Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo với đời sống kinh tế - xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ANH DŨNG
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XOÁ ĐÓI
GIẢM NGHÈO VỚI ĐỜI SỐNG KINH TẾ-XÃ HỘI
CỦA NGƯỜI MƯỜNG TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
GIẢM NGHÈO VỚI ĐỜI SỐNG KINH TẾ-XÃ HỘI
CỦA NGƯỜI MƯỜNG TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH DÂN TỘC HỌC
MÃ SỐ: 62 22 70 01
TẬP THỂ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS, TS HOÀNG LƯƠNG
2. PGS, TS PHẠM QUANG HOAN
HÀ NỘI-2009
3.3. Những thành quả của công cuộc xóa đói giảm nghèo ở vùng người
Mường tỉnh Phú Thọ và tác động của chúng
73
3.4. Những hạn chế và bất cập của công cuộc XĐGN
114
Chương 4: Từ kết quả của chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN
đến phương hướng thực hiện chương trình trong tương lai
129
4.1. Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 2005 - 2010, cơ sở
để tiếp tục thực hiện công cuộc XĐGN ở các vùng, miền của đất nước
129
4.2. Một số vấn đề đặt ra với công cuộc xóa đói giảm nghèo hiện nay ở
vùng người Mường tỉnh Phú Thọ từ góc độ Dân tộc học
133
Kết luận
163
Danh mục công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án
168
Tài liệu tham khảo
169
Phụ lục
179 ii

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Mức độ cư trú tập trung của người Mường ở tỉnh Phú Thọ
33

DTTS : Dân tộc thiểu số
ĐBKK : Đặc biệt khó khăn
HĐND : Hội đồng nhân dân
HA : héc - ta
HTX : Hợp tác xã
KHKT : Khoa học kỹ thụât
KHXH : Khoa học xã hội
KHXH và NVQG : Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia
LĐTB & XH : Lao động, Thương binh và xã hội
NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội
NH NN & PTNN : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NXB. : Nhà xuất bản
NV- LĐTBXH : Nội vụ, Lao động - Thương binh xã hội
QLDA : Quản lý dự án

iv
QLDACT : Quản lý dự án chương trình
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTCX : Trung tâm cụm xã
PTNT : Phát triển nông thôn
Tr. : trang
TW : Trung ương
UBND : Ủy ban nhân dân
VHDT : Văn hóa dân tộc
VHTT : Văn hóa thông tin
WB : Ngân hàng thế giới
XDCB : Xây dựng cơ bản
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo


này, để nhân dân các dân tộc ở các địa phương, vùng miền từng bước thoát
nghèo, vươn lên làm giàu, ngày càng có cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn. Đây
là một trong những lý do đầu tiên để tôi hướng đề tài Luận án nghiên cứu vào
vấn đề này.
1.2. Trong cộng đồng 54 tộc người ở nước ta, người Mường là một
trong những tộc người bản địa, có nguồn gốc thân thuộc về lịch sử - văn hóa
với người Việt. Ngoài tỉnh Hòa Bình là “trung tâm sinh sống chính, người
Mường còn cư trú tập trung tại một số tỉnh khác, trong đó có tỉnh Phú Thọ (số
lượng dân số của tộc người này đứng thứ hai trong tỉnh, tại hai huyện Thanh
Sơn và Yên Lập, người Mường chiếm trên 60%). Đây là nơi trung chuyển
giữa miền núi và đồng bằng, một trong những địa bàn liên quan đến quá trình
lập nước của tổ tiên ta. Trong công cuộc XĐGN, người Mường ở tỉnh Phú
Thọ cũng có nhiều cố gắng để hướng tới và đạt tới một cuộc sống ngày càng
được cải thiện tốt hơn. Nghiên cứu việc thực hiện các chương trình mục tiêu
quốc gia về XĐGN ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ nhằm có một đánh giá
xác thực, tạo cơ sở khoa học cho việc tiếp tục đề ra và hoàn thiện các chính
sách XĐGN và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chính sách đó đối với người
Mường, để đồng bào sớm có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc và văn minh,
sát cánh cùng các dân tộc khác xây dựng địa phương thành tỉnh giàu mạnh,
đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước theo hướng
CNH, HĐH .
Chính vì những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Chương trình mục tiêu
quốc gia xóa đói giảm nghèo đối với đời sống kinh tế- xã hội của người
Mường tỉnh Phú Thọ” làm đề tài Luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Dân tộc
học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu người Mường ở Việt Nam và người Mường ở tỉnh Phú

