LUẬN văn phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh đồng nai - Pdf 37

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

Đời sống tinh thần

ĐSTT

Chính trị quốc gia

CTQG

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Hệ thống chính trị

HTCT

Nhà xuất bản

Nxb

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Nhận rõ vai trò và tầm quan trọng đó, thời gian qua HTCTCS tỉnh Đồng Nai đã triển
khai và thực hiện khá tốt CSTG của Đảng và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định tình
hình chính trị - xã hội trên địa bàn, tạo bước phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân cũng như đồng bào tín đồ các tôn giáo.
Tuy nhiên, ở một số nơi trên địa bàn, HTCTCS chưa phát huy tốt vai trò của mình
trong thực hiện CSTG. Công tác tôn giáo còn bộc lộ những yếu kém nhất định, những
mâu thuẫn, những bất đồng trong nhân dân, trong đồng bào tín đồ các tôn giáo vẫn có lúc
bộc lộ rõ. Thậm chí có những địa phương còn để sảy ra những điểm nóng vì lý do tôn
giáo, gây ra những hậu quả xấu, tạo ra những kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng kích
động, vu khống.
Vì vậy, nghiên cứu việc “phát huy vai trò HTCTCS tỉnh Đồng Nai trong thực hiện
CSTG của Đảng và Nhà nước ta hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, vừa cấp bách,
vừa lâu dài. Đó là lý do tác giả chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
HTCT nói chung, HTCTCS nói riêng và vai trò của nó là vấn đề đã được Đảng, Nhà
nước và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đảng ta đã đề cập vấn đề này trong các
văn kiện Đại hội Đảng. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa
IX, (2002), lần đầu tiên Đảng ta đã ra một nghị quyết chuyên đề về HTCTCS. Các nhà
khoa học đã đề cập tới những vấn đề này ở các góc độ khác nhau như: Bộ Nội vụ, Viện


Nghiên cứu khoa học tổ chức Nhà nước, Hệ thống chính trị cơ sở thực trạng và một số
giải pháp đổi mới, do tiến sỹ Chu Văn Thành (chủ biên), Nxb CTQG, Hà Nội. 2004; Vũ
Hoàng Công (2002), Hệ thống chính trị cơ sở đặc điểm, xu hướng và giải pháp, Nxb
CTQG, Hà Nội; Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ
hóa đời sống xã hội nông dân miền núi vùng dân tộc thiểu số, của Nxb CTQG, Hà Nội.
2002.
Chính sách tôn giáo cũng luôn được Đảng, Nhà nước ta xác định rõ và ngày càng hoàn
thiện, thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, Bộ Chính
trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (1990) đã ra nghị quyết chuyên đề: Nghị

* Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò, nhiệm vụ HTCTCS tỉnh Đồng Nai trong thực hiện
CSTG của Đảng và Nhà nước.
- Phân tích thực trạng thực hiện vai trò HTCTCS tỉnh Đồng Nai trong thực hiện CSTG
của Đảng và Nhà nước hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò HTCTCS trong thực hiện
CSTG của Đảng và Nhà nước ta ở tinh Đồng Nai hiện nay.


4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Vai trò và phát huy vai trò HTCTCS tỉnh Đồng Nai trong việc thực hiện CSTG của
Đảng, Nhà nước hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu khảo sát thực trạng vai trò HTCTCS trong thực hiện CSTG của Đảng và
Nhà nước ở một số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ khi bắt đầu sự
nghiệp đổi mới đất nước của Đảng ta (năm 1986) đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về HTCT; vai trò của HTCTCS; về tôn giáo;
vai trò của HTCTCS đối với việc thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước.
* Cơ sở thực tiễn:
Thực tiễn thực hiện CSTG của HTCTCS tỉnh Đồng Nai từ 1986 đến nay qua nghiên
cứu, điều tra của tác giả và qua kế thừa các tư liệu, kết quả khảo sát, điều tra của các tác
giả khác liên quan đến vấn đề này.
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp hệ thống,
phân tích, tổng hợp, lôgíc kết hợp với lịch sử, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn, và
phương pháp chuyên gia.

ngưỡng, tôn giáo, ban hành năm 2004, với các nội dung cơ bản sau:
Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi
trước pháp luật, không phân biệt giữa người theo đạo và người không theo đạo, cũng
như giữa những người theo các tôn giáo khác nhau.
Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta, chi phối các chủ trương, chính sách cụ thể của
Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
năm 1946, Điều 10 năm 1959 và Điều 68 năm 1980 quy định: “Công dân có quyền tự do
tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, không ai được lợi dụng tôn giáo để
làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước [17, tr.10, 39].
Điều 1 Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ hơn: “Công dân có quyền tự do tín
ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn
giáo đều bình đẳng trước pháp luật, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn
trọng lẫn nhau” [26, tr. 59].
Nội dung cơ bản của tự do tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện trên những vấn đề chủ yếu đó
là:


- công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào
Đây là nội dung cơ bản nhất của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo đó mọi người
đều có quyền lựa chọn theo một tôn giáo cụ thể nào đó, quyền thay đổi tôn giáo và quyền
không theo hoặc từ bỏ tôn giáo mà mình theo. Công dân có quyền tự do hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo như thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với
đất nước với dân tộc, với cộng đồng, thờ cúng thần thánh, những biểu tượng có tính
truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác.
Mọi công dân theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng trước pháp
luật, được hưởng đầy đủ các quyền công dân và phải làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc.
Các tổ chức, các cơ sở tôn giáo, các tín đồ, chức sắc các tôn giáo có quyền sinh hoạt tôn
giáo theo giáo lý, giáo luật và lễ nghi tôn giáo mà mình theo. Công dân thực hiện quyền

“Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật... nghiêm
cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tôn giáo” [14, tr. 48].
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật là một chính sách cơ bản của Đảng, Nhà
nước ta về tôn giáo và đối với vấn đề về tôn giáo trong một đất nước đang trong quá trình
xây dựng CNXH, có nhiều tôn giáo và nhiều người có tín ngưỡng, tôn giáo.
Hai là, đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân.


Đây là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan
tâm, không ngừng vun đắp, củng cố, tăng cường sự đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn
giáo và đồng bào không theo tôn giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau. Hội
nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành trung ương khóa IX Đảng ta chỉ ra: Đảng, Nhà nước
thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết đồng bào theo tôn
giáo và đồng bào không theo tôn giáo, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau.
Trong giai đoạn hiện nay khối đại đoàn kết ấy là động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới
đất nước, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đoàn kết phải trên cơ sở lợi ích quốc gia dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng
nêu rõ: “Trong khi thực dân Pháp và can thiệp Mỹ tìm mọi cách chia rẽ lương giáo, hòng
cướp nước ta, thì việc đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo để cứu nước, cứu dân là vô
cùng cần thiết” [23, tr. 559]. Hiện nay trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đoàn kết lương - giáo phải lấy mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh” làm điểm tương đồng.
Đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo
đều phải tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của
dân tộc; xóa bỏ những mặc cảm, tự ti, định kiến hoặc phân biệt đối xử; xây dựng tinh
thần cởi mở, tin tưởng lẫn nhau, có trách nhiệm chung sức, chung lòng đoàn kết gắn bó
với nhau, ra sức củng cố, xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân phải đi đôi với việc đấu tranh chống những
hành động chia rẽ, làm suy yếu khối đoàn kết dân tộc. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc
trong quan điểm CSTG của Đảng và Nhà nước ta. Cần phân biệt rõ hoạt động tín ngưỡng,

Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ nhiệm vụ của
công tác tôn giáo là phải: đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống
“tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành; động viên đồng bào
thực hiện tốt yêu cầu của một tín đồ đối với tôn giáo và đồng thời phải làm tròn bổn phận
của một công dân đối với đất nước; làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước
và CNXH hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bốn là, những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân phù hợp với nguyện vọng và lợi
ích chính đáng, hợp pháp của các tín đồ được bảo đảm; những giá trị văn hóa, đạo đức
tốt đẹp của các tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy.
Đó là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Xét về mặt lịch sử, các đức tin tôn
giáo xuất hiện đều có mục tiêu hướng tới những mong muốn tốt đẹp về con người có thể
sống hòa đồng với nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống hạnh phúc. Trong giáo lý, giáo
luật của các tôn giáo đều có những nội dung giới răn hướng thiện, trị ác có những giá trị
nhân văn vì cuộc sống của cá nhân, của cộng đồng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét:
Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của chúa
Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện
chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện
nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những ưu điểm chung đó
sao. Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội, nếu hôm
nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin chắc rằng nhất định họ sẽ
chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết.


Thực tế trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy
đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Nhìn chung, các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận đã hoạt động theo
pháp luật, xây dựng được đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, “sống phúc âm giữa
lòng dân tộc”; “đạo pháp, dân tộc và CNXH”, tập hợp được đông đảo tín đồ, chức sắc các
tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân.
Đảng, Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách giữ gìn và phát huy những giá trị

cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ nhất, thực chất thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước ta được thể hiện thông qua
vai trò chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức nhân dân thực hiện CSTG đó là toàn bộ HTCT.
“Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả HTCT do Đảng lãnh đạo” [3, tr. 123].
Tổ chức Đảng các cấp: thường xuyên có những chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn
giáo và công tác tôn giáo, đồng thời phải xác định rõ những giải pháp khả thi để giải
quyết phù hợp những nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận quần chúng
nhân dân, lãnh đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách đó đạt
hiệu quả.


Có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra các quan điểm, chủ trương, biện pháp cụ thể, thích
hợp và đồng thời tổ chức tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, liên tục trong toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân, nhất là những cơ quan, những cán bộ chuyên trách làm công tác tôn
giáo và đồng bào tín đồ, chức sắc các tôn giáo về những chủ trương chính sách của Đảng,
Nhà nước ta. Làm cho mọi người có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về CSTG của Đảng,
Nhà nước.
Chính quyền các cấp: cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng
thành hệ thống pháp luật nhằm tổ chức thực hiện đạt hiệu quả những quan điểm, chủ
trương, chính sách đó, và đồng thời quản lý tốt mọi hoạt động của tôn giáo trên địa bàn
theo pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho tín đồ, chức sắc các tôn giáo hoạt động; kiên
quyết xử lý mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội,
làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống lại
Nhà nước, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa của dân tộc, ngăn cản
tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trực tiếp tuyên truyền vận động quần
chúng nhân dân, cũng như đồng bào tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện đúng đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân, trong đó có đoàn kết lương - giáo, và đoàn kết giữa các tôn giáo. Động viên tinh


Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, công tác đối với con người, thực
chất đây là công tác vận động quần chúng cách mạng của Đảng, công tác đối với đồng
bào có tín ngưỡng, tôn giáo, là sự thể hiện mối quan hệ giữa Đảng với một bộ phận quần
chúng trong tiến trình cách mạng XHCN. Mọi hoạt động quản lý nhà nước đối với tôn
giáo và công tác đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo chỉ thành công nếu thực hiện tốt công
tác vận động quần chúng.
Công tác tôn giáo nhằm bảo đảm vận động đồng bào theo đạo thực hiện tốt nghĩa vụ và
quyền lợi công dân, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần tăng cường và phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng. Chỉ
có làm tốt công tác vận động quần chúng mới tập hợp và khai thác được tiềm năng, thế
mạnh trong đồng bào các tôn giáo để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm thất bại mọi âm
mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.
Thứ năm, thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là thực hiện tốt 6 nhiệm vụ
cơ bản mà Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã đề ra:
Một, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách, và các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có đồng bào tín
đồ các tôn giáo.
Đây là nhiệm vụ cơ bản nhất, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với nhân
dân, trong đó có đồng bào theo tôn giáo. Lợi ích chính đáng của đồng bào các tôn giáo
được bảo đảm, đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được cải thiện và nâng cao là
điều kiện căn bản để thực hiện tốt tôn giáo và đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo.
Thực tế sau gần 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu quan
trọng, tạo cơ sở để cải thiện và nâng cao một bước đời sống vật chất và tinh thần của các


tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương nhất là ở những vùng sâu, vùng xa...
đời sống của một bộ phận nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có đồng bào là
tín đồ các tôn giáo. Vì vậy, cần phải tạo ra những điều kiện thuận lợi để giúp cho đồng
bào nâng cao đời sống vừa làm tốt việc đời, vừa chăm lo việc đạo là nội dung quan trọng

Đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo là một hoạt động đặc biệt, chỉ thắng lợi khi quần
chúng nhận thức rõ được bản chất, âm mưu, thủ đoạn của địch, tự giác ủng hộ và cùng
tham gia với các cơ quan Nhà nước để đấu tranh. Bởi vậy, cần phải phát huy tinh thần
yêu nước của đồng bào, làm cho đồng bào nhận thức rõ mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng
tôn giáo của các thế lực thù địch để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ.
Năm, hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối
ngoại của Đảng, Nhà nước, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về CSTG, đấu tranh làm
thất bại các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch đối với
CSTG ở nước ta.
Các tôn giáo ngoại nhập như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo có quan hệ khá
chặt chẽ với các tổ chức cùng tôn giáo ở bên ngoài. Bởi vậy, công tác tôn giáo có nhiệm
vụ hướng dẫn hoạt động đối ngoại của các tôn giáo phù hợp với chủ trương, CSTG không


làm ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, không làm
tổn hại đến quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.
Cùng với việc bảo đảm cho quan hệ đối ngoại tôn giáo thực hiện đúng pháp luật, tôn
chỉ, đường hướng của các tôn giáo, cần đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, đấu tranh làm
thất bại các luận điệu xuyên tạc, vu khống của kẻ địch về vấn đề tôn giáo và CSTG ở
nước ta.
Sáu, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo.
Tăng cường nghiên cứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa học
trong việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, CSTG trước mắt và lâu dài.
Thực tiễn luôn biến đổi, việc quán triệt và thực hiện quan điểm, chính sách về tín
ngưỡng, tôn giáo đạt hiệu quả ngày càng cao, nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót,
khuyết điểm. Do vậy, kịp thời sơ, tổng kết rút kinh nghiệm để phát huy ưu điểm, khắc
phục hạn chế, điều chỉnh, bổ sung các chủ trương, giải pháp là một yêu cầu khách quan
trong thực hiện CSTG của Đảng, Nhà nước.
Sáu nhiệm vụ đó quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện tốt sáu nhiệm vụ là trách nhiệm
của cả HTCT, của mọi cấp, mọi ngành, trong mọi lĩnh vực, của mọi cán bộ, đảng viên và

quản lý, nhân dân lao động làm chủ.


Thứ hai, Chức năng của hệ thống chính trị cơ sở
Chức năng của HTCTCS được thể hiện ở chức năng, nhiệm vụ của các thành tố cấu
thành HTCTCS đó là:
* Tổ chức cơ sở đảng
Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân
chính trị ở cơ sở. Đảng bộ xã bao gồm nhiều chi bộ; thông thường mỗi thôn, xóm, ấp có
một chi bộ. Tổ chức cơ sở Đảng có các chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước ở cơ sở, trong đó có CSTG.
- Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, và tổ chức;
thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực
hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong
Đảng, thường xuyên giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên không ngừng nâng
cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác,
làm công tác phát triển đảng viên.
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc
phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành
nghiêm pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
- Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi
ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng, thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.


- Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của
Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên chấp hành
Điều lệ Đảng.
* Chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn)

thần của nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên địa
bàn; giám sát mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước ở cơ sở, các đại biểu dân cử, và cán
bộ công chức; tập hợp những ý kiến và kiến nghị của nhân dân để phản ánh với Đảng và
Nhà nước cấp trên; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ở địa phương;
chăm lo bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng của nhân dân.
Trong thực hiện CSTG, chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân là: tập hợp đồng bào các tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng,
tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phản ánh
kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân về các vấn đề liện quan đến tín
ngưỡng, tôn giáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; tham gia tuyên truyền vận động
chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, các tổ chức tôn giáo và nhân dân thực hiện CSTG, tham gia
xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo [26].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status