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ
trương của đảng và Nhà nước. Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn
xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái.
Ngoài ra còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ
và yêu cầu giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu hướng gia
tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả
là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và xã hội
làm chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế - xã hội. Không giải quyết
thành công các chương trình giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công
bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như thế mục tiêu phát triển và
phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được. Không tập trung nỗ lực, khả
24
năng và điều kiện để giảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề để khai thác
và phát triển nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước nhằm đưa nước ta đạt tới trình độ phát triển tương đương với quốc tế và
khu vực, thoát khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu.
Giảm nghèo mở rộng cơ hội lựa chọn cho cá nhân, nhất là nhóm người
nghèo, nâng cao năng lực cá nhân để thực hiện có hiệu quả sự lựa chọn của mình
trong tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Tạo cơ hội cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng, giảm khoảng cách
và sự chênh lệch quá đáng về mức sống giữa nông thôn và thành thị, các
nhóm dân cư. Giảm nghèo tham gia vào điều chỉnh cơ cấu đầu tư hợp lý hơn,
từng bước thực hiện sự phân phối công bằng cả trong khâu phân phối tư liệu
sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất cho mỗi người, nhất là nhóm
người nghèo. Hỗ trợ tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận dịch vụ xã hội, nhất
là dịch vụ xã hội cơ bản.