3
Thọ đã được nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập dưới các góc độ khác

xã hội học, các cứ liệu được thẩm định và đánh giá qua các cuộc hội thảo và
báo cáo chuyên đề về công tác XĐGN trong những năm cuối cùng của thế kỷ
XX đã khái quát về thực trạng đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số, các chương
trình, dự án của Đảng và Nhà nước giúp cho các hộ đói nghèo ở nước ta thoát
khỏi nghèo đói; trên cơ sở đó, đưa ra một số khuyến nghị về định hướng và
giải pháp XĐGN ở vùng DTTS [28].
- Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam do Bùi
Minh Đạo chủ biên cuốn sách tập trung phản ánh tình hình nghèo đói và các
phương pháp giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, đồng thời. Cuốn
sách cũng chỉ ra được những kinh nghiệm và kỹ năng nghiên cứu vấn đề giảm
nghèo bằng các phương pháp khác nhau, trong đó phương pháp đánh giá nông
thôn có sự tham gia của người dân là chính yếu và xuyên suốt [16]. Tác giả
còn tiếp tục nghiên cứu và trình bày những ý tưởng về XĐGN tại một địa bàn
có tầm quan trọng chiến lược là Tây Nguyên, trong một cuốn sách có tiêu đề
Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp giảm nghèo đối với các dân tộc
thiểu số tại chỗ Tây Nguyên [15].
- Năm 2004, Nhà xuất bản Nông nghiệp công bố cuốn Lắng nghe người
nghèo nói [103]. Cuốn sách này là kết quả của chương trình hợp tác nghiên
cứu giữa Viện Kinh tế học (Trung tâm KHXH và NVQG, nay là Viện KHXH
Việt Nam) và tổ chức Action Aid. Nội dung của cuốn sách phản ánh cuộc
sống của những người “đói kinh niên” ở các dân tộc: Kinh, Thái, Khơ Mú,
Hmông, Khơ me, Chăm, Ra- glai thuộc các tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hà Tĩnh,
Ninh Thuận, thành phố Hồ Chí Minh, Trà Vinh, từ đó đưa ra một số khuyến
nghị, giải pháp để giúp những người “đói kinh niên” hòa nhập vào cộng đồng.
- Kỷ yếu hội thảo Xóa đói giảm nghèo - vấn đề và giải pháp ở vùng dân

5
tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam. Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành,
giới thiệu 17 báo cáo tại hội thảo cùng tên chủ đề, do Viện Dân tộc (ủy ban
Dân tộc Trung ương) và Ngân hàng thế giới phối hợp tổ chức (năm 2004).

liệu thống kê và các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của cấp ủy và chính quyền địa
phương, không khảo sát dân tộc học tại thực địa.
- Luận văn Cao cấp lý luận chính trị Vấn đề xóa đối giảm nghèo ở huyện
Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ- thực trạng và giải pháp của Bùi Văn Huấn [27],
tuy cũng đưa ra một số đánh giá về thực trạng phát triển kinh tế với XĐGN ở
huyện Thanh Sơn từ năm 1986 đến năm 2002, từ đó đưa ra những quan điểm
cơ bản và giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế gắn với XĐGN ở huyện;
song lại nhìn nhận vấn đề dưới góc độ chính trị, không phải góc độ dân tộc
học và cũng chỉ thông qua các số liệu thống kê và các báo cáo tổng kết nhiệm
kỳ của cấp ủy và chính quyền địa phương, không khảo sát dân tộc học tại thực
địa.Vì vậy, các khuyến nghị, giải pháp trong Luận văn này mang tính chất
định hướng chung chung, thiếu tính cụ thể, sát thực.
Như vậy, dưới góc độ Dân tộc học, vấn đề XĐGN gắn với việc thực hiện
các chương trình mục tiêu quốc gia ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ gần
như còn bị bỏ ngỏ. Đây cũng là lý do để tôi chọn vấn đề này làm Luận án
Tiến sĩ của mình.
3. Mục đích nghiên cứu của luận án
3.1. Làm rõ thực trạng của việc thực hiện các nhiệm vụ của Chương
trình mục tiêu quốc gia XĐGN ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ từ trước
đến nay (những mặt được cùng tác động của chúng với đời sống kinh tế - xã
hội đối với đồng bào Mường cũng như những hạn chế, những bất cập, cùng
nguyên nhân của chúng dưới góc độ Dân tộc học).
3.2. Tạo cơ sở khoa học và cung cấp các tư liệu để các nhà quản lý và

