1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=====================
PHÙNG THANH HOA
PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
Ở THÁI NGUYÊN TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Hà Nội - 2013
2 Contents
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1
MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 14
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 14
5. Phương pháp nghiên cứu 15
6. Ý nghĩa của luận văn 15
7. Kết cấu của luận văn 15
NỘI DUNG 16
Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ GCCN, CNH, HĐH VÀ PHÁT HUY VAI TRÕ
CỦA GCCN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH, HĐH Ở THÁI NGUYÊN
16
1.1. Khái luận về GCCN, phát huy vai trò của GCCN và CNH, HĐH ở Thái
Nguyên 16
1.1.1. Khái luận về GCCN, phát huy vai trò của GCCN 16
1.1.2. CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 26
1.2. Đặc điểm và tính tất yếu phát huy vai trò của GCCN ở Thái Nguyên
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước 33
1.2.1. Đặc điểm của GCCN ở Thái Nguyên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước 33
1.2.2.Tính tất yếu tiếp tục phát huy vai trò của GCCN ở Thái Nguyên trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH,H ĐH đất nước………………………………………….33
4 Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TIẾP TỤC PHÁT HUY
5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CNH: Công nghiệp hóa
2. CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3. CNTB: Chủ nghĩa tư bản
4. CNXH: Chủ nghĩa xã hội
5. GCCN: Giai cấp công nhân
6. HĐH: Hiện đại hóa
7. LLSX: Lực lượng sản xuất
8. PTSX: Phương thức sản xuất
9. TBCN: Tư bản chủ nghĩa
10. TLSX: Tư liệu sản xuất
11. XHCN: Xã hội chủ nghĩa
6
quá trình CNH, HĐH của tỉnh cũng như cả nước. GCCN ở Thái Nguyên có những
đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhưng bên cạnh đó đội
ngũ này vẫn còn có những hạn chế, chưa phát huy hết vai trò của mình. Vì vậy, để
đưa Thái Nguyên đến năm 2020 trở thành “một trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo
dục, y tế của Trung du miền núi phía Bắc” thì việc nghiên cứu và đề xuất những
giải pháp nhằm phát huy vai trò của GCCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong sự
nghiệp CNH, HĐH là một vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn.
Chính vì những lí do trên mà tác giả chọn đề tài: "Phát huy vai trò của giai
cấp công nhân ở Thái Nguyên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước" làm luận văn tốt nghiệp cao học, với hy vọng góp một chút sức lực nhỏ bé
của mình vào việc nghiên cứu vấn đề trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
GCCN, phát huy vai trò của GCCN là một trong những yếu tố có ý nghĩa
quan trọng, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trong những năm gần đây đã có
nhiều công trình khoa học tập trung nghiên cứu những vấn đề này.
Thứ nhất, các công trình khoa học bàn chung về GCCN trong sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước
- Cao Văn Lượng (chủ biên), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển
giai cấp công nhân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001: Tác phẩm khái quát một
số vấn đề lý luận về GCCN, sự phát triển và biến đổi sâu sắc về mọi mặt của GCCN
dưới tác động của CNH, HĐH, của sự phát triển khoa học kỹ thuật; thực trạng của
công nhân lao động ở nước ta hiện nay cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu. Tác giả
khẳng định khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp thì trình độ trí thức của công nhân sẽ ngày càng được nâng cao. Bộ phận
này chính là lực lượng nòng cốt của GCCN hiện nay. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra
những chính sách và giải pháp cơ bản xây dựng, củng cố và tăng cường vị trí của
GCCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
- Dương Xuân Ngọc (chủ biên), “GCCN Việt Nam trong sự nghiệp CNH,
hoạt động của tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên trong các loại hình
doanh nghiệp; những âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” và tuyên truyền phản
động của các thế lực thù địch đối với GCCN; cuối cùng là giải pháp và kiến nghị
9 nhằm thúc đẩy, nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển lý luận về GCCN Việt
Nam trong thời gian tới.
- Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Nguyên (2012), “Xây dựng đội ngũ công
nhân tỉnh Thái nguyên đáp ứng mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Báo cáo đã chỉ ra những kết quả đã đạt được sau hơn 25 năm thực hiện đường lối
đổi mới đất nước thì GCCN ở Thái Nguyên đã phát triển nhanh chóng cả về số
lượng và chất lượng phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH, góp phần thúc đẩy kinh tế
của tỉnh tiếp tục tăng trưởng và phát triển ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tích cực, hệ thống các khu cụm công nghiệp được mở rộng; các lĩnh vực văn
hoá - xã hội phát triển; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; bộ
mặt nông thôn và thành thị có nhiều đổi thay; hệ thống chính trị được củng cố; dân
chủ được phát huy; kinh tế đối ngoại ngày càng được mở rộng, thu hút đầu tư không
ngừng tăng.
Thứ hai, các công trình khoa học bàn về phát huy vai trò của GCCN
trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
- Viện Công nhân và Công đoàn, “Một số vấn đề cơ bản về xây dựng và phát
huy vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,
Nxb Lao động, Hà Nội, 2004. Cuốn sách đã đề cập tới những vấn đề cơ bản trong
việc xây dựng GCCN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Đồng thời, tác giả cũng
đưa ra được một số biện pháp để phát huy vai trò của GCCN thời kỳ CNH, HĐH
đất nước.
- Dương Văn Sao“Xây dựng, phát huy vai trò GCCN, nhân tố quyết định
thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH” (2007), Tạp chí Lao động và Công đoàn
số 376, tháng 3 (kỳ 2) - 2007. Tác giả đã khẳng định GCCN là nhân tố quyết định
kết luận mang tính khái quát cao về GCCN Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện
nay. Đề tài đã tập trung phân tích, luận giải những vấn đề cơ bản, cốt lõi của GCCN
từ khái niệm, vị trí, vai trò, thực trạng và xu hướng biến đổi của GCCN Việt Nam
giai đoạn 2010- 2020. Đề tài cũng khẳng định cùng với thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, GCCN Việt Nam sẽ ngày càng
trí thức hóa. Từ đó, đề tài đã đề xuất những quan điểm, giải pháp toàn diện và có
11 tính khả thi để Đảng và Nhà nước xây dựng và phát huy vai trò của GCCN Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Nguyễn Mạnh Thắng, “Xây dựng, phát huy vai trò GCCN Việt Nam trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” (2011), Tạp chí Cộng sản, tháng 9/2011.
Bài viết đã chỉ ra một số những đặc điểm cũng như hạn chế của GCCN Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới. Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cơ bản trước mắt để
xây dựng, phát triển GCCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
Thứ ba, các công trình khoa học bàn về xu hướng biến đổi của GCCN
trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
- Viện công nhân và công đoàn – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, “Xu
hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ
XXI”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001. Đây là kỷ yếu hội thảo khoa học tập hợp các
bài viết phân tích các điều kiện quy định và các yếu tố tác động đến GCCN; từ đó
dự báo những xu hướng biến động (hay biến đổi có tính không thường xuyên) của
GCCN Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI.
- Phan Thanh Khôi, “Trí thức hóa công nhân một số vấn đề lý luận và thực
tiễn; và Nội dung và chủ thể, quan điểm và giải pháp trí thức hóa công nhân ở nước
ta hiện nay”, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 323 + 324 + 329, năm 2005. Tác
giả chỉ ra và phân tích những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, của tư
tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước về GCCN và khẳng định trong những
năm qua cùng với sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, GCCN biến đổi không
của kinh tế thị trường, của quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập quốc tế theo cả hai chiều hướng tiến bộ và thoái bộ đến việc thực hiện
vai trò của GCCN. Trên cơ sở đó tác giả dự báo về xu hướng biến đổi của GCCN
trong thời gian tới để từ đó có những quan điểm và giải pháp thúc đẩy vai trò của
GCCN theo chiều hướng tiến bộ.
- Văn Tạo,“Đổi mới tư duy về giai cấp công nhân- kinh tế tri thức và công
nhân tri thức”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. Đây là một công trình nghiên
cứu khá sâu sắc về GCCN và đội ngũ công nhân tri thức. Tác giả đã hệ thống hóa
những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng, của các chuyên gia đầu ngành về GCCN. Tác giả chỉ ra rằng cùng
13 với sự nghiệp đổi mới cần phải đổi mới tư duy về GCCN, cần đặt vấn đề công nhân
trong phạm trù dân tộc và nhìn nhận theo quan điểm lịch sử; cần coi trọng vị trí và vai
trò của GCCNvới tư cách là LLSX của xã hội; cần khẳng định những yếu tố bất biến
trong định nghĩa về giai GCCN, đồng thời coi trọng tìm ra những yếu tố khả biến cần
thay đổi, bổ sung… từ đó tác giả đi tới một định nghĩa mới về GCCN Việt Nam.
Tác giả đã dành một phần rất quan trọng của cuốn sách để phân tích, làm rõ
mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế tri thức và công nhân tri thức. Tác giả chỉ ra
rằng kinh tế tri thức đã bắt đầu hình thành ở Bắc Mỹ, Nhật Bản và một số nước Tây
Âu. Ở Việt Nam cũng đã xuất hiện một số yếu tố ban đầu của kinh tế tri thức. Với
tinh thần năng động, sáng tạo và nhạy bén với cái mới đã Đảng và Nhà nước đã tiếp
cận về mặt tư duy và dự kiến phương châm đi tắt, đón đầu tiến vào kinh tế tri thức.
Tác giả đã phân tích các đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức. Từ đó, tác giả khẳng
định cùng với sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức, công nhân tri thức xuất
hiện ngày càng đông đảo và là nhân tố quyết định hướng đi của lịch sử xã hội cũng
như hướng đấu tranh cho tiến bộ xã hội. Công nhân tri thức không mất đi mà ngày
càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, ngày càng thể hiện vai trò to lớn của
mình cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức. Bởi vậy, công nhân tri thức - nhân
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu GCCN trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên từ giữa thập niên 1990 đến nay.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1. Mục đích
Làm rõ cơ sở khoa học về phát huy vai trò của GCCN, thực trạng của GCCN
ở Thái Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát
huy vai trò của GCCN ở Thái Nguyên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ một số quan niệm và mối quan hệ cơ bản như: quan niệm GCCN
Việt Nam; quan niệm CNH, HĐH; mối quan hệ giữa CNH, HĐH với sự phát triển
của GCCN; vai trò và phát huy vai trò của GCCN ở Thái Nguyên trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước.
15 - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy vai trò của GCCN
ở Thái Nguyên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng ta về GCCN, vai trò và phát huy vai trò
của GCCN và CNH, HĐH.
5.2. Phương pháp phân tích, đánh giá: Vận dụng tổng hợp phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; coi trọng phương pháp logíc - lịch sử; kết
hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê,
5.3. Phương pháp (hay kỹ thuật) tiến hành nghiên cứu: khảo cứu tài liệu;
chuyên gia (bằng tư vấn và thảo luận); phương pháp phỏng vấn sâu của xã hội học.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tạo lập cơ sở khoa học để các
cấp lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Thái Nguyên tham khảo, vận dụng trong quá trình
kinh điển của CNXH khoa học mới mang tính khách quan và khoa học nhất. Trong
rất nhiều tác phẩm của mình các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã dùng
nhiều khái niệm, mệnh đề khác nhau để một mặt cho thấy đó là những từ ngữ đồng
nghĩa nhưng mặt khác như là những giải thích định nghĩa về những nét, giá trị, góc
độ, thuộc tính khác nhau của GCCN:
- Nếu gắn với từ công nhân thì đó là GCCN đại cơ khí, GCCN hiện đại,
GCCN công xưởng nhà máy, công nhân thành thị.
- Nếu gắn với công nghiệp thì đó là người lao động công nghiệp, là sản phẩm
của nền đại công nghiệp, con đẻ của công nghiệp hiện đại, trực tiếp do công nghiệp
sinh ra.
- Nếu gắn với vô sản thì đó là giai cấp vô sản, trần như nhộng, giai cấp vô
sản công nghiệp.
- Nếu gắn với lao động thì đó là giai cấp lao động làm thuê, giai cấp lao
động làm thuê thế kỷ XIX, giai cấp sống dựa vào bán sức lao động của mình.
- Nếu gắn với vị trí lịch sử, tương lai thì đó là giai cấp vô sản cách mạng, giai
cấp thống trị lãnh đạo xã hội, giai cấp vô sản trí thức, GCCN lao động trí óc…
17 - Nếu bàn tới GCCN gắn với sự tha hóa không mong đợi về nó thì đó là giai
cấp vô sản lưu manh, GCCN quý tộc, kẻ nấp bóng tư sản, kẻ theo đuôi tư sản.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng nêu lên những đặc điểm,
tính chất chủ yếu của GCCN đồng thời dự báo tương lai của giai cấp này. Do đào
luyện trong môi trường công nghiệp trong mối quan hệ lao động nói riêng và quan
hệ xã hội nói chung trong xã hội tư bản nên GCCN có những đặc điểm, tính chất mà
các giai cấp, tầng lớp khác không có hoặc ít có; tập trung lực lượng vào các doanh
nghiệp, nhà máy, khu công nghiệp thành phố; tính tổ chức kỷ luật cao; đấu tranh
mạnh mẽ, triệt để cách mạng; tính tiên tiến về kinh tế, chính trị.
Ngay từ năm 1844, khi bắt đầu nghiên cứu GCCN trong tác phẩm: “Gia đình
thần thánh”, C.Mác đã đặt ra câu hỏi “Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực sự là gì
với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Các
giai cấp đều suy tàn tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai
cấp vô sản trái lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” [36, 610].
Khẳng định vai trò lịch sử của GCCN C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Giai cấp tư sản
không những đã rèn vũ khí giết mình mà còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy
những người công nhân hiện đại, những người vô sản” [36, 605]. C.Mác và
Ph.Ăngghen không phủ nhận vai trò to lớn của giai cấp tư sản trong lịch sử. “Trong
quá trình thống trị chưa đầy một thế kỉ đã tạo ra những lưc lượng xã hội nhiều hơn
tất cả các thế kỉ trước đây gộp lại” [36, 603]. Tuy vậy, trong xã hội tư bản hiện đại
với sự phát triển mạnh mẽ của LLSX và giờ đây giai cấp tư sản “ giống như một tay
phù thuỷ không còn đủ sức trị những âm binh mà y triệu lên” [36, 604], do đó
CNTB đã trở lên chật hẹp không còn đủ để chứa đựng những của cải đã tạo ra trong
lòng nó nữa “ giai cấp tư sản đã sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó.
Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như
nhau”[36, 613]
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để bàn
về GCCN như: giai cấp vô sản, giai cấp hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán sức lao
động của mình, lao động làm thuê thế kỷ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công
nhân đại công nghiệp…như những cụm từ đồng nghĩa để biểu thị một khái niệm:
GCCN - con đẻ của nền đại công nghiệp TBCN, giai cấp đại diện cho lực lượng sản
19 xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại. Các ông còn dùng những thuật ngữ
có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau, trong
những giai đoạn phát triển khác nhau của công nghiệp: công nhân khoáng sản, công
nhân công trường thủ công, công nhân công xưởng, công nhân nông nghiệp,…
C.Mác và Ph.Ăngghen chưa nêu thành một định nghĩa hoàn chỉnh về GCCN nhưng
qua những tác phẩm của mình với những cách tiếp cận khác nhau, các ông đã nêu lên
một cách khái quát nhất những đặc trưng cơ bản, những thuộc tính bản chất của
vật chất và tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc vào cung - cầu hàng hoá sức lao
động, phụ thuộc vào kết quả sức lao động của chính họ. Họ phải tạo ra giá trị thặng
dư, nhưng giá trị thặng dư lại giai cấp tư sản chiếm đoạt.
Theo V.I. Lênin, GCCN là giai cấp thống trị về chính trị, là giai cấp lãnh đạo
toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ CNTB, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội
mới, trong cuộc đấu tranh giải phóng tất cả các giai cấp. Xu hướng phát triển của
GCCN là đi tới tự thủ tiêu mình với tư cách là giai cấp vô sản. V.I. Lênin coi công
nhân là những người lao động chuyên nghiệp, làm việc trong các nhà máy xí
nghiệp, làm việc trong nền đại công nghiệp. Bằng những hoạt động sáng tạo không
biết mệt mỏi trên lĩnh vực lý luận, thực tiễn trong hoàn cảnh lịch sử mới V.I.Lênin
đã cụ thể hóa và phát triển lý luận về GCCN.
* Về GCCN Việt Nam
Ở nước ta, giáo trình “Chủ nghĩa xã hội khoa học” do Hội đồng Trung ương
chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin viết: GCCN
là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát
triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của LLSX có tính chất xã
hội hóa ngày càng cao; là LLSX cơ bản tiên tiến, trực tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất, tái tạo ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ
yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lên CNXH. Ở các nước TBCN, GCCN là
những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất và bị giai cấp tư
sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước XHCN, họ là những người cùng với nhân
dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động
vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ.
21 Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số định nghĩa về GCCN.
Chẳng hạn PGS.TS Dương Xuân Ngọc trong cuốn “Giai cấp công nhân trong sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” đã đưa ra định nghĩa về GCCN:
“GCCN là một tập đoàn người ổn định, hình thành và phát triển gắn với nền sản
nghiệp; nắm giữ những cơ sở vật chất kỹ thuật then chốt của xã hội và tiêu biểu cho
phương thức sản xuất tiên tiến của xã hội” [43, 29].
Gần đây, Nghị quyết trung ương 6, khoá X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
đưa ra khái niệm về GCCN Việt Nam như sau: “GCCN Việt Nam là một lực lượng
xã hội to lớn, đang phát triển bao gồm những người lao động chân tay và lao động
trí óc, làm công ăn lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công
nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [19, 23].
Các định nghĩa đã nêu đều thống nhất khi tập trung đề cập đến khía cạnh bản
chất của GCCN, là người lao động công nghiệp gắn với khoa học kỹ thuật công
nghệ cao, địa vị kinh tế - xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử của GCCN. Từ những
định nghĩa trên ta có thể thấy được những đặc trưng bản chất nhất của GCCN:
- GCCN vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền sản xuất hiện đại, họ đại
diện cho PTSX tiên tiến, có lợi ích cơ bản đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư
sản, có hệ tư tưởng độc lập và tiên tiến
- GCCN có mặt trong tất các nền kinh tế, địa vị kinh tế - xã hội của họ tùy
thuộc vào chế độ xã hội đương thời (CNTB và CNXH). Địa vị kinh tế – xã hội đó
quy định các mối quan hệ và vai trò của GCCN trong xã hội.
- GCCN có sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng
xã hội mới – XHCN và cộng sản chủ nghĩa, giải phóng mình đồng thời giải phóng
toàn nhân loại khỏi sự phân chia giai cấp, khỏi sự đấu tranh giai cấp, đưa con người
đến với chân trời tự do hạnh phúc.
Từ những đặc trưng bản chất của GCCN, có thể nêu một số nhận định về
GCCN Việt Nam như sau:
Thứ nhất, sinh ra và lớn lên từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, có
truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, dù còn non trẻ, nhỏ bé, song giai cấp
công nhân Việt Nam đã sớm trở thành giai cấp duy nhất được lịch sử, dân tộc thừa
23 nhận và giao phó sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ sau các phong trào cứu
vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
1.1.1.2. Về vai trò và phát huy vai trò của GCCN
Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được
gắn liền với một vị thế xã hội nhất định. Vai trò không có tính chất tưởng tượng, bắt
chước cứng nhắc và nhất thời. Vai trò của một người có nghĩa là người đó phải đảm
nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị
thế của người đó. Đồng thời, họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng
với việc thực hiện vai trò của họ. Mỗi cá nhân có nhiều vị thế, và do đó có nhiều vai
trò khác nhau ở gia đình và ngoài xã hội.
Vị thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị,
xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác
mà quy định nên. Tuỳ theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi,
tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách. Vị thế và vai trò
luôn gắn bó mật thiết với nhau. Không thể nói tới vị thế mà không nói tới vai trò và
ngược lại. Vai trò và vị thế là hai mặt của một vấn đề. Vị thế của cá nhân được xác
định bằng việc trả lời cho câu hỏi: người đó là ai? Và vai trò của các nhân được xác
định bằng cách trả lời câu hỏi: người đó phải làm gì? Vai trò phụ thuộc vào vị thế
(vị thế nào vai trò ấy). Một vị thế có thể có nhiều vai trò. Trong mối quan hệ giữa vị
thế và vai trò thì vị thế thường ổn định hơn, ít biến đổi hơn, còn vai trò thì biến
động hơn. Thông thường thì sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào sự biến đổi của vị
thế. Vị thế biến đổi thì vai trò cũng biến đổi.
Từ quan niệm về vai trò như vậy, có thể khái quát vai trò của GCCN như
sau:
Thứ nhất, GCCN Việt Nam, thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực
lượng lãnh đạo sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, xét về tương quan lực lượng xã hội,
GCCN vẫn là giai cấp lãnh đạo cách mạng, mà không có một giai tầng nào có thể
người công nhân có vai trò quan trọng nhất. Không ai có thể thay thế được người
công nhân trong quá trình sản xuất. Thực tế lịch sử đã chứng minh GCCN là lực
lượng tiên phong trong sản xuất vật chất. Đội ngũ của họ ngày càng được bổ
sung những người lao động có trình độ học vấn và tay nghề ngày càng cao, thích
ứng với cơ chế thị trường, tiếp cận nhanh với khoa học tiên tiến, công nghệ hiện