3
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản của đời sống xã hội.
Việc nhận thức và xử lý mối quan hệ này trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định đối
với sự hưng vong của nền kinh tế và chế độ chính trị - xã hội của đất nước. Do
hạn chế về nhận thức, vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị cho nên
nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã mắc phải những sai lầm trong quá trình cải tổ, đổi
mới. Nước ta, trong thời kỳ đầu việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị theo quan điểm triết học Mác - Lênin còn ở những mức độ
nhất định. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế - xã hội của
đất nước rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng trước thời kỳ đổi mới.
Nhận thức được những hạn chế đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước
và nghiên cứu, nắm vững thực chất khoa học quan điểm của các nhà kinh điển chủ
nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Đảng ta đã đề ra đường
lối đổi mới đúng đắn. Đường lối chiến lược phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng tạo quan điểm mácxít về mối quan hệ giữa kinh
tế và chính trị trong điều kiện nước ta hiện nay. Đường lối đó đã giải phóng được
mọi năng lực sản xuất, kích thích kinh tế phát triển, đảm bảo sự định hướng phát
triển kinh tế theo mục tiêu chính trị mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những
thành tựu đáng kể. Kinh tế phát triển, chế độ chủ nghĩa xã hội được giữ vững. Tuy
nhiên, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu thì càng nảy sinh nhiều vấn đề phức
tạp cần phải nhận thức và giải quyết. Thực tiễn cho thấy, quá trình phát triển nền kinh
tế ở nước ta bên cạnh những mặt tích cực còn bộc lộ những hạn chế nhất định.
Hơn nữa, việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chưa có
tiền lệ trong lịch sử. Quá trình này đòi hỏi chúng ta vừa làm, vừa phải tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn, nhằm tìm ra hình thức và bước đi thích hợp. Quá trình đó tất yếu
5
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, con người không thể tiến
hành sản xuất một cách biệt lập, riêng lẻ được. Trái lại, muốn tiến hành sản
xuất, con người chẳng những phải có quan hệ với tự nhiên mà còn phải quan
hệ với nhau để cùng hoạt động, trao đổi kinh nghiệm và kết quả lao động.
Khẳng định tính tất yếu của mối quan hệ này C.Mác nói: "Người ta không thể
sản xuất được, nếu không biết hợp tác với nhau theo một cách nào đó để hoạt
động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta
phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau và quan hệ của họ
với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối
liên hệ và quan hệ xã hội đó [24, tr. 552]. Vì lẽ đó, khái niệm "kinh tế" đã
chứa đựng trong nó cả những quan hệ giữa người với tự nhiên, lẫn những
quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, tức là quan hệ sản
xuất. Khái niệm "kinh tế" cũng có thể dùng để chỉ tổng thể các quan hệ sản xuất
của một xã hội nhất định, tạo nên cơ sở kinh tế của xã hội đó. C.Mác viết: "Toàn
bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ
sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và
những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó" [25,
tr. 15].
Nói đến nền tảng kinh tế của xã hội cụ thể là nói đến toàn bộ những
quan hệ sản xuất cũng như sự tác động lẫn nhau giữa các quan hệ ấy trong
một xã hội cụ thể. Trong các chế độ xã hội tồn tại cho đến nay, bên cạnh quan
hệ sản xuất thống trị vẫn còn quan hệ sản xuất tàn dư của chế độ xã hội cũ và
quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Cho nên kinh tế của một xã
hội cụ thể được đặc trưng, trước hết, bởi kiểu quan hệ sản xuất thống trị tiêu
biểu cho xã hội ấy đồng thời bao gồm cả những quan hệ sản xuất tàn dư và
quan hệ sản xuất mầm mống. Trong cơ sở kinh tế đó, cái giữ địa vị chi phối,
chế xã hội tương ứng với nó như nhà nước, đảng phái, các tổ chức chính trị xã hội... là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng, khái niệm
chính trị được sử dụng trong luận văn này được hiểu theo nghĩa đó.