7
hoạch định chính sách các cấp tham khảo để bổ sung, hoàn thiện và đổi mới
các chủ trương, chính sách XĐGN ở vùng người Mường nói riêng, các tộc
người thiểu số khác ở tỉnh Phú Thọ nói chung và nêu một số vấn đề có tính
chất như là những khuyến nghị cho việc tổ chức thực hiện, góp phần đẩy
mạnh và nâng cao hiệu quả của công cuộc XĐGN, giúp đồng bào Mường ở

- Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu về XĐGN, về người Mường ở
tỉnh Phú Thọ đã được công bố làm nguồn tư liệu.
6. Đóng góp của luận án
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu về việc thực hiện các chương trình
mục tiêu quốc gia XĐGN ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ. Luận án nghiên
cứu có hệ thống và làm rõ các luận cứ khoa học trong việc bổ sung, hoàn
thiện các chủ trương, chính sách XĐGN đối với các DTTS; giúp cho cấp ủy,
chính quyền, các ngành, các cấp ở tỉnh Phú Thọ có thêm những kinh nghiệm
để vận dụng các chủ trương, chính sách chung của Đảng và Nhà nước vào
điều kiện cụ thể của địa phương mình, tiếp tục thực hiện có hiệu quả công
cuộc XĐGN ở vùng người Mường và các tộc người khác trên địa bàn.
- Luận án góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về đói nghèo và XĐGN ở Việt Nam hiện nay trên bình diện Dân tộc học.
7. Bố cục của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án được chia
thành 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu về đói
nghèo
Chương 2: Vài nét về người Mường ở tỉnh Phú Thọ và thực trạng đói
nghèo của họ
Chương 3: Quá trình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói

9
giảm nghèo ở vùng người Mường tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Từ kết quả của chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN đến
phương hướng thực hiện chương trình trong tương lai. 10
Chương 1

đổi mới, sự đổi thay trong nông thôn người Mường ở Phú Thọ vẫn diễn ra rất
chậm chạp. Tất cả những yếu tố trên có ảnh hưởng nhất định tới công cuộc
xoá đói giảm nghèo hiện nay của người Mường tại vùng này.
Khi nghiên cứu Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo với
đời sống kinh tế - xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ, cần phải đặt trong
bối cảnh của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn
đề dân tộc và XĐGN.
Trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân
tộc, trọng tâm là vấn đề đại đoàn kết dân tộc, bình đẳng dân tộc và giúp đỡ nhau
cùng phát triển giữa các dân tộc. Đại đoàn kết và bình đẳng dân tộc đảm bảo cơ
sở vững chắc cho sự ổn định để phát triển. Mặt khác, giúp đỡ nhau cùng phát
triển không chỉ là trách nhiệm hay đạo đức của các tộc người trong một quốc gia
đa dân tộc mà còn tiếp tục vun đắp cho đại đoàn kết và bình đẳng về dân tộc.
Trên cơ sở các đường lối, chính sách cơ bản nêu trên, Đảng và Nhà nước
Việt Nam đã thực hiện những chính sách XĐGN với các dân tộc, trong đó
trọng tâm là các tộc thiểu số. Các chính sách này được thể hiện qua rất nhiều
những chương trình, dự án. Trong bối cảnh hiện nay, đoàn kết, bình đẳng giữa
các dân tộc phải được khẳng định qua sự phát triển. Do đặc thù về xuất phát
điểm trước khi tiến hành CNH, HĐH đất nước như đã nêu; do bị nhiều hạn chế
về cơ hội nên đến nay, hầu hết các vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam đều
trong tình trạng kém phát triển. Bởi vậy, để hoà nhịp cùng sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước trước hết cần thực hiện công cuộc XĐGN ở các dân tộc thiểu
số.
Về cách tiếp cận, nghiên cứu Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói
giảm nghèo với đời sống kinh tế - xã hội của người Mường tỉnh Phú Thọ, luận
án được thực hiện trên cơ sở các cách tiếp cận sau:

12
Tiếp cận Dân tộc học: Đó là xem xét các yếu tố tộc người (cụ thể ở đây là
của người Mường), trong đó tập trung vào yếu tố văn hóa có ảnh hưởng như thế

cộng đồng tác động đến đói nghèo cũng như khả năng tiếp cận các chính sách
XĐGN của các hộ nghèo; thấy được mối quan hệ giữa các yếu tố nội lực với
các tác động bên ngoài tới quá trình thực hiện XĐGN ở những vùng này.
Tiếp cận hệ thống (gắn với tiếp cận liên ngành): Đặt vấn đề đói nghèo
trong mối liên hệ với nhiều yếu tố, như môi trường sống, lịch sử cư dân, thể
chế chính trị - xã hội (nhất là các chủ trương chính sách của Nhà nước ở mỗi
thời điểm), với văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo của mỗi cộng đồng dân cư
1.1.2. Những vấn đề lý luận về đói nghèo
1.1.2.1. Khái niệm “Đói nghèo”
Để tìm hiểu thực trạng đói nghèo và tìm ra các nguyên nhân của đói
nghèo của mỗi tộc người, mỗi cộng đồng cư dân, cần thiết phải có những
quan niệm chung về đói nghèo, từ đó hình thành các chủ trương, chính sách
nhằm XĐGN phù hợp với từng tộc người, từng vùng và từng địa phương.
Tuỳ theo quan niệm và cách tiếp cận mà có những định nghĩa khác nhau
về đói nghèo.
Theo quan điểm của UNDP, đói nghèo là tổng hợp của nhiều yếu tố: đói
nghèo không chỉ là thiếu thu nhập, mà còn là sức khoẻ yếu, bị mù chữ, thiếu
tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản, ít cơ hội tham gia vào quá trình ảnh
hưởng tới đời sống của con người [104].
Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004, “Nghèo đói là tình trạng kiệt
quệ bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập hạn chế đến tính dễ bị tổn thương
khi gặp phải những tai ương bất ngờ và ít có khả năng tham gia vào quá trình
ra quyết định chung” [105, tr. 11]. Vẫn trong báo cáo này, ở trang 7, lại có

14
cách diễn đạt khác: “Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện.
Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo
tiêu dùng những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất
lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có
khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị

hoạt, các trang thiết bị vệ sinh ) bảo đảm cho con người giữ được sức khỏe, có
khả năng phòng ngừa bệnh tật hay không bị tác động xấu của bệnh tật. Nhu cầu
về vệ sinh có liên quan quan trực tiếp đến các nhu cầu về ăn, ở, mặc và y tế.
Nhu cầu y tế: Khả năng được tiếp cận các dịch vụ y tế (khám, chữa bệnh,
sử dụng các loại thuốc) để giữ gìn, phục hồi và nâng cao sức khỏe khi bệnh
tật xảy ra.
Nhu cầu về giáo dục đào tạo: Khả năng được học hành cho con em và
bản thân để nâng cao kiến thức về cuộc sống, được trang bị hay nâng cao một
lĩnh vực chuyên môn để có thể sống.
Nhu cầu về đi lại, giao tiếp: Không có các phương tiện hay không đủ
tiền để thuê các phương tiện cần thiết cho các nhu cầu bình thường của cuộc
sống hay để giải quyết các quan hệ riêng, do vậy, những người thuộc tình
cảnh này thường có ít các mối quan hệ xã hội.
Nhu cầu về giải trí, về văn hóa tinh thần: Khả năng được tiếp cận các
dịch vụ vui chơi giải trí, về văn hóa, thể dục thể thao.
Khi nói đến đói nghèo, cần phân biệt hai dạng: Nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng không được đáp ứng các nhu cầu tối thiểu
nhằm duy trì cuộc sống. Trong trường hợp này, nghèo tuyệt đối đồng nghĩa với
tình trạng đói và thiếