Hệ THốNG CHíNH TRị CƠ Sở
TỉNH BìNH PHƯớC THựC HIệN GIữ GìN
BảN SắC VĂN HóA DÂN TộC HIệN NAY
LUN VN THC S CH NGHA X HI KHOA HC
H NI - 2015
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Chính trị quốc gia
CTQG
Diễn biến hòa bình
DBHB
Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị cơ sở
Nhà xuất bản
HTCT
HTCTCS
Nxb
Chương 2
28
ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT
HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
CƠ SỞ TỈNH BÌNH PHƯỚC THỰC HIỆN
GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
HIỆN NAY
2.1.
48
Định hướng cơ bản phát huy vai trò hệ của thống
chính trị cơ sở tỉnh Bình Phước thực hiện giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay
2.2.
48
Một số giải pháp cơ bản phát huy vai trò của hệ
thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Phước thực hiện
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay
52
KẾT LUẬN
tác động tiêu cực đối với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Hiện tượng đánh
mất bản sắc dân tộc đã biểu hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống văn hóa tinh
thần, nhất là trong các lĩnh vực nghệ thuật, đạo đức và lối sống. Đặc biệt, là vai
trò của hệ thống chính trị cơ sở ở các địa phương chưa được phát huy tốt, nếu
không được ngăn chặn, chúng sẽ lây lan sang tất cả các lĩnh vực đời sống, hoạt
động và quan hệ xã hội; ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, văn hóa, xã hội,
hủy hoại bản sắc dân tộc, đe dọa sự tồn vong của quốc gia dân tộc… Do đó,
việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là một nhiệm vụ rất quan trọng
và rất cần thiết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, ở một số nơi trên địa bàn tỉnh, HTCTCS chưa phát huy tốt
vai trò của mình trong thực hiện gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
3
Việt Nam. Công tác thực hiện gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam còn bộc lộ những hạn chế nhất định như xung đột giữa những giá
trị truyền thống của dân tộc Việt Nam với những giá trị hiện đại của thế giới,
nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp bị phai nhạt... Cùng với nó là sự xâm lấn
ngày càng tăng của nhiều thứ văn hóa không lành mạnh, của lối sống ngoại
lai, đe dọa các giá trị đạo đức, truyền thống của dân tộc, đe dọa bản sắc dân
tộc, cản trở việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung, vai trò
của HTCTCS ở tỉnh Bình Phước nói riêng.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Phước
thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết
cả về lý luận và thực tiễn làm tài nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về HTCT nói chung, HTCTCS nói riêng, cũng như về bản
sắc dân tộc và thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đang là vấn đề đang
được quan tâm và có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn đối với cách
mạng Việt Nam; đặc biệt, trong sự nghiệp đổi mới, thực hiện kinh tế thị
Nghiên cứu về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc là một đề tài lớn luôn
dành được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Dưới nhiều góc độ
tiếp cận khác nhau đã có những tác giả nghiên cứu về văn hóa, về bản sắc văn
hóa dân tộc như: “Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới” của Phan Ngọc;
“Bản sắc dân tộc và hiện đại trong văn hoá” của Hoàng Trinh; “Xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” của Nguyễn
Khoa Điềm; "Bản sắc dân tộc của văn hóa" của Đỗ Huy; "Văn hóa và lối sống"
của Thanh Lê; "Bản sắc văn hóa dân tộc" của Hồ Bá Thâm; "Tìm hiểu bản sắc
văn hóa Việt Nam" của Trần Ngọc Thêm… Những công trình trên đã khẳng
định: Bản sắc dân tộc là một trong những cội nguồn làm nên sức mạnh trong
suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước cũng như trong cuộc đấu tranh chống
“đồng hoá” của dân tộc Việt Nam. Chính nhờ bản sắc ấy, dù trải qua những biến
cố, thăng trầm của lịch sử, dân tộc ta vẫn trường tồn, vẫn tỏ rõ bản lĩnh và sức
5
mạnh của mình. Hiện nay, trước sự xâm lăng của văn hóa, phát triển của khoa
học - công nghệ và xu thế toàn cầu hoá đòi hỏi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với bảo vệ, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
* Về thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Các công trình liên quan đến thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc như: Đặng Văn Thành với "Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh
niên thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã
hội chủ nghĩa" (2005); Đặng Quang Thành (2005), "Xây dựng lối sống có
văn hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới
theo định hướng xã hội chủ nghĩa"; PGS.TS. Phạm Duy Đức (chủ biên) với
"Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế" (2006); Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), "Văn hóa mục tiêu và
động lực của sự phát triển xã hội" (2006); Nguyễn Văn Dân, "Văn hóa và
phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa" (2006); Mai Thị Quý "Toàn cầu
HTCTCS tỉnh Bình Phước nâng cao hơn nữa vai trò của mình trong thực hiện
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp phần cung cấp thêm cơ sở
khoa học để HTCTCS các tỉnh miền núi, biên giới, có nhiều thành phần dân
tộc cùng chung sống tham khảo nhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc hiện nay.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy, học tập ở các nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
8
Chương 1
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỈNH BÌNH PHƯỚC
THỰC HIỆN GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC – MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Bản sắc văn hóa dân tộc và vai trò của hệ thống chính trị cơ
sở tỉnh Bình Phước thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay
1.1.1. Bản sắc văn hóa dân tộc và thực hiện giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam hiện nay
* Bản sắc văn hóa dân tộc
Từ "bản sắc" có nguồn gốc Hán – Việt, trong đó "bản" là cái gốc, cái
căn bản, cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là màu vẻ, dung mạo, là sự
biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài. Bản sắc là màu sắc,
tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính [74, tr. 45]. Bản sắc được nhận thức
trên cả hai mặt là mặt bản chất bên trong và mặt biểu hiện bên ngoài, giữa hai
cho rằng “Nói đến bản sắc dân tộc của văn hóa chúng ta nghiêng về phía diện
mạo có hồn của văn hóa dân tộc. Nó thể hiện ở mọi nơi mọi chỗ theo kiểu cách
riêng của dân tộc. Nó được phát triển biến hóa bởi sự nghiệp lao động và chiến
đấu của nhiều thế hệ trong lịch sử. Bản sắc này chi phối cả phong tục tập quán
các vùng miền và tiểu vùng văn hóa” [43, tr. 27]. Từ những phân tích trên có thể
khái quát: Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những giá trị văn hóa bền vững,
phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn, tâm lý… của một dân tộc, được
thường xuyên hun đúc, bổ sung và tỏa sáng trong lịch sử dân tộc, trở thành tài
sản tinh thần đặc sắc, tạo nên sức mạnh gắn kết cộng đồng và để phân biệt sự
khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại.
Đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam hiện nay, thể hiện trên
một số nội dung là:
Một là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn
kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã – Tổ quốc. Lòng
yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng là nội dung
10
cốt lõi bao trùm nhất của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Đây là nội dung,
là hệ giá trị tiêu biểu, đặc sắc nhất, mang tính bển vững và định hướng các giá
trị khác, cũng như chi phối toàn bộ quá trình phát triển của văn hoá Việt Nam.
Do điều kiện môi trường và vị trí địa lý tự nhiên quy định, trải qua sự biến
thiên của lịch sử mấy ngàn năm đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại cũng như
chiến đấu chống ngoại xâm để giữ bờ cõi, khẳng định chủ quyền độc lập dân
tộc, đã hun đúc, tôi luyện tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn
kết, gắn bó cộng đồng của dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử tồn tại, có lẽ hiếm
thấy dân tộc nào trên thế giới lại phải chiến đấu chống lại nhiều kẻ thù xâm
lược như dân tộc Việt Nam, kể cả về thời gian, quy mô, tính chất, cũng như
sự chênh lệch về lực lượng, phương tiện, tiềm lực và sức mạnh quân sự.
Hai là, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính
kết quả vun đắp, kế thừa truyền thống lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và
giữ nước của dân tộc. Đây là sản phẩm của sự kết tinh tất cả những gì đặc sắc,
đẹp đẽ và độc đáo nhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Những giá trị đó của
bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam là một thể thống nhất, bền vững, gắn kết
cộng đồng, tạo sức mạnh chiến thắng hoàn cảnh, kẻ thù trong quá trình sinh
tồn và phát triển. Trong các nội dung trên, thì lòng yêu nước, ý chí tự cường,
tình yêu thương con người, tinh thần đoàn kết dân tộc, cần cù, sáng tạo, hy
sinh cao thượng là nội dung chủ đạo, định hướng và chi phốỉ, cần được giữ
gìn và phát huy ở mọi thời điểm lịch sử.
* Thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam hiện nay
Thực hiện giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam hiện nay về thực
chất là hoạt động tự giác của các chủ thể để bảo vệ, giữ vững, bổ sung, phát
triển và quảng bá những giá trị của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Đồng
thời, tiếp thu một cách chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại nhằm tăng cường
sức mạnh nội lực, tích cực tham gia xây dựng và phát triển văn hoá, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, góp
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”. Giữ gìn bản sắc văn hoá không có nghĩa là bế quan tỏa
cảng, đóng cửa văn hoá, cố lưu giữ vốn cổ, giữ cái không còn phù hợp mà
12
phải tăng cường giao lưu nhằm không ngừng bổ sung, phát triển giá trị của
bản sắc đó cho phù hợp vói điều kiện lịch sử mới. Tuy nhiên, trong giao lưu,
tiếp xúc văn hoá thì bản lĩnh càng phải vững, bản sắc văn hoá càng phải đậm
nét, giao lưu chính là để tiếp nhận giá trị mới, làm giàu và nâng tầm bản sắc
văn hoá dân tộc cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới, tạo sức mạnh cho dân
tộc phát triển bền vững, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện mở rộng hợp tác quốc tế hiện nay.
Nhận thức đúng đắn vể giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc sẽ là cơ sở
dân tộc, phát triển phồn vinh, bền vững. Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong
hội nhập quốc tế hiện nay thực chất là việc bảo vệ, giữ vững và phát triển giá trị
cốt lõi nhất của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới.
Hai là, bảo vệ, giữ vững, bổ sung, phát triển và quảng bá lòng nhân ái,
khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong
lối sống của dân tộc. Đây là cơ sở cho tình đoàn kết gắn bó cộng đồng hết sức
bền chặt, tạo nên sức mạnh vô địch, bảo đảm cho dân tộc Việt Nam vượt qua
mọi khó khăn, hiểm nguy, trường tồn và phát triển lớn mạnh đến ngày nay.
Mặc dù, quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đã tạo điều kiện cho quá trình
tiếp cận, ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại để phát
triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, nhưng cũng tạo ra những thách
thức, nhất là sự phân hoá giàu nghèo, sự chênh lệch về thu nhập, làm suy
giảm tính cố kết, gắn bó cộng đồng. Quá trình giao lưu văn hoá với nước
ngoài làm xuất hiện các quan niệm sai lệch về các giá trị cốt lõi, dễ ngộ nhận,
lai căng các giá trị văn hoá phương Tây, làm lệch chuẩn các giá trị mà bao đời
nhân dân ta xây dựng. Đó là nguy cơ biến dạng và có thể phá vỡ sự cố kết bền
vững dân tộc vốn xuất phát từ cội nguồn nhân ái, bao dung, nghĩa tình của
dân tộc. Trong xu thế hiện nay cần coi trọng, giữ gìn lòng nhân ái, khoan
dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, có như vậy mới bảo đảm tính nhân văn trong
ứng xử, mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữ được tình cảm gắn bó, cố
kết cộng đồng. Đây là những giá trị cốt lõi, giữ vai trò định hướng về tư tưởng,
14
đạo đức và lối sống xã hội chủ nghĩa cho con người và cộng đồng dân tộc, là
những chuẩn mực hết sức cơ bản bảo đảm cho nền văn hoá Việt Nam phát
triển đúng hướng, giữ được bản sắc trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.
Ba là, bảo vệ, giữ vững, bổ sung, phát triển và quảng bá đức tính cần
cù, sáng tạo trong lao động, đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc,
vì hạnh phúc của nhân dân. Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một thể thống
quan trọng trong quá trình giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam hiện nay.
Tóm lại, thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam có ý nghĩa
hết sức quan trọng. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam chính là nhân tố quan
trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Bản sắc đó là kết tinh sức
sống của dân tộc Việt Nam, giống như chất keo kết chặt toàn thể cộng đồng
dân tộc Việt Nam gắn bó với nhau cùng tồn tại, phát triển. Bản sắc đó chi phối
toàn bộ đời sống dân tộc, giúp bảo tồn dân tộc, chống mọi âm mưu đồng hóa
của kẻ thù, đồng thời là nền tảng và sức mạnh tinh thần để xây dựng, phát triển
đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Do đó, cần phải biết thực hiện giữ gìn thì mới thực sự phát huy vai trò của bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đối với sự phát triển đất nước.
1.1.2. Quan niệm về vai trò của hệ thống chính trị cở sở tỉnh Bình
Phước thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay
* Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Phước hiện nay
Một là, về cơ cấu đội ngũ cán bộ, đảng viên hệ thống chính trị cơ sở
tỉnh Bình Phước có nhiều thành viên của các dân tộc, nhưng trình độ, chất
lượng không đồng đều giữa các dân tộc anh em. Đội ngũ cán bộ trong
HTCTCS tỉnh Bình Phước rất đa dạng về thành phần dân tộc, xuất thân từ
nhiều vùng miền khác nhau của cả nước. Tính đến 20/12/2014 tổng số đội
ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp Xã) 1229
người. Dân tộc kinh chiếm 92,9%, còn lại 7,1% là các thành phần dân tộc
khác. Theo các tôn giáo khác nhau chiếm 0,6%, còn lại 99,4% là không theo
tôn giáo nào. Về văn hóa, cấp Tiểu học chiếm 1,5%; Trung học Cơ sở chiếm
16
12%; Trung học Phổ thông chiếm 86,5%. Về chuyên môn, chưa qua đào tạo
chiếm 32,4%; Sơ cấp là 37,3%; Trung cấp là 3,2%; Cao đẳng chiếm 26,9%;
Đại học 0,2%; Sau đại học 40,7%. Về trình độ lý luận chính trị, sơ cấp và
chưa qua đào tạo 52,4%; Trung cấp 6,9%; Cao cấp 39,9%. Đặc biệt, cán bộ có
những vấn đề dân tộc, tôn giáo phức tạp. Tỉnh Bình Phước được tái lập ngày
01/01/1997. Trước khi tái lập, Bình Phước thuộc tỉnh Sông Bé (cũ). Hiện nay,
dân số của tỉnh, theo số liệu thống kê đến 31/12/2013, Bình Phước có 927.126
người. Dân cư trong tỉnh gồm 41 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm
80,6%. Còn lại 40 thành phần dân tộc thiểu số, chiếm 20% dân số tỉnh [1, tr.1].
Dân tộc thiểu số bản địa là người Stiêng chiếm 47,4% số lượng dân tộc thiểu số
[2, tr.1], còn lại là các dân tộc thiểu số di cư từ các vùng khác đến (chủ yếu từ
các tỉnh phía Bắc) như người Tày, người Nùng, người M Nông, người Khmer,
người Hoa, người Mường, người Chăm, người H Mông,... Nhìn chung, Bình
Phước vẫn còn là tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống vật chất, tinh thần
của đồng bào còn gặp nhiều khó khăn; tình hình an ninh chính trị - xã hội tiềm
ẩn nhiều phức tạp với đa sắc tộc và đa tôn giáo; nhận thức về chính sách, pháp
luật của một bộ phận nhân dân nhất là đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế; ý
thức tự lực, tự cường, tâm lý thụ động, trông chờ, ỷ lại vẫn còn kể cả cán bộ,
đảng viên; các tập tục lạc hậu vẫn còn đè nặng, cản trở sự phát triển... Trình độ
lý luận chính trị sơ cấp và chưa qua đào tạo chiếm 52,4% tỷ lệ khá cao, thể hiện
chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức cấp Xã cần phải tiếp tục đẩy mạnh đào
tạo, có chiến lược lâu dài về thu hút nguồn nhân lực trẻ có trình độ về địa
phương. Đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp Xã là người các dân tộc khác chiếm
7,1% thiếu về số lượng và yếu về chất lượng [Phục lục 9 - 10].
Trên địa bàn Tỉnh hiện nay có 08 tôn giáo được công nhận tư cách pháp
nhân gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hồi giáo, Phật giáo Hòa
hảo, Tinh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam và đạo Baha’i với tổng số 220 cơ sở thờ
tự, 212 chức sắc, 48 tu sĩ, 211.583 tín đồ [71, tr. 1]. Nhìn chung trong những
năm qua, tình hình sinh hoạt tôn giáo trên địa bàn tỉnh cơ bản diễn ra ổn định,
18
tuân thủ đúng quy định của Pháp luật. Tuy nhiên, tình trạng xây dựng, cơi nới,
sữa chữa cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo trái phép vẫn còn xảy ra ở một số
ở tỉnh Bình Phước chịu ảnh hưởng bởi quan hệ dòng họ; tâm lý,
phong tục tập quán lạc hậu. Trong HTCTCS ở tỉnh Bình Phước, vẫn còn
tình trạng các thành viên cấp ủy được phân bổ theo dòng họ, theo làng; quan hệ
anh em, họ hàng không phải là ít. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ
trong nội bộ tổ chức. Có khi vì quan hệ dòng họ mà nể nang, né tránh hoặc phe
cánh, cục bộ dẫn đến hiệu quả hoạt động không cao. Hơn nữa, hiệu quả hoạt
động của HTCTCS tỉnh Bình Phước vẫn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng và những
quan niệm phong tục tập quán nặng nề, lạc hậu cùng với những quan hệ lễ
nghi ràng buộc, cột chặt con người vào khuôn phép, tục lệ; tâm lý tự ti, ngại
tham gia các hoạt động xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn, nhất
là ở cơ sở có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; nhiều nơi, bà con dân
tộc thiểu số còn biểu hiện thờ ơ với thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Hệ thống chính trị cơ sở có mối quan hệ với việc thực hiện giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Trong đó, HTCTCS là thiết chế tổ chức thực
hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trên địa bàn ở cơ sở.
Hệ thống chính trị cơ sở tuyên truyền giáo dục trực tiếp cho nhân dân
những kiến thức căn bản về bản sắc văn hóa dân tộc. Công tác tuyên truyền,
giáo dục của HTCTCS tiến hành một cách đầy đủ, toàn diện sâu rộng trong
nhân dân về các đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc. Thông qua đó làm cho
nhân dân hiểu được bản sắc văn hóa dân tộc là thành quả tất yếu của quá trình
hàng ngàn năm lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước. Là một trong những
động lực to lớn đảm bảo sự ổn đinh và phát triển bền vững của Quốc gia dân
tộc. Nó là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là nguồn sức mạnh vô địch đảm
bảo dân tộc ta phát triển trong mọi điều kiện hoàn cảnh lịch sử. Mà ở đó, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,
một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được thực hiện trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Để nhân dân có đủ khả năng xây dựng cho mình một
20
giữa các thành tố trong HTCTCS và giữa HTCTCS với nhân dân, đảm bảo
cho các thành tố đó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, qua đó nâng
cao uy tín, chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTCTCS.
* Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Phước thực hiện giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc hiện nay
Hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Bình Phước là loại hệ thống chính trị thấp
nhất trong hệ thống chính trị bốn cấp, nên cũng có vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng. Vì nó là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, chính quyền các cấp với nhân dân,
thường xuyên nắm bắt nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân thực hiện
thắng lợi mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng – an ninh ở
cơ sở, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà
Đảng và Nhà nước ta đã xác định; tổ chức và vận động nhân dân thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết, quyết
định của cấp trên và cấp mình; tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi tiềm năng thực hiện giữ gìn, bổ
sung, phát triển các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX Về đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn cũng chỉ rõ: “Hệ thống chính trị ở cơ sở
có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn
kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng
phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư” [22,
tr.166].
Từ nghiên cứu vai trò chung của HTCTCS, tác giả đưa ra quan niệm về
vai trò của HTCTCS tỉnh Bình Phước thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc hiện nay như sau: Đây là hoạt động tự giác của thiết chế chính trị cấp cơ sở
thể hiện vị trí, chức năng, nhiệm vụ, mục đích là bảo vệ, giữ vững, bổ sung,
phát triển và quảng bá các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc đã tồn tại lâu dài
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước hiện nay. Khi thực
23
hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về truyền thống văn hóa dân tộc đến
nhân dân các dân tộc trên địa bàn sẽ góp phần thúc đẩy phát triển đời sống kinh
tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy lùi các hiện
tượng làm phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc. Đây cũng là thực tiễn sống động
để Đảng, Nhà nước tiếp tục có những chủ trương, quyết sách mới phù hợp với
thực tiễn thực hiện giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.
Những nội dung tuyên truyền, giáo dục và lãnh đạo, tổ chức thực hiện
Đảng ta xác định trong Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương
Khóa VIII, được các HTCTCS hết sức quan tâm truyền thụ và giáo dục cho
các thế hệ nhân dân trên địa bàn. Đó là việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần
đoàn kết, yêu thương, việc truyền dạy đức tính cần cù chịu khó và ý chí phấn
đấu vươn lên trong cuộc sống; tính cách bình dị, nhân hậu của tâm hồn, quan
hệ người - người trong đối nhân xử thế, đạo chung thuỷ vợ - chồng, lòng biết
ơn ông bà, tôn kính tổ tiên; chăm lo lợi ích của tập thể và gia đình, giữ uy tín, đạo
đức của gia đình; giáo dục lòng hiếu thảo, tinh thần học tập, nâng cao tri thức cho
con cái và tinh thần tôn sư trọng đạo. Thông qua giáo dục các truyền thống văn
hóa dân tộc mà bản sắc văn hóa dân tộc được thực hiện, giữ gìn và phát huy.
Hai là, quản lý hoạt động lễ - hội truyền thống trên địa bàn góp phần
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Quản lý hoạt động lễ - hội truyền thống là
một trong những chức năng, nhiệm vụ cơ bản của HTCT nói chung, HTCTCS
nói riêng. Trong HTCTCS, vai trò quản lý nhà nước thuộc về chính quyền cơ
sở. Chính quyền cơ sở là cơ quan đại diện nhà nước ở cơ sở chịu trách nhiệm
quản lý điều hành mọi mặt như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương. Trong đó trách nhiệm quản lý của chính quyền cơ
sở ở địa phương là trọng tâm. Do vậy, quản lý điều hành các hoạt động lễ hội
truyền thống trên địa bàn luôn gắn liền với chức năng quản lý nhà nước của
chính quyền ở cơ sở.