7
Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm MácĂngghen
Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị đã được đặt ra từ rất sớm trong
lịch sử triết học. Tất cả các nhà triết học trước Mác đều đi tìm nguyên nhân của
các sự biến lịch sử không phải trong kinh tế mà ở trong chính trị, tôn giáo hoặc
trong các nhân tố tinh thần khác. Khác với các nhà triết học trước đó, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã đi tìm nguyên nhân của chính trị trong lĩnh vực kinh tế.
Theo C.Mác, kinh tế có vai trò hết sức to lớn, quyết định đối với chính
trị.
Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị được thể hiện ở chỗ: Kinh
tế tạo ra những cơ sở cho sự xuất hiện giai cấp và đối kháng giai cấp; kinh tế tạo
ra điều kiện để hình thành các chính đảng của các giai cấp thông qua các cuộc
đấu tranh giai cấp, đồng thời kinh tế còn là cơ sở cho sự ra đời của nhà nước...
Thứ nhất, kinh tế tạo ra những cơ sở cho sự xuất hiện giai cấp và đối
kháng giai cấp
C.Mác và Ăngghen cho rằng "Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát
từ luận điểm cho rằng, sản xuất và tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm
của sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ, xã hội, rằng trong mỗi xã hội xuất hiện
trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm và cùng với sự phân phối ấy là sự phân
chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp đều được quyết định bởi tình hình:
người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và những sản phẩm
của sản xuất đó được trao đổi như thế nào" [1, tr. 371]. Như vậy, theo
Ph.Ăngghen, kinh tế - sản xuất và trao đổi là cơ sở của sự xuất hiện giai cấp
trong xã hội. Vì vậy, cần tìm nguyên nhân của sự xuất hiện giai cấp, của
những biến đổi xã hội, đặc biệt là những biến đổi về chính trị, ở ngay trong
cấp, của nhà nước trong xã hội... cũng đều bắt nguồn từ nguyên nhân kinh
tế, từ lợi ích kinh tế.
9
Nhà nước ra đời cùng sự ra đời của chế độ tư hữu và sự phân chia
xã hội thành các giai cấp đối kháng. Giai cấp thống trị không thể duy trì
địa vị thống trị nếu không dựa vào bộ máy bạo lực và các công cụ của nó
như quân đội, pháp luật... Tất cả những cái đó đều bắt nguồn một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp từ những nguyên nhân kinh tế. Ph.Ăngghen đã
khẳng định: "Tất cả mọi quyền lực xã hội và tất cả mọi bạo lực chính trị
đều bắt nguồn từ những tiền đề kinh tế, từ phương thức sản xuất, trao đổi
của mỗi một xã hội nhất định trong lịch sử" [1, tr. 303]. Vì vậy, sự ra
đời, tồn tại và tiêu vong của nhà nước không phải do ý muốn chủ quan
của một cá nhân của một giai cấp nào, mà trái lại, là một tất yếu khách
quan, do yêu cầu phát triển tất yếu của các quan hệ kinh tế.
Thứ ba, hệ tư tưởng chính trị chi phối mọi hoạt động chính trị như đấu
tranh giai cấp, hoạt động của nhà nước, chính đảng... cũng đều là biểu hiện
của kinh tế.
Mặc dù chưa trực tiếp chỉ rõ rằng, hệ tư tưởng chính trị là biểu hiện
của kinh tế nhưng khi nói về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng của một xã hội nhất định, C.Mác, Ph.Ăngghen đều coi chính trị
(gồm có hệ tư tưởng chính trị và các thiết chế tương ứng cũng như mối quan
hệ nội tại giữa chúng) là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được sinh ra
từ quan hệ kinh tế nhất định và phản ánh những quan hệ kinh tế đó.
