biện pháp phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
…………………………… NGUYỄN ANH CHỈNH

BIỆN PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

BIỆN PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học
TS. DƯƠNG THỊ DIỆU HOA
Thái Nguyên – Năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong
Khoa sau đại học, các thầy cô giáo trong và ngoài trường đại học Sư phạm

CMHS : Cha mẹ học sinh
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
GDĐĐ : Giáo dục đạo đức
GDHS : Giáo dục học sinh
GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo
GVBM : Giáo viên bộ môn
GVCN : Giáo vên chủ nhiệm
HĐCN : Hội đồng chủ nhiệm
HĐGD : Hoạt động giáo dục
HĐGDNGLL : Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HĐND : Hội đồng nhân dân
HĐSP : Hội đồng sư phạm
HĐTT : Hoạt động tập thể
NXB : Nhà xuất bản
QLGD : Quản lý giáo dục
TDTT : Thể dục thể thao
THPT : Trung học phổ thông
TNCSHCM : Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
TNXH : Tệ nạn xã hội
UBND : Uỷ ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
XHH : Xã hội hoá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC Trang

Mở đầu: 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong mọi xã hội, đạo đức được xem là cốt lõi, là thước đo giá trị con
người. Nhờ có những chuẩn mực đạo đức mà con người có thể hoàn thiện mình,
vươn tới cái đẹp và cùng nhau tiến bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi “Đức” là yếu

chăm sóc và nuôi dưỡng tâm hồn các em, giúp đỡ từng học sinh tiến bộ, đưa tập
thể lớp thành trở thành tập thể đoàn kết, tiên tiến về mọi hoạt động. Với nhà
trường, GVCN là người thay mặt hiệu trưởng thực hiện mọi chủ trương, chính
sách, kế hoạch giáo dục. Với học sinh, GVCN là người bảo vệ chính đáng nghĩa
vụ và quyền lợi trực tiếp của học sinh lớp mình chủ nhiệm. Có thể coi người
GVCN như “ một hiệu trưởng nhỏ” trong tập thể lớp mình phụ trách. Để hoàn
thành tốt những chức năng trên đòi hỏi người GVCN phải có trình độ, chuyên
môn nghiệp vụ về công tác chủ nhiệm, hiểu rõ tầm quan trọng và nhiệm vụ
GDĐĐ cho học sinh. Mặt khác trong công tác quản lý, ngoài việc mọi thành viên
trong trường hiểu rõ mục tiêu cần làm thì việc bồi dưỡng, đào tạo nhân viên một
cách thường xuyên, cung cấp công cụ cho họ làm việc tốt là hết sức cần thiết.
1.2. Thực tế hiện nay ở các trường phổ thông nói chung và các trường
THPT nói riêng, việc GDĐĐ cho học sinh còn nhiều hạn chế và không đồng đều
ở các trường. Đội ngũ GVCN còn nhiều hạn chế về nhận thức, về phương pháp
giáo dục, ảnh hưởng tới hiệu quả GDĐĐ cho học sinh. Bên cạnh một số GVCN
có tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ, có trình độ tổ chức và quản lý lớp, còn rất nhiều
GVCN do những nguyên nhân khác nhau như : Tuổi cao, ngại đổi mới, không
yêu trẻ, thiếu kinh nghiệm tổ chức quản lý lớp đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết
quả giáo dục học sinh. Một số giáo viên rất tâm huyết với nghề song do hạn chế
về phương pháp, thiếu kinh nghiệm, thiếu nghiệp vụ sư phạm nên đôi khi họ bị
thất bại và nản chí. Mặt khác đội ngũ quản lý ở các nhà trường do hạn chế về
nhận thức, hạn chế về trình độ quản lý, coi thường công tác chủ nhiệm, thiếu quan
tâm tới đội ngũ GVCN, chỉ đạo hời hợt, thiếu đồng bộ, thiếu khoa học nên dẫn
đến GVCN làm việc tuỳ tiện, kém nhiệt tình, thiếu trácnh nhiệm. Thực tế này làm
ảnh hưởng không nhỏ tới việc GDĐĐ cho học sinh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
Vì vậy, việc tìm ra những biện pháp tổ chức, quản lý công tác chủ nhiệm

4
5.3. Đề xuất những biện pháp quản lý bồi dưỡng của hiệu trưởng đối với đội ngũ
GVCN nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ cho học sinh.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đề xuất các biện pháp
phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong quá trình giáo dục đạo đức cho
học sinh trung học phổ thông ở các trường THPT trong địa bàn thị xã Từ Sơn,
tỉnh Bắc Ninh.
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đội ngũ hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm ở
các trường THPT trong địa bàn thị xã Từ Sơn. Cụ thể như sau :
Hiệu trưởng : 04 người.
Giáo viên chủ nhiệm : 50 người. Học sinh : 60 em.
Các trường THPT là : Nguyễn Văn Cừ, Lý Thái Tổ, Ngô Gia Tự, Từ Sơn
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu những tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề biện pháp
quản lý của iệu trưởng nhằm phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh…
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi : Dùng phiếu điều tra để khảo sát
đội ngũ hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm và học sinh ở các trường THPT ở thị xã
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Phương pháp chuyên gia : Lấy ý kiến chuyên gia về những vấn đề liên
quan đến đề tài.
- Phương pháp toạ đàm : Trò chuyện với đồng nghiệp, với các học sinh ở
các trường THPT thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, với các chuyên gia nhằm
tìm hiểu sâu hơn những vấn đề nghiên cứu, định tính nội dung nghiên cứu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GVCN TRONG
QUÁ TRÌNH GDĐĐ CHO HỌC SINH

1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội - một hình thái ý thức đặc biệt phản ánh
các mối quan hệ xã hội bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị
được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người
trong quan hệ với người khác và toàn xã hội.
Khổng tử ( 551 - 479 TCN) nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục nổi
tiếng, người sáng lập phái Nho giáo của Trung Hoa cổ đại đã đặc biệt quan tâm
tới vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho con người. Ông mong muốn lập lại
trật tự, kỉ cương xã hội, đem lại một xã hội thành bình, thịnh trị, quốc thái, dân an
bằng con đường lấy đức để trị, lấy nhân làm gốc. Theo Ông, con người phải theo
lô gích hệ thống : Từ gia đình đến xã hội, từ vi mô đến vĩ mô nghĩa là tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ. Con người phải được giáo dục những phẩm chất cơ
bản như : Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Trong đó “ Nhân là gốc” là phẩm chất đạo đức
đứng đầu trong tất cả các đức làm người. Theo Khổng Tử nhân là : “Điều gì mình
không muốn thì đừng làm cho người. Điều gì mình muốn đạt thì đạt cho người.
Điều gì mình muốn lập thì lập cho người” ( Kỉ sở bất dục - Vật thi ư nhân. Kỉ sở
dục đạt nhi đạt nhân. Kỉ sở dục lập nhi lập nhân) [8] .
Cômenxki ( 1592 - 1670 ) nhà sư phạm lỗi lạc, một nhà giáo dục nổi tiếng
phương Tây thế kỉ XVII, ông tổ của nền sư phạm cận đại cho rằng con người là
một tác phẩm hoàn thiện nhất, đẹp đẽ nhất của thiên nhiên, là tiểu vũ trụ và phải


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Tác giả Lê Văn Hồng đã nêu rất rõ về cấu trúc hành vi đạo đức và việc giáo
dục đạo đức cho học sinh ở THCS và THPT [12].
Về bồi dưỡng phương pháp cho đội ngũ GVCN lớp, tác giả Hà Nhật Thăng
trong tác phẩm “ Công tác GVCN ở lớp, ở trường phổ thông” nêu lên chức năng,
nhiệm vụ của người GVCN lớp, các nội dung của công tác chủ nhiệm lớp và
hướng dẫn thực hiện một số nội dung của công tác chủ nhiệm lớp. Các tác giả Hà
Nhật Thăng ( Chủ biên), Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ với
giáo trình “Hoạt động ở trường THPT” đã nêu nhiều vấn đề về giáo viên chủ
nhiệm, đặc biệt nhấn mạnh phương pháp công tác của GVCN lớp.
Trong giáo trình “ Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” tác giả Hà Nhật
Thăng đã nêu lên sự cần thiết tổ chức các hoạt động GD, hệ thống kĩ năng tổ chức
HĐGD và đặc biệt nêu lên phương pháp tổ chức HĐGD của GVCN lớp.
Như vậy, các vấn đề GDĐĐ và phương pháp GDĐĐ cho học sinh của đội
ngũ GVCN, hệ thống các phương pháp tổ chức thực hành các hoạt động của
GVCN đã có nhiều công trình, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên vấn
đề quản lý, bồi dưỡng đội ngũ GVCN làm công tác GDĐĐ cho học sinh nhằm
thúc đẩy và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong các nhà trường trung
học phổ thông thị xã Từ Sơn (Bắc Ninh) chưa có công trình nào đề cập đến.
1.2. Một số khái niệm công cụ nghiên cứu của đề tài.
1.2.1. Đạo đức và giáo dục đạo đức.
1.2.1.1. Khái niệm về đạo đức và hành vi đạo đức
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức. Theo tác giả Phạm Khắc
Chương : “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội mà
nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi, hoạt động của mình sao cho phù hợp
với lợi ích, hạnh phúc và tiến bộ chung của xã hội, trong mối quan hệ giữa con
người với con người, giữa cá nhân với xã hội”. [4, tr. 6].



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
hiện nay không chỉ đơn giản là mối quan hệ giữa con người với con người mà nó
còn thể hiện với 5 thành tố:
- Với bản thân.
- Với người khác : Từ nhỏ đến rộng ( quốc tế).
- Với công việc.
- Môi sinh ( tự nhiên và văn hoá xã hội).
- Lý tưởng của dân tộc.
Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức bao gồm:
- Tri thức và niềm tin đạo đức.
- Động cơ và tình cảm đạo đức.
- Thiện chí và thói quen đạo đức.
Các yếu tố tâm lý nói trên có mối liên quan mật thiết với nhau. Tri thức đạo
đức soi sáng con đường dẫn đến mục đích của hành vi đạo đức. Tình cảm đạo
đức, thiện chí, niềm tin đạo đức là yếu tố phát động mọi sức mạnh vật chất và tinh
thần của con người để thực hiện hành vi đạo đức. Thiện chí là điều kiện đảm bảo
cho con người có hành vi đạo đức nhưng đòi hỏi phải có tri thức đạo đức. Giữa ý
thức đạo đức và hành vi đạo đức còn có một khoảng cách do vậy nhà giáo dục có
trách nhiệm nối liền khoảng cách đó, làm cho ý thức đạo đức và hành vi đạo đức
của học sinh có sự thống nhất cao độ, từ ý thức đạo đức đến hành vi đạo đức và
tạo thành thói quen đạo đức. Như vậy giáo dục đạo đức là hình thành những phẩm
chất đạo đức cho học sinh, là tạo ra ở chúng một cách đồng bộ những yếu tố tâm
lý nói trên. Và để làm được điều đó các nhà giáo dục phải tổ chức các hoạt động
để học sinh tham gia và trong quá trình tham gia các hoạt động, những hành vi
đạo đức và thói quen đạo đức được hình thành [12].
Đạo đức có mối quan hệ với các hình thái ý thức xã hội như : chính trị,
pháp luật, khoa học, tôn giáo. Đạo đức và pháp luật có mối quan hệ khăng khít

những đòi hỏi bên trong đối với mỗi cá nhân đối tượng được giáo dục.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
Giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông hiện nay là một
trong những nhiệm vụ quan trọng mang tính chất chiến lược vì: “ Bồi dưỡng thế
hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [17, tr. 261].
Trong các nhà trường “ Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn
đức. Đức là đạo đức cách mạng, là cái gốc rất quan trọng” [17, tr. 235].
Đảng ta luôn đề cao đạo đức cách mạng và việc giáo dục đạo đức cho quần
chúng nhân dân. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng khoá
VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc đã nêu “ Phải đẩy mạnh việc giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
trong toàn đảng, toàn dân. Văn hoá đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể
hiện trước hết trong mọi tổ chức đảng, Nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, viên
chức nhà nước, trong từng đảng viên, hội viên ở các bậc cha mẹ, các thầy cô
giáo”.
Theo tác giả Đặng Thế Hoạt và Hà Thế Ngữ thì GDĐĐ là quá trình biến hệ
thống các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi của bên ngoài xã hội đối với cá
nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói
quen của người được giáo dục [14].
Nhân cách của con người được hình thành và phát triển chủ yếu ở 3 môi
trường : Gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường là nơi rèn luyện và
phát triển nhân cách chủ yếu. GDĐĐ cho học sinh là cung cấp cho học sinh
những tri thức đạo đức, giúp cho học sinh hiểu về đạo đức, về thái độ phải có, về
bổn phận và nhiệm vụ phải làm . Xét cho cùng thì một hành vi đạo đức cụ thể là
một nhân cách trọn vẹn thực hiện nó bao gồm cả tri thức đạo đức và niềm tin đạo
đức, tình cảm đạo đức lẫn thiện chí, nghị lực và cả thói quen đạo đức Do vậy có
thể nói chủ thể của hành vi đạo đức là toàn bộ nhân cách của một con người cụ

dị như lòng nhân ái, tinh thần tương thân tương ái, biết đồng cảm và giúp đỡ mọi
người. Điều đó vô cùng quan trọng. Rồi đây các em sẽ trở thành những người
trưởng thành, có thể quyết định mọi việc trong cuộc đời mình, các em sẽ trở thành
những công dân của đất nước Việt Nam có tinh thần yêu nước, phấn đấu suốt đời

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
cho một nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Đối với ông bà, cha mẹ là một người con
có hiếu, có quan hệ tình bạn chân thành, yêu chung thuỷ, học tập tiến bộ không
ngừng, làm việc vì lợi ích của cá nhân, tập thể và cả cộng đồng
1.2.2. Giáo viên chủ nhiệm, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
GVCN là người quản lý, tổ chức, điều khiển, theo dõi, đánh giá học sinh
một lớp, thực hiện các yêu cầu của nhà trường nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Có thể
nói GVCN như một “ Hiệu trưởng nhỏ”, thay mặt hiệu trưởng để giáo dục học
sinh một lớp học.
HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn
học ở trên lớp. HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy - học trên lớp, là con
đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành
động của học sinh.
1.2.3. Quản lý, quản lý giáo dục, bồi dưỡng giáo viên.
1.2.3.1. Quản lý:
Trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, để tồn tại và phát triển con người luôn
luôn chịu sự chỉ đạo, quản lý của một tổ chức nào đó. Cômenxki đã đề cao vai trò
quản lý trong đời sống của con người : “Thửa vườn chỉ xanh tốt khi được chăm
sóc của người làm vườn cần mẫn. Nghề thủ công được phát triển bằng tay của
người thợ tài hoa. Gia đình chỉ khá giả dưới sự điều khiển của người quản gia
giỏi. Đạo quân chỉ hùng mạnh dưới sự chỉ huy của một nhà quân sự có kinh
nghiệm. Quốc gia chỉ thịnh vượng dưới sự thống trị của một ông vua khôn ngoan”
[3] .

- Tổ chức chỉ đạo thực hiện.
- Điều khiển, điều hành.
- Kiểm tra, đánh giá.
Theo Deming, quản lý gồm có những chức năng sau:
- Lâp kế hoạch ( plan).
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện( Do).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
- Kiểm tra, kiểm soát (Check).
- Điều chỉnh (Action).
1.2.3.2. Quản lý giáo dục:
Giáo dục là một hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài và QLGD cũng vậy. Giáo
dục và QLGD luôn tồn tại song hành với nhau. Giáo dục xuất hiện nhằm thực
hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người, của thế hệ trước cho
thế hệ mai sau, và thế hệ sau có trách nhiệm thừa kế, phát triển nó làm cho xã hội
và bản thân con người phát triển không ngừng. Và để đạt được mục đích nói trên
thì không thể không có quản lý.
Cũng như khái niệm quản lý đã trình bày ở trên, khái niệm QLGD cũng có
nhiều quan điểm khác nhau. Khái niệm “ Quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ : vĩ
mô, vi mô.
“ QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của
hệ thống( từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục và nhà trường) nhằm thực hiện
có chất lượng và hịêu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà xã
hội đặt ra cho ngành giáo dục” [20, tr. 36].
Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội vì thế nó có đầy đủ các
đặc điểm của quản lý nói chung và quản lý xã hội nói riêng.
Do tính đặc thù của QLGD mà những đặc điểm của QLGD có nội dung và

sư phạm cụ thể, phương pháp và biện pháp giáo dục cụ thể có thể chuyển hoá lẫn
nhau.
Điều này có nghĩa là, một phương pháp nào đó bao giờ cũng có thể và cần
được thực hiện bằng những hành động khác nhau của giáo viên và học sinh, theo
những cách thức khác nhau nhưng đều có chung một chức năng và một mục đích.
Mỗi hành động như vậy là một biện pháp giáo dục. Tuỳ theo từng tình huống cụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
thể trong quá trình giáo dục cụ thể mà việc sử dụng một phương pháp giáo dục
nào đó sẽ được nhà giáo dục tiến hành bằng cách thực hiện một hay nhiều biện
pháp khác nhau. Ví dụ : Phương pháp giáo dục học sinh chậm tiến có thể bằng
cách phê bình trước lớp nhưng có thể chọn cách gọi riêng nói chuyện, khuyên
nhủ
1.2.4.2. Biện pháp quản lý:
Là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lý. Vì đối tượng
quản lý phức tạp nên những biện pháp quản lý cũng rất đa dạng và linh hoạt. Các
biện pháp quản lý sẽ giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp quản lý
của mình mang lại hiệu quả tốt cho bộ máy.
1.3. Vai trò, vị trí của GDĐĐ đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT.
1.3.1. Vai trò, vị trí của GDĐĐ ở THPT trước yêu cầu của xã hội đối với sự
phát triển nhân cách con người.
Trong các nhà trường, việc “dạy chữ” phải kết hợp với việc “ dạy người”.
Ngoài nhiệm vụ truyền đạt kiến thức người giáo viên còn phải có nhiệm vụ hình
thành và phát triển nhân cách cho học sinh, bồi dưỡng cho các em có những phẩm
chất đạo đức tốt.
Học sinh ở lứa tuổi THPT có những đặc điểm tâm sinh lý mang những nét
đặc thù riêng, do vậy giáo dục nhà trường đóng một vai trò quan trọng trong việc
hình thành và phát triển nhân cách cho các em. Đặc biệt trong cơ chế thị trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status