Phân tích vai trò của BHXH đối với đời sống kinh tế - xã hội. Biện pháp phát huy vai trò của BHXH đối với người lao động - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách xã hội đặc biệt quan trọng được các nước
chú trọng phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình và pháp luật hoá trong hệ thống
pháp luật của Nhà nước.
Ở nước ta, BHXH là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước, được quy định trong
Hiến pháp, trong các văn kiện của Đảng và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện nhằm từng bước
mở rộng và nâng cao việc đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia
đình trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết
tuổi lao động, chết, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, BHXH ngày
càng trở nên quan trọng trong việc góp phần đảm bảo công bằng xã hội và phát triển xã hội một
cách bền vững.
Thực tế lại cho thấy, vai trò của BHXH có vai trò rất to lớn đối với đời sống kinh tế - xã hội,
nhưng nhiều người lại chưa nhận thức được tầm quan trọng của BHXH, chính vì vậy, sau quá trình
học tập và tìm hiểu, em đã chọn đề tài cho bài tiểu luận của mình là “Phân tích vai trò của BHXH
đối với đời sống kinh tế - xã hội. Biện pháp phát huy vai trò của BHXH đối với người lao
động” với mong muốn góp chút công sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao vai trò của BHXH và
phục vụ cho học tập tốt hơn.
Do kinh nghiệm còn chưa nhiều và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế nên bài bài tiểu luận
này không thể tránh khỏi những thiếu xót, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô trong bộ
môn để em có thể rút ra kinh nghiệm cho bản thân. Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân
thành đến thầy Nguyễn Đức Trọng, người đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn, giúp em hoàn thành
bài tiểu luận này.
Bài viết được chia làm 3 chương:
Chương I: Chương I: Cơ sở lý luận về BHXH
Chương II: Thực trạng ngành BHXH Việt Nam hiện nay
Chương III: Giải pháp để phát huy vai trò của BHXH đối với nền kinh tế - xã hội nói chung và
đối với người lao động nói riêng.
Nguồn dữ liệu sử dụng cho bài viết đều là nguồn dữ liệu thứ cấp.
1
PHẦN NỘI DUNG

hơn nên xuất hiện mâu thuẫn và tranh chấp giữa chủ và thợ, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Đứng
trước tình cảnh đó Nhà nước là người thứ ba đứng ra giải quyết mâu thuẫn đó và điều hòa lợi ích
giữa chủ và thợ, cụ thể: Yêu cầu cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp những khoản tiền nhất định
để hình thành quỹ đồng thời nhà nước hỗ trợ một phần để giúp các bên giải quyết khó khăn.
Từ đó, cả giới chủ và thợ đều được đảm bảo và họ thấy có lợi các nguồn đóng góp của giới chủ,
thợ và sự hỗ chợ của Nhà nước hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung - quỹ BHXH.
Như vậy BHXH ra đời là một đời hỏi khách quan của thực tế ngày càng phát triển cùng với sự
phát triển của nền kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết
phải tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của người lao động.
1.2. Hình thức và đối tượng áp dụng BHXH và chế độ BHXH.
1.2.1. Hình thức và đối tượng áp dụng BHXH.
Theo quy định tại điều lệ BHXH ban hành theo quy định số 12/CP ngày 26/01/1995 của chính
phủ quy định BHXH ở nước ta bao gồm 2 loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Đối
tượng áp dụng cụ thể cho từng loại hình BHXH như sau:
BHXH bắt buộc
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp của Nhà nước.
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần linh tế ngoài quốc
doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên.
- Người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam trong các khu chế xuất, khu công nghiêp, trong các cơ quan tổ chức nước ngoài hoắc tổ chức
quốc tế tại Việt Nam.
- Người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự
nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể.
- Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp tổ chức dịch vụ thuộc lực lượng vũ trang .
- Người giữ chức vụ dân cử trong các cơ quan: Đảng chính quyền, các cấp từ cấp huyện trở lên.

BHXH tự nguyện:
- Những người làm nghề tự do: bác sĩ, luật sư, những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công...
- Những người lao động làm ở những nơi sử dụng dưới 10 lao động. những công việc có thời
hạn dưới 3 tháng,,, công việc theo mùa vụ hoặc công việc có tính chất tạm thời khác.

vai trò to lớn sau:
- Nhanh chóng góp phần ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất và làm cho sản xuất kinh doanh
của những người tham gia bảo hiểm tiếp tục phát triển bình thường nếu như đối tượng bảo hiểm của
họ gặp rủi ro, sự cố gây tổn thất.
- Nếu tham gia bảo hiểm, các cá nhân, tổ chức kinh tế - xã hội sẽ được nhà bảo hiểm phối hợp
quản lý rủi ro, thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất.
4
- Do đặc điểm của bảo hiểm là cần phải có các quỹ dự trữ, dự phòng, quỹ bồi thường hoặc chi
trả…Khi các loại quỹ này chưa sử dụng đến, chúng sẽ là nguồn vốn đầu tư đáng kể góp phần phát
triển và tăng trưởng kinh tế. Các hoạt động bảo hiểm đề được thực hiện theo “nguyên tắc ứng
trước”, vì vậy, các tổ chức BHXH và các công ty bảo hiểm thương mại thường nắm giữ một quỹ
tiền tệ rất lớn. Nguồn quỹ nhàn rỗi còn biến họ thành những nhà đầu tư lớn, là trung gian tài chính
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, bảo hiểm còn góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho
ngân sách nhà nước và tăng cường tích lũy xã hội.
- Các tổ chức và các doanh nghiệp bảo hiểm còn thu hút một lực lượng lao động đáng kể và tạo
thêm công ăn việc làm cho họ. Điều này làm giảm bớt tình trạng lao động bị thất nghiệp trong xã
hội.
- Thông qua hoạt động tái bảo hiểm, bảo hiểm còn có vai trò to lớn thúc đẩy kinh tế đối ngoại
giữa các nước trong điều kiện hội nhập để phát triển ngày nay.
Tuy nhiên, theo thời gian, các điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia đã thay đổi nhanh
chóng, đặc biệt là từ giữa thế kỷ XIX. Trong bối cảnh đó, các hoạt động bảo hiểm cũng phát triển
đa dạng hơn và đã có sự chuyên biệt hơn. Vì vậy, ngoài các vai trò chung, BHXH còn thực hiện vai
trò chuyên biệt của mình.
1.3.2. Vai trò của BHXH trong đời sống kinh tế xã hội.
1.3.2.1. Đối với người lao động
Mục đích chủ yếu của BHXH là đảm bảo thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi gặp
những khó khăn trong cuộc sống làm giảm hoặc mất thu nhập. Vì vậy, BHXH có vai trò to lớn đối
với người lao động. Trước hết, đó là điều kiện cho người lao động được cộng đồng tương trợ khi
ốm đau, tai nạn…Đồng thời, BHXH cũng là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ
cho những khó khăn của các thành viên khác.

Hoạt động BHXH cũng góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính
phong phú và kinh tế xã hội phát triển.
Ở Việt Nam, thông qua chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với khu vực chính thức, BHXH còn
góp phần làm cho quá trình từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn nhanh chóng hơn. Với chức năng
của mình, BHXH là một khâu không thể thiếu trong việc thực hiện mục tiêu “dân giầu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế đất nước.
Chương II: Thực trạng ngành BHXH Việt Nam hiện nay:
6
2.1. Số lượng đối tượng tham gia, số thu cho quỹ có sự tăng trưởng hằng năm, song số
lượng tham gia vẫn thấp, mức hưởng thấp và hiệu quả thấp.
2.1.1. Số lượng đối tượng tham gia, số thu cho quỹ có sự tăng trưởng hằng năm.
Qua 15 năm xây dựng và phát triển, BHXH Việt Nam đã tạo được dấu ấn đậm nét, xây dựng
được nền tảng vững chắc, thực sự đổi mới cả về hệ thống chính sách, tổ chức bộ máy quản lý. Đội
ngũ quản lý BHXH đã trưởng thành nhanh chóng, quỹ bảo hiểm đã phát triển lớn mạnh. “Thành tựu
của ngành BHXH chính là một thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước”.
Từ trước năm 1961, do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, trong kháng chiến và kinh tế khó
khăn nên Nhà nước chưa nghiên cứu chi tiết và thực hiện được đầy đủ các quyền lợi về bảo hiểm xã
hội, các chế độ bảo hiểm xã hội chưa được quy định một cách toàn diện, quỹ bảo hiểm xã hội chưa
được hình thành mà mới chỉ là các chế độ trợ cấp, phụ cấp mang tính bảo hiểm.
Tháng 1 năm 1995, Chính phủ đã ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số
12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995. Điều lệ về chính sách BHXH mới đã
mở rộng đối tượng áp dụng (Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không chỉ bao gồm lao
động trong khu vực Nhà nước mà người lao động trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có
sử dụng từ 10 lao động trở lên cũng có quyền tham gia bảo hiểm xã hội.) và có nhiều chính sách ưu
đãi cho người tham gia. Ngoài chế độ BHXH băt buộc, chính phủ còn ban hành chế độ BHXH tự
nguyện. Về các chế độ bảo hiểm xã hội, quy định 5 chế độ là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-
bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất, không còn chế độ trợ cấp mất sức lao động mà những người
mất khả năng lao động được quy định chung trong chế độ hưu trí với mức hưởng lương hưu thấp.
Từ đó tới nay, số lượng người lao động tham gia BHXH đã phát triển rất lớn.
Tình hình tham gia BHXH trong các năm gần đây được tổng hợp tại bảng sau:

5 Doanh nghiệp có vốn nước ngoài 8,761 1,753,800 20.5% 9,637 1,963,550 21.6% 10,408 2,270,000 26.6%
6 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 63,102 1,951,153 22.8% 75,722 2,198,624 24.2% 89,352 2,395,000 28.0%
7 Hợp tác xã 8,618 56,935 0.7% 6,198 74,113 0.8% 10,997 81,600 1.0%
8 Lao động có thời hạn ở nước ngoài 98 2,435 0.03% 102 5,500 0.1% 105 5,800 0.07%
B
BẢO HIỂM XỂ HỘI TỰ
NGUYỆN 6,110 34,669 118,000
C BẢO HIỂM THẤT NGIỆP 5,411,886 5,835,190
1 Hành chính sự nghiệp, Đảng, ĐT 64,200
2 Ngoài công lập 114,750
3 Xã, phường, thị trấn 4,460
4 Doanh nghiệp Nhà nước 1,268,250
5 Doanh nghiệp có vốn nước ngoài 2,043,000
6 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 2,275,250
7 Hợp tác xã 65,280
- Lương tối thiểu 650,000 đồng
NGUỒN: BÁO CÁO CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
8
Nguyễn Thị Huế _ D5.BH3
2.1.2. Số lượng tham gia vẫn thấp, mức hưởng thấp và hiệu quả thấp.
Việt Nam là nước đông dân, trong giai đoạn hiện nay, theo kết quả điều tra toàn bộ của cuộc
tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được Tổng cục Thống kê công bố sáng 21.7.2010. Theo số
liệu điều tra, từ năm 1999 - 2009, dân số Việt Nam tăng thêm 9,523 triệu người, bình quân mỗi năm
tăng 952.000 người. Tính đến ngày 1.4.2009, tổng số dân của Việt Nam là 85.846.997 người. Tỉ
trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33,1% năm 1999 xuống còn 24,5% vào năm 2009. Ngược lại, tỉ
trọng dân số trong nhóm tuổi 15-64 là nhóm tuổi chủ lực của lực lượng lao động tăng từ 61,1% lên
69,1%. Chính vì cơ cấu dân số thay đổi như vậy, nên cả nước đã có 43,9 triệu người trong độ tuổi
lao động đang làm việc, chiếm 51,2% dân số; trong đó thành thị có 12,0 triệu lao động, nông thôn
có 31,9 triệu lao động, tỉ trọng như vậy thì Việt Nam đang ở trong giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”,
vì đang có ưu thế rất lớn về lực lượng lao động, là lợi thế rất lớn đối với sự nghiệp công nghiệp

doanh nghiệp đã đăng ký thành lập, đang hoạt động hiện nay là khoảng 260.000 doanh nghiệp (số
liệu của Tổng cục Thống kê) với tổng số người hưởng lương khoảng 14 triệu người, thì số đối
tượng chưa tham gia BHXH bắt buộc theo luật định còn rất lớn, khoảng 30%, đặc biệt là khu vực
ngoài quốc doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổ chức và cá nhân kinh doanh có thuê mướn lao động.
Một điều đáng nói là hiện nay quy định mới được ban hành của BHXH Việt Nam là người lao
động tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp lần đầu phải nộp bản sao giấy khai sinh. Trong khi đó
thì có rất nhiều lao động sinh trước năm 1975 không có hoặc đã thất lạc giấy khai sinh. Ngoài ra,
một bộ phận không nhỏ người lao động sinh ra ở những vùng sâu không có điều kiện làm giấy khai
sinh. Tất cả bộ phận này đều không có điều kiện được làm những công việc “chất lượng” và cũng
không ít trong số đó không có được công việc đảm bảo lâu dài. Việc phải có giấy khai sinh khi
tham gia BHXH dẫn đến không ít trở ngại cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động, đây là một quy
định quá khắt khe, làm cho những đối tượng này không có cơ hội tham gia vào làm việc trong các
doanh nghiệp có chế độ đóng BHXH, và cũng không có cơ hội tham gia đóng và hưởng chế độ
BHXH mặc dù không ít ngườ có nguyện vọng. Về phía các doanh nghiệp có nhu cầu thuê lao động
giá rẻ thì đây chính là một rào cản lớn. Theo nguồn tin thực tế thu thập được từ báo Tuổi Trẻ
Online thì trưởng Ban quản lý các khu công nghiệp Tiền Giang, cho biết hiện các doanh nghiệp
trong khu công nghiệp Mỹ Tho và cụm công nghiệp Trung An cần gấp 2.000 lao động nhưng tuyển
rất khó khăn. Nay lại vướng quy định giấy khai sinh nên nhiều doanh nghiệp “kêu trời” vì không
dưới 30% người lao động xin việc không có hoặc bị thất lạc giấy khai sinh. Còn chủ tịch công đoàn
Công ty ChingLhu (Long An), cho biết từ nay đến cuối năm công ty sẽ tuyển thêm 4.000 công
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status