Như vậy, mọi nhân tố của chính trị, từ việc hình thành các giai cấp,
đối kháng giai cấp đến đấu tranh giai cấp; từ việc hình thành nhà nước, chính
đảng đến những hoạt động của nhà nước, của chính đảng cũng như những
quan điểm chi phối những hoạt động đó và toàn bộ lịch sử nói chung đều có
sau khi đã làm xong nhiệm vụ giành chính quyền thì tất nhiên có một nhiệm vụ
căn bản khác được đặt lên hàng đầu, đó là thiết lập một chế độ xã hội mới cao
hơn chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện nhiệm vụ đó, giai cấp vô sản phải đưa ra
được cách tổ chức lao động cao hơn, tức là nhiệm vụ kinh tế. Lúc đó, mối quan
hệ giữa kinh tế và chính trị biểu hiện ở chỗ, giai cấp vô sản đã thiết lập được bộ
13
máy nhà nước của mình, có quyền sử dụng bộ máy nhà nước đó để giải quyết
những nhiệm vụ tiếp theo trong lĩnh vực kinh tế, tổ chức lại và phát triển kinh
tế quốc dân, quản lý sản xuất. Vì thế, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
nhiệm vụ chính trị giữ địa vị phụ thuộc so với nhiệm vụ kinh tế.
Lênin cho rằng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vai trò
quyết định của kinh tế đối với chính trị còn biểu hiện ở chỗ, nhu cầu phát
triển khách quan của nền kinh tế quyết định phương hướng hoạt động của
đảng, của nhà nước của giai cấp vô sản, quyết định tính chất và khả năng ảnh
hưởng của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Nghĩa là, chính trị là sự
phản ánh tập trung của kinh tế. Sự phản ánh đó biểu hiện thông qua việc hình
thành các tổ chức chính trị, những chính sách, từ đó giải quyết những vấn đề,
quyết định mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Sự phản ánh tập trung nhu cầu phát triển khách quan của kinh tế được
thể hiện ở các chính sách kinh tế, ở phương thức hoạt động của các bộ phận
trong hệ thống chính trị. Theo V.I.Lênin thì bất cứ một vấn đề chính trị nào
cũng có thể là một vấn đề tổ chức, và ngược lại... Không thể tách những vấn
đề tổ chức khỏi những vấn đề chính trị được. Chính trị tức là kinh tế được cô
đọng lại. Trong thời kỳ quá độ, mặc dù chính trị giữ địa vị phụ thuộc so với kinh
tế, song giải quyết những vấn đề chính trị cũng chính là vì mục tiêu kinh tế:
"Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế".[23, tr.349]
Trong mối quan hệ biện chứng với kinh tế, chính trị không phải là
Trong khi nêu lên vị trí hàng đầu của chính trị đối với kinh tế, V.I.Lênin
cho rằng, trong thời quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, việc củng
cố chính quyền vô sản là tuyệt đối cần thiết. Bởi vì, sau khi giai cấp vô sản giành
được chính quyền, các giai cấp vẫn còn tồn tại, mặc dù quan hệ giữa giai cấp có
những biến đổi; song sự chống đối của giai cấp bóc lột (đã mất chính quyền)
ngày càng gay gắt; nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần. Do đó, nhà nước xã
hội chủ nghĩa có vai trò to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Trong
15
thời kỳ này, sự lãnh đạo nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ chủ yếu và cơ bản của
đảng cộng sản và của nhà nước xã hội chủ nghĩa, vì công tác kinh tế là sự nghiệp
của nhân dân lao động. Do đó, nếu giai cấp vô sản không thiết lập bộ máy nhà
nước của mình và sử dụng nó để quản lý, kiểm kê, kiểm soát được các hoạt động
sản xuất, trao đổi, phân phối sản phẩm trong nền kinh tế thì giai cấp vô sản
không thể nào giữ vững được chính quyền và không thể xây dựng được chế độ
xã hội chủ nghĩa mà còn có nguy cơ quay trở lại chế độ tư bản chủ nghĩa. Ông
viết "Nếu nhà nước không tiến hành kiểm kê và kiểm soát toàn diện đối với việc
sản xuất và phân phối các sản phẩm, thì chính quyền của những người lao động,
nền tự do của họ sẽ không thể nào duy trì được và nhất định họ sẽ phải sống trở
lại dưới ách của chủ nghĩa tư bản" [20, tr. 224].
Rõ ràng, cũng như nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng
có chức năng kinh tế. Song nhà nước xã hội chủ nghĩa khác về căn bản với
nhà nước tư sản (đặc biệt là nhà nước tư sản trong giai đoạn độc quyền) trong
việc thực hiện chức năng kinh tế. Nhà nước tư sản cũng thực hiện chức năng
kinh tế, sử dụng hàng loạt những đòn bẩy kinh tế để quản lý kinh tế, phân
phối lại thu nhập quốc dân, nhưng nhằm phục vụ lợi ích của bọn độc quyền,
để tăng cường bóc lột người lao động. Cái chính trong hoạt động của nhà
nước tư sản là trấn áp những người bị bóc lột - tức đa số những người lao
hoạt động của đảng cộng sản, của nhà nước xã hội chủ nghĩa có vai trò hết
sức to lớn để tạo ra sự phát triển của kinh tế - xã hội; tạo ra sự thắng lợi của
chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản. Vì thế, V.I.Lênin đã cho rằng, để
có thể chiến thắng được giai cấp tư sản, giai cấp vô sản phải đưa ra và thực
hiện cho được một kiểu tổ chức lao động xã hội mang lại năng suất cao hơn
chủ nghĩa tư bản.
Rõ ràng, với những chủ trương, chính sách của đảng cộng sản, của nhà
nước xã hội chủ nghĩa, với sự kiểm kê, kiểm soát trong quản lý kinh tế, đảng và
nhà nước xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản có vai trò rất to lớn trong sự phát
17
triển nền kinh tế quốc dân, trong cuộc đấu tranh cho sự thắng lợi của chủ nghĩa
xã hội đối với chủ nghĩa tư bản, trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, theo quan điểm của V.I.Lênin, trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực của đời sống xã hội có mối quan
hệ biện chứng với nhau, trong đó kinh tế, xét đến cùng, là nhân tố quyết định sự
hình thành phát triển của chính trị, song chính trị có vai trò hết sức to lớn, nó tác
động trở lại đối với sự phát triển của kinh tế. Điều này thể hiện trước hết là ở
chỗ; mọi hoạt động kinh tế, mọi sự phát triển của nền kinh tế không chỉ gắn liền
với việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, mà còn
là điều kiện đảm bảo cho hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh, đảm
bảo cho chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện trong thực tế trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó cũng chính là cơ sở vững chắc cho sự thắng
lợi của chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa đối với chế độ xã hội cũ. Tất
cả những điều đó có ý nghĩa chính trị to lớn. Ngược lại, chính sách kinh tế của
đảng cộng sản, sự quản lý của nhà nước, v.v... đối với kinh tế đều tạo ra động lực
thúc đẩy cho kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Vì thế, V.I.Lênin quan niệm rằng, chính trị là sự biểu hiện tập
trên những nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội mới, với bối cảnh mới của đất
nước và quốc tế trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”
Vai trò là chức năng, tác dụng của cái gì hoặc của ai trong sự vận động
phát triển của nhóm, của tập thể nói chung. Vì vậy, có thể hiểu vai trò của hệ
thống chính trị ở Việt Nam là chức năng, là ý nghĩa tác dụng của hệ thống
chính trị trong quá trình phát triển chế độ chính trị-kinh tế-xã hội đất nước.
Vai trò của hệ thống chính trị được thể hiện qua các chức năng đó là: tổ chức
thực hiện quyền lực của nhân dân; xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết
dân tộc; thực hiên cơ chế đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân...
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt toả tác
dụng và tiếp tục làm nảy nở thêm” [31, 742].
19
Như vậy, phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở Việt Nam là làm cho
các yếu tố của hệ thống chính trị được tăng cường, phát triển, tác động mạnh
mẽ theo chiều hướng tích cực đến các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc
phòng - an ninh của đất nước.
Về thực chất, việc phát huy vai trò của hệ thống chính trị đối với kinh tế
ở Việt Nam là phát huy những nhân tố tích cực, khắc phục những nhân tố tiêu
cực, làm cho hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới.
Cụ thể đó là việc phát huy vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá
trình lãnh đạo, chỉ đạo, lựa chọn khai thác các mặt thuận lợi tạo ra hợp lực cho
kinh tế thị trường phát triển, đề ra chủ trương nhằm hạn chế tối đa tác động tiêu
cực của kinh tế thị trường và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát
triển kinh tế thị trường ở nước ta
Đó là việc phát huy vai trò của Nhà nước trong quá trình tổ chức hoạt động,
đề ra các chính sách kinh tế vĩ mô, tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho tiến hành
Vì vậy, việc nghiên cứu và giải quyết tốt mối quan hệ này ở nước ta
có ý nghĩa lý luận và phương pháp luận quan trọng nhằm tiếp tục sự nghiệp
đổi mới của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì cần phải nhận thức
đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, trong đó kinh tế là gốc, là
thước đo tính hợp lý của chính trị, tương ứng với một trình độ phát triển nhất
định về kinh tế thì có một trình độ phát triển về mặt chính trị. Cơ sở kinh tế
như thế nào thì cơ cấu thể chế chính trị thích ứng như thế ấy. Sự biến đổi,
phát triển của kinh tế là nguồn gốc sâu xa của mọi biến đổi và đảo lộn về
chính trị. Kinh tế phát triển thì chính trị tiến bộ, ngược lại kinh tế khủng
hoảng là dấu hiệu cho thấy sự bất cập của chính trị và đòi hỏi phải có sự điều
chỉnh về chính trị. Điều đó có nghĩa, nếu không giải quyết đúng đắn các quan
hệ kinh tế, lợi ích kinh tế, không thúc đẩy kinh tế phát triển thì sự vận động
của chính trị sẽ khó khăn, thậm chí có thể bế tắc, thất bại. Đồng thời chính trị
21
được coi là tiến bộ, hợp lý khi nó hướng vào sự phát triển kinh tế, phục vụ
kinh tế. Trong mối quan hệ trên thì kinh tế là tính thứ nhất, chính trị là tính
thứ hai, là cái phản ánh của kinh tế. Kinh tế có vai trò quyết định đối với
chính trị, song chính trị cũng có tính độc lập tương đối và tác động mạnh mẽ
trở lại đối với kinh tế. Sự tác động của chính trị đối với kinh tế có thể theo
những hướng khác nhau: thúc đẩy, kìm hãm hoặc vừa thúc đẩy mặt này, kìm
hãm mặt kia do đó có thể làm thay đổi cơ sở kinh tế ở một chừng mực nhất
định. Như vậy, để phát triền kinh tế cần phải quan tâm đến chính trị, đến hệ
thống chính trị mà đặc biệt là vai trò của đảng cộng sản và bộ máy nhà nước.
Thực chất của sự tác động của chính trị đối với kinh tế là tạo môi trường xã
hội ổn định, đáp ứng điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế, giải phóng
sức sản xuất, tạo động lực cho phát triển kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải ưu tiên
chiều sâu để phát huy cao độ vai trò của nó trong phát triền nền kinh tế
Trên cơ sở nhận thức và giải đúng đắn mối quan hệ kinh tế và chính
trị Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Trong đó việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị là vấn đề cơ bản có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế đất nước
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị, Đảng ta xác định rằng, cần phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi
mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời
từng bước đổi mới chính trị. Đây là một chủ trương đúng đắn, đảm bảo không gây
nên những đảo lộn làm mất cân bằng trong đời sống xã hội; đồng thời giữ vững
được sự ổn định chính trị một tiền đề tiên quyết cho sự phát triển của đời sống
kinh tế - xã hội. Trong khi khẳng định sự cần thiết phải phát triển kinh tế thị
trường, Đảng ta cũng thấy được mặt trái và những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối
với đất nước. Do đó trên lĩnh vực chính trị và đặc biệt là hệ thống chính trị, việc
đổi mới về thể chế, tổ chức, nội dung và phương hướng hoạt động được thực hiện
23
đồng bộ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể khác thuộc hệ
thống chính trị theo hướng dân chủ hoá; khắc phục và loại bỏ cơ chế tập trung
quan liêu hành chính mệnh lệnh, xơ cứng, giáo điều, tách rời và cản trở sự phát
triển kinh tế. Chính vì vậy, để phát huy cao độ vai trò của hệ thống chính trị đối
với sự phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phải tiếp
tục tích cực đổi mới hệ thống chính trị một cách thận trọng, từng bước theo chiều
sâu.
Muốn vậy, phải đổi mới nhận thức, tư duy cũng như phương thức làm
việc trong các cơ quan công quyền Nhà nước, phải thực hiện dân chủ hoá xã hội,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
“sống còn” của nền kinh tế và coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra, nhất là vấn đề đổi mới hệ thống chính
trị nhằm thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đi đến thành
công
Ba là, phải có chủ trương, chính sách đúng đắn để phát huy cao độ vai trò
của hệ thống chính trị đối với sự phát triển kinh tế đất nước
Lựa chọn và phát triển kinh tế đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa
là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng,
đó là quá trình đầy khó khăn và phức tạp. Trong quá trình phát triển nền kinh tế,
khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa đối với nước ta là không thể coi thường.
Chính vì vậy, để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta, vai trò của hệ thống chính trị mà trước hết là vai trò
lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là không thể thiếu được.
Chính vì vậy việc phát huy vai trò của hệ thống chính trị đặc biệt là vai
trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước có ý nghĩa quyết định
trong việc đảm bảo sự phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Vai trò của hệ thống chính trị là định hướng, tổ chức và quản lý nền kinh tế
thị trường vận động theo quỹ đạo xã hội chủ nghĩa. Muốn làm được điều đó, Đảng
và Nhà nước phải có chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp để phát triển kinh tế
25
nhà nước, làm cho thực lực kinh tế nhà nước phát triển mạnh mẽ, có đủ sức để có
thể giữ được vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà
nước phải xây dựng và phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa
dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Để làm được điều đó Đảng và Nhà nước phải
thông qua chủ trương, chính sách, pháp luật và các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà
nước như kế hoạch, tài chính, ngân hàng, giá cả... Nhờ vào những công cụ và
phương tiện đó, Đảng và Nhà nước có thể tiến hành kiểm kê, kiểm soát, điều tiết
những yếu tố, những liên hệ kinh tế tồn tại một cách khách quan do lịch
sử để lại, coi chúng là những dữ kiện, cơ sở để hoạch định chủ trương
chính sách theo những quy luật kinh tế khách quan, đó là một trong
những yêu cầu cơ bản của sự lãnh đạo đúng đắn, có hiệu quả của hệ
thống chính trị đối với kinh tế.
Kết luận chương 1
Như vậy, trong mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, thì kinh
tế quyết định chính trị và chính trị luôn tác động mạnh mẽ trở lại đối với kinh tế.
Vì thế khi nhận thức, vận dụng quan hệ biện chứng này trong đời sống thực tiễn
phải xuất phát từ kinh tế, đồng thời luôn coi trọng yếu tố chính trị. Nếu tách rời
kinh tế với chính trị, tuyệt đối hoá mặt kinh tế và coi nhẹ yếu tố chính trị sẽ dẫn
đến sai lầm của chủ nghĩa duy vật kinh tế tầm thường. Ngược lại, tuyệt đối hoá
mặt chính trị, coi nhẹ yếu tố kinh tế sẽ dẫn đến sai lầm chủ quan, duy ý chí và sẽ
phải trả giá đắt dẫn đến thất bại trong hoạt động thực tiễn.
Để hoạt động kinh tế của đất nước phát triển đúng quỹ đạo của nó, vận
động đúng các quy luật khách quan, đòi hỏi hệ thống chính trị phải được xây
dựng, hoàn thiện và phát huy cao độ vai trò của nó trong tính tương thích và phù
hợp với chính nền tảng kinh tế của chế độ xã hội đó. Điều đó có nghĩa phải phát
huy vai trò của hệ thống chính trị trong việc định hướng, tổ chức và quản lý,
điều hành nền kinh tế thị trường vận động theo đúng quỹ đạo xã hội chủ
nghĩa. Muốn làm tốt điều đó thì trước hết Đảng và Nhà nước phải có những
chủ trương, chính sách phát triển kinh tế đúng đắn, có phương thức lãnh đạo
27
phù hợp, động viên được mọi nguồn lực, thực hiện tốt vấn đề dân chủ trong
lĩnh vực kinh tế, thực hiện được một nền kinh tế nhân dân, làm cho mọi người
dân tự ý thức, tự tham gia xây dựng nền kinh tế ấy.
Như vậy, trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước