MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5. Kết cấu của đề tài
Chương I
KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN
1.1. Khái niệm giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó
1.1.1. Khái niệm giai cấp công nhân
1.1.2. Đặc điểm của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của nó
1.1.2.1. Đặc điểm của giai cấp công nhân
1.1.2.2. Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, giai cấp công
nhân Việt Nam mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam quan vinh luôn nêu
cao bản chất cách mạng, lãnh đạo toàn dân tộc làm nên những thắng lợi có ý nghĩa
lịch sử vô cùng to lớn. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta lại lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân
dân cả nước tiếp tục làm nên những kỳ tích mới. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, vai trò cách mạng, vai trò lãnh đạo, tính tiên phong của giai
cấp công nhân càng trở nên quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công
và chiều hướng phát triển của đất nước.
Việt Nam tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện thế
giới có nhiều biến động. Sự phát triển không ngừng của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ , xu hướng toàn cầu hóa cùng với kinh tế thị trường trên thế giới không
chỉ tác động, điều chỉnh các hoạt động kinh tế, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến mọi
nhân Việt Nam trưởng thành, vững mạnh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng
Tiểu luận nghiên cứu một số vấn đề về giai cấp công nhân nói chung, về quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và thực trạng giai cấp công
nhân Việt Nam trong quá trình ấy.
b) Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu thực trạng chất lượng, số lượng và một số vấn
đề có liên quan của giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa giai đoạn hiện nay.
4.Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
a) Cơ sở lý luận
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta về giai cấp công nhân.
b) Cơ sở thực tiễn
Ảnh hưởng của Phật giáo đến nhân sinh quan người Việt trong giai đoạn hiện
nay.
3
c)Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp tổng hợp, thu thập và phân tích tài liệu ;
phương pháp quan sát kết hợp với sử dụng phương pháp khái quát hóa , v.v
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung tiểu
luận gồm 3 chương.
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN
1.1. Khái niệm giai cấp công nhân
Bàn về khái niệm giai cấp công nhân, cho tới nay, đây thực sự là vấn đề khó
và phức tạp. Những năm gần đây, trong nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu,
nhiều hội thảo, hội nghị khoa học vấn đề này được nêu ra và tập trung luận giải.
Nhưng vẫn chưa có được một cách giải quyết thấu đáo để đi tới một định nghĩa
nghiệp ngày càng hiện đại và quốc tế hóa cao.
Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là những người không
có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột
giá trị thặng dư.
Căn cứ vào hai thuộc tính cơ bản mà C.Mác và Ăngghen đã nêu ở trên, có
thể đưa ra khái niệm về giai cấp công nhân như sau:
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển
cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển
của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng lao
động cơ bản trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra
5
của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và
phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay. Ở các nước tư bản, giai cấp
công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, làm
thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa,
giai cấp công nhân là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư
liệu sản xuất chủ yếu, là giai cấp lãnh đạo xã hội trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, thế giới đã đổi thay, bộ mặt của giai cấp công nhân đã có nhiều
thay đổi khác trước, ngay trong chính các nước tư bản chủ nghĩa và các nước theo
con đường chủ nghĩa xã hội.
1.2. Đặc điểm của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của nó
1.2.1. Đặc điểm của giai cấp công nhân
Hiện nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu
hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, giai cấp công nhân hiện đại đã có
cho mình những đặc điểm mới, bên cạnh những đặc điểm truyền thống từ trước đó.
Có thể khái quát những đặc điểm cơ bản, phổ biến, phản ánh bản chất của giai cấp
công nhân như sau:
Thứ nhất, giai cấp công nhân vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền sản
xuất công nghiệp ngày càng hiện đại, quốc tế hóa cao.
Xuất phát từ địa vị kinh tế-xã hội, là sản phẩm của nền đại công nghiệp ngày
càng hiện đại và quốc tế hóa, là giai cấp tiên tiến, luôn nằm ở vị trí trung tâm của
sự phát triển xã hội, giai cấp công nhân là giai cấp mang sứ mệnh lịch sử cao cả.
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được thể hiện như sau:
Một là, lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản, xóa bỏ chế độ
người bóc lột người, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao
động.
Hai là, lãnh đạo, tổ chức và thực hiện quá trình xây dựng xã hội mới- xã hội
xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, thực hiện sự chuyển biến cách mạng từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi mỗi quốc gia cũng như trên
toàn thế giới thông qua đội tiên phong của mình là Đảng cộng sản.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải là thục hiện sự chuyển
biến từ chế độ tư hữu này sang chế độ tư hữu khác, thay đổi hình thức bóc lột này
7
sang hình thức bóc lột khác mà là xóa bỏ chế độ tư hữu những tư liệu sản xuất chủ
yếu, xóa bỏ mọi hình thức người bóc lột người để tiến tới xóa bỏ giai cấp nói
chung.
Do địa vị kinh tế- xã hội, giai cấp công nhân có khả năng liên minh với đông
đảo quần chúng lao động để tăng cường sức mạnh của mình trong cuộc đấu tranh
chống giai cấp tư sản. Quần chúng lao động chỉ được giải phóng khi liên minh với
giai cấp công nhân, chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng
của giai cấp công nhân. Do vậy, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phong
trào của đa số, mưu cầu lợi ích cho toàn thể nhân dân lao động.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự thống nhất biện chứng của hai
quá trình: cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Trong đó, việc xây dựng xã hội
mới là quá trình quan trọng và quyết định nhất. Thực hiện trọn vẹn sứ mệnh lịch
sử này là vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi giai cấp vô sản, một mặt, phải kiên
trì thực hiện sứ mệnh lịch sử trong thời gian lâu dài, mặt khác, phải thường xuyên
gắn bó với dân tộc, đoàn kết dân tộc để tạo nên sức mạnh tổng hợp, đồng thời phải
thường xuyên đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chống mọi kẻ thù của nhân dân và
Tư tưởng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được Đảng ta xác định là
nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ Đại hội III. Đại
hội IV, V, VI của Đảng đã tiếp tục khẳng định, cụ thể hóa và hiện thực hóa từng
bước. Tuy nhiên, có thể nói, suốt một thời gian dài, (từ năm 1960 đến năm 1986)
quan niệm và cách tiến hành công nghiệp hóa ở nước ta hầu như không thay đổi,
chủ yếu tập trung phát triển công nghiệp nặng trong khi thực tiễn đất nước không
đủ điều kiện để thực hiện.
Đại hội VI của Đảng(1986) đã đánh dấu bước chuyển hướng chiến lược về
công nghiệp hóa từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang lấy nông nghiệp, công
nghiệp sản xuất hành tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm. Từ đó đến nay,
9
việc nhận thức và cách tiến hành công nghiệp hóa đã từng bước phù hợp với tình
hình thực tiễn của đất nước.
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng
phát triển mạnh công nghiệp, tạo ra sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh
tế và cơ cấu lao động, áp dụng rộng rãi với hiệu quả cao những tiến bộ khoa học,
công nghệ mới, hiện đại, làm nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển nhanh,
vững chắc của toàn bộ nền kinh tế- xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa.
Hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ chỗ theo những quy trình công
nghệ thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến những quy trình công nghệ
, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của tiến bộ
khoa học- kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động, hiệu quả và trình độ văn minh kinh
tế, xã hội cao.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hai quá trình khác nhau, nhưng lại đan xen,
lồng ghép bổ sung cho nhau tạo nên sự phát triển toàn diện cả về kinh tế và xã hội.
Trên tinh thần đó, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII
đã xác định nội dung cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
là “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
hiện nay còn thấp so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước cả về số lượng và chất lượng. Mô hình tháp lao động ở nước ta hiện nay là
88% lao động không lành nghề, 5,5% lao động lành nghề, 3,5% chuyên viên kỹ
thuật, 2,7% kỹ sư, 0,3% nhà khoa học và chuyên gia. Trong khi đó, tháp lao động
của các nước công nghiệp thường là 35% lao động không lành nghề, 35% lao động
lành nghề, 24,5% chuyên viên kỹ thuật, 5% kỹ sư, 0,5% nhà khoa học và chuyên
gia”. Vậy là, để xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh toàn diện không có con
đường nào khác ngoài việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ tạo ra tiền đề, điều kiện, môi trường để phát triển
giai cấp công nhân; ngược lại, sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước sẽ tùy thuộc vào sự phát triển, lớn mạnh của giai cấp công nhân.
Không có sự tưởng thành, lớn mạnh của giai cấp công nhân thì không có thắng lợi
của sự nghiệp đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sở dĩ có điều
đó là vì:
Thứ nhất, sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam là nhân tố căn bản,
then chốt tăng cường và quyết định sự phát triển lực lượng sản xuất.
11
Thứ hai, sự lớn mạnh toàn diện của giai cấp công nhân sẽ là nhân tố bảo
đảm sự ổn định chính trị- xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ ba, sự phát triển toàn diện của giai cấp công nhân sẽ bảo đảm cho việc
giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực chất là nội dung chủ yếu của
cuộc đấu tranh giai cấp, của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường, cách thức, là phương tiện để giai cấp công
nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Do đó, sự nghiệp đổi mới, quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất thiết phải do giai cấp công nhân thông qua đảng
tiên phong của mình lãnh đạo và phải được bảo đảm, tăng cường trong suốt tiến
trình thực hiện.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo sự phát triển cho công nghiệp, nhờ đó
Về cơ cấu ngành nghề
Bên cạnh thành phần kinh tế nhà nước đang được sắp xếp lại, một số doanh
nghiệp đang được cổ phần hóa, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng
nhanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều. Trong cơ cấu
công nhân, có đội ngũ công nhân quốc phòng gồm hàng chục vạn người có kỹ
thuật, kỷ cương đang nắm giữ bộ phận công nghiệp quan trọng, là lực lượng quan
trọng của giai cấp công nhân nước ta.
Hiện nay, trong giai cấp công nhân có một bộ phận công nhân có cổ phần
trong doanh nghiệp. Theo báo cáo của Ban đổi mới doanh nghiệp nhà nước, tới nay
đã có trên 900 doanh nghiệp hoặ bộ phận doanh nghiệp đã cổ phần hóa. Trong các
doanh nghiệp này, 100% công nhân làm việc từ 3 năm trở lên đều được mua cổ
phần.
Bên cạnh đó, do tác động của cơ chế thị trường, việc chuyển dịch công nhân
về ngành nghề, địa bàn làm việc và tuổi đời gia tăng. Sự thay đổi nghề và nơi làm
việc diễn ra ở mọi lứa tuổi. Người có học vấn càng cao càng thay đổi nhiều nghề,
nhiều nơi làm việc, đặc biệt là sự chuyển dịch từ doanh nghiệp nhà nước và các
doanh nghiệp khác sang doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Về cơ cấu tuổi nghề của công nhân
Theo kết quả điều tra của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện nay,
công nhân có tuổi nghề phổ biến là từ 1 đến 5 năm, chiếm 30,62%; từ 6 đến 10
năm chiếm 16,3%; từ 11 đến 20 năm chiếm 16,77%; trên 20 năm là 18,76%. Như
13
vậy, xét theo cơ cấu tuổi nghề thì tuyệt đại bộ phận là công nhân thời kỳ đổi mới.
đội ngũ công nhân này đa phần có trình độ học vấn, ít chịu ảnh hưởng của thời bao
cấp, có khả năng thích nghi với khoa học công nghệ hiện đại, năng động, sáng tạo,
song cũng ít ổn định trong nghề nghiệp.
2.2.2.Hiện trạng chất lượng giai cấp công nhân
Điều cần khẳng định là cùng với sự tăng lên nhanh chóng về số lượng thì
chất lượng đội ngũ công nhân cũng được nâng lên đáng kể. Sự lớn mạnh về chất
lượng của đội ngũ công nhân Việt Nam được thể hiện ở những điểm sau:
có trình độ trung học cơ sở; 4,12% có trình độ tiểu học và 0,23% công nhân không
biết chữ. Có 11,10% tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, 1,56%có trình độ đại học
và trên đại học. Số công nhân trẻ ( dưới 30 tuổi) có trình độ học vấn cao hơn, có tới
89% tốt nghiệp phổ thông trung học.
Trình độ học vấn của công nhân trong các ngành sản xuất cũng rất khác
nhau. Công nhân cơ khí có trình độ học vấn cao nhất (chỉ có 0,7% là chưa tốt
nghiệp cấp II), còn ở ngành dệt là thấp (trên 3,5 % ). Công nhân nữ thường có trình
độ học vấn thấp hơn công nhân nam, nghĩa là ở những doanh nghiệp nào nhiều nữ
thì tỷ lệ công nhân có trình độ học vấn cấp II chiếm số lượng đông, chẳng hạn như
ngành dệt (40,3%).
Như vậy, có thể thấy rằng trình độ học vấn của công nhân nước ta còn thấp
so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và còn rất thấp so với
mặt bằng trình độ học vấn của công nhân trong khu vực và trên thế giới.
Với hiện trạng như trên, cần có một chính sách đò tạo, đào tạo lại thích hợp
để có thể nâng cao trình độ học vấn của đội ngũ công nhân, đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển đất nước.
Về trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ
Theo báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, hiện nay số công
nhân kỹ thuật đã qua đào tạo là 2.618.746 người, số có trình độ trung học chuyên
nghiệp là 1.503.541 người. Trong số 1,7 triệu công nhân kỹ thuật, có 13,4% có
trình độ tay nghề bậc 4/7 trở lên, trong đó ngành cơ khí, điện, điện tử, số công
nhân có trình độ thợ bậc cao chiếm tỷ lệ cao hơn cả. Một bộ phận công nhân, nhất
là công nhân tre khắc phục khó khăn tự học tập, rèn luyện nâng cao kiến thức, học
ngoại ngữ, học nghề mới Một bộ phận công nhân được trí thức hóa, hình thành
một đội ngũ công nhân tự động hóa ở một số ngành công nghiệp. Qua điều tra của
15
Viện Công nhân và Công đoàn năm 1999-2000 cho thấy, bậc thợ, tay nghề của
công nhân như sau:
Lao động giản đơn: 6,73%
Bậc 2-3 : 26,07%
Vấn đề việc làm
Với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, Đảng và
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế
tham gia tích cực vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, bước đầu vấn đề việc
làm cơ bản đã được giải quyết. Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội, thời kỳ 1991-1998 đã giải quyết được 7, 9 triệu người có việc làm. Riêng
năm 1998 đã giải quyết được 1,3 triệu việc làm. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX
đã tổng kết, hằng năm nước ta giải quyết được 1,2 triệu việc làm. Cùng với giải
quyết việc làm tại chỗ, Đảng và Nhà nước cũng quan tâm đến việc xuất khẩu lao
động, không chỉ để tạo việc làm mà còn để công nhân Việt Nam có điều kiện tiếp
cận với nền khoa học công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng lao động. Quá trình
xuất khẩu lao động diễn ra qua các giai đoạn: giai đoạn 1980 đến 1990 chúng ta đã
đưa được khoảng 30 vạn lao động sang làm việc tại các nước Liên Xô cũ và Đông
Âu , 2 vạn lao động và chuyên gia sang làm việc tại Irăc và một số nước châu Phi (
hiện nay còn khoảng 2 vạn người tại Nga và Đông Âu); giai đoạn từ 1990 trở lại
đây, số lượng người Việt Nam đi lao động nước ngoài ngày càng tăng: năm 1996 là
12.660 người, năm 1997 là 18.470 người, năm 1999 là 21.810 người, năm 2000 là
31.468 người, năm 2001 là 37.000 người, năm 2002 là 45.000 người.
Tuy vậy, nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, mặt khác do tốc độ
phát triển dân số nhanh, hằng năm nguồn lao động bổ sung cho xã hội lớn, trong
khi đó nền kinh tế phát triển chậm nên chưa thể đáp ứng được nhu cầu việc làm
của xã hội. Đặc biệt hiện nay, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, một
số cơ sở sản xuất, kinh doanh đang làm ăn thua lỗ dẫn đến tình trạng thiếu việc
làm. Bởi vậy, nhìn chung vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta còn kém, thậm chí
ở không ít cơ sở, tình trạng thất nghiệp còn phổ biến. Theo báo cáo của Bộ Lao
động- Thương binh và Xã hội, năm 1998 trong các doanh nghiệp nhà nước, số
công nhân thất nghiệp là 8%, năm 1999 là gần 10%. Riêng ở Thành phố Hồ Chí
Minh, cũng năm 1998 với nỗ lực của toàn Thành phố đã giải quyết được 170.000
17
lao động, song vẫn còn tới 40.000 bị mất việc làm; trong các doanh nghiệp có
máy móc cũ kỹ, hư hỏng có nguy cơ xảy ra những sự cố nguy hiểm nghiêm trọng;
18
mức độ ô nhiễm( bụi hơi, khí độc, nóng, ồn, rung, bức xạ) vượt quá giới hạn cho
phép nhiều lần. Sức khỏe công nhân, đặc biệt là công nhân nữ ở một số ngành bị
giảm sút. Tình trạng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có chiều hướng gia
tăng. Từ năm 1997 đến năm 2000, bình quân mỗi năm có 3.500 vụ, trung bình mỗi
năm có 400 người chết, riêng năm 2002 có 4.298 vụ, trong đó có 461 người chết.
Kết quả khảo sát của Bộ Y tế ở 252 cơ sở khám bệnh cho thấy, trong số 14.852
người được khám thì có 1.190 người mắc bệnh nghề nghiệp, trong đó mắc bệnh
phổi là 788 người, điếc nghề nghiệp là 103 người. Đặc biệt, theo kết quả khám sức
khỏe 18.000 công nhân trong các cơ sở sản xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh thì có
tới 40% công nhân có sức khỏe dưới mức trung bình, 60% công nhân nữ mắc bệnh
phụ khoa.
Mức thu nhập của công nhân
Trong vài năm gần đây, do cơ chế thay đổi, do tăng trưởng kinh tế khá, mức
sống của công nhân lao động có được cải thiện hơn. Tuy nhiên, nhìn chung mức
thu nhập của công nhân còn phổ biến là thấp. Theo điều tra của Viện Công nhân và
Công đoàn , có tới 20,48% công nhân thu nhập dưới 300.000 đồng/ tháng; từ
300.000-500.000 đồng/ tháng là 32,61%, từ 500.000- 700.000 đồng/ tháng là
16,56%; từ 1.000.000- 2.000.000 đồng/ tháng là 8,20%; trên 2.000.000 đồng/ tháng
chỉ có 0,23%. Như vậy, số công nhân có thu nhập thấp vẫn chiếm tỷ lệ lớn.
Do mức thu nhập còn chưa cao nên đời sống tinh thần của của công nhân
vẫn chưa được cải thiện đáng kể. Kết quả nghiên cứu của Viện Công nhân và Công
đoàn cho biết, chỉ có 14,77% công nhân đi xem phim và biểu diễn nghệ thuật;
4,4% công nhân tham gia sinh hoạt câu lạc bộ; 23,59% tham gia hoạt động thể
thao, 15,98% tham quan, du lịch( chủ yếu do doanh nghiệp tổ chức).
Vấn đề nhà ở của công nhân
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều đổi mới chính sách nhà ở, như năm 1991 ban
hành Pháp lệnh về nhà ở, năm 1992 chủ trương đưa tiền nhà ở vào lương và
chuyển phương thức quản lý nhà ở sang kinh doanh, song tới nay vẫn đang xuất
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế công nghiệp hiện đại, giai cấp
công nhân từng bước phát triển, lớn mạnh về mọi mặt. Trong suốt quá trình cách
mạng, nhất là trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, giai cấp công nhân Việt
Nam vẫn luôn giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống đoàn kết,
cần cù lao động, tinh thần chịu đựng gian khổ, thông minh, sáng tạo trong xây
dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực đưa đất nước bước vào thời
20
kỳ phát triển mới- thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chủ động, tích
cực hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
Thứ hai, giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và phát triển nền kinh tế công nghiệp hiện đại
Trong những năm đổi mới, giai cấp công nhân Việt Nam đã tỏ rõ la lực
lượng có khả năng sáng tạo trong sản xuất, tiên phong trong việc kiến tạo nền kinh
tế công nghiệp hiện đại và năng động, nhạy bén trong tổ chức đời sống xã hội. Đội
ngũ cãn bộ khoa học kỹ thuật, kỹ sư giỏi, công nhân bậc cao, thợ giỏi, thợ lành
nghề ngày càng tăng. Họ nhanh chóng thích ứng với cơ chế thị trường, tiếp cận
nhanh với khoa học công nghệ tiên tiến, có nhiều phát minh, sáng kiến có giá trị
kinh tế cao được áp dụng vào sản xuất, góp phần quyết định vào việc thực hiện
thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng. Trong công cuộc đổi mới, công nhân lao
động đã có nhiều phát hiện, đề xuất nhiều giải pháp và kinh nghiệm quý báu cho
Đảng và Nhà nước đúc kết thành các nghị quyết và chính sách quan trọng, để chỉ
đạo thực hiện có hiệu quả việc giữ vững và phát triển sản xuất, ổn định chính trị-
xã hội. Nhiều công nhân trưởng thành trong quá trình lao động tại các nhà máy,
công trường xây dựng. Họ sẽ là lực lượng đi đầu trong việc áp dụng những thành
tựu khoa học công nghệ trong sản xuất.
Thứ ba, giai cấp công nhân đã và đang là cơ sở chính trị- xã hội của Đảng Cộng
sản Việt Nam, là chỗ dựa vững chắc của Đảng và Nhà nước.
Là giai cấp tiên phong, lực lượng kiên quyết ủng hộ và đi đầu trong công
cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam đã và sẽ là lực
lượng nòng cốt trong khối liên minh công- nông- trí thức, nền tảng của khối đại
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, trước yêu cầu của
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh những mặt
mạnh thể hiện vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giai cấp
công nhân Việt Nam cũng bộc lộ một số yếu kém, hạn chế việc phát huy vai trò
tiên phong của mình.
Thứ nhất, trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ và trình độ
tay nghề của công nhân cìn thấp và mất cân đối trong cơ cấu lao dộng kỹ thuật
giữa các bộ phận công nhân.
Trong quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta hiện
nay, ý thức học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề
của công nhân nhìn chung còn chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra. Tình trạng thừa
22
lao động giản đơn, thiếu lao động có tay nghề kỹ thuật cao đang diễn ra phổ biến.
Mặt khác , do nền sản xuất của nước ta chưa phát triển, chưa thu hút được số lượng
lớn công nhân nên cơ cấu lao động kỹ thuật rất bất hợp lý.
Thứ hai, lòng say mê nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật lao động, tác phong công
nghiệp của công nhân còn hạn chế.
Điều này trước hết bắt nguồn từ nền kinh tế kém phát triển của nước ta,
chúng ta chưa tạo lập được một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, công tác tuyên
truyền, giáo dục của chúng ta còn chưa tốt, xã hội và ngay cả công nhân cũng chưa
nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân- lực lượng vật chất
để biến những ý tưởng tốt đẹp về chủ nghĩa xã hội thành hiện thực. Hơn nữa, đại
bộ phận công nhân nước ta xuất thân từ tầng lớp nông dân cho nên vẫn còn tồn tại
tư tưởng tiểu nông, làm ăn theo thời vụ, manh mún. Do vậy, hiện nay còn không ít
công nhân thiếu tác phong công nghiệp, làm việc tùy tiện, thiếu tôn trọng các quy
trình, quy tắc, quy phạm kỹ thuật, thiếu tính tổ chức, kỷ luật.
Như vậy, sự giác ngộ của đa số công nhân về địa vị giai cấp của mình còn
thấp; ý thức chính trị chưa được nâng cao, trước những diễn biến phức tạp của tình
hình thế giới và trong nước, một bộ phận công nhân còn hoài nghi, dao động, thiếu
tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng. Bên cạnh đó, do bên sử dụng lao
xây dựng và phát huy vai trò to lớn của giai cấp công nhân trong sự nghiệp đổi
mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải
nhận thức rõ để có những giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục có hiệu quả.
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG GIAI CẤP CÔNG
NHÂN VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH, VỮNG MẠNH TRONG SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh toàn
diện nhằm xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh ngang tầm với sứ mệnh lịch sử
và đưa giai cấp công nhân trở thành lực lượng đi đầu , lực lượng lãnh đạo sự
24
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần nắm vững và thực hiện tốt
những giải pháp sau:
3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trước hết là phải đổi mới nhận thức về đội ngũ công nhân.
Xã hội cần thấy được toàn diện vai trò của giai cấp công nhân, đặc biệt là về
kinh tế là lực lượng sản xuất hàng đầu và về chính trị là lực lượng tiền phong; thấy
được trong giai cấp công nhân có nhiều nhóm trình độ công nghệ khác nhau và
công nghiệp hóa tất yếu sẽ dần nâng cao trình độ văn hóa tay nghề cho công nhân;
giai cấp công nhân trong sản xuất hiện đại luôn vận động và phát triển theo yêu cầu
khách quan của phát triển công nghệ và theo quy luật của kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức này cần được làm sáng tỏ, phát triển hơn nữa trên các phương
diện triết học, chính trị, xã hội, văn hóa theo các cấp độ lý luận cũng như thông tin
đại chúng. Công tác tư tưởng- lý luận, thông tin đại chúng cần tuyên truyền rộng
rãi bằng nhiều hình thức trong các buổi sinh hoạt chính trị, chương trình học tập lý
luận chính trị Qua đó, xã hội hiểu đúng và đầy đủ hơn, tin yêu và có trách nhiệm
hơn đến công nhân.
Nhận thức về vai trò to lớn, toàn diện của giai cấp công nhân phải được
thấm sâu vào các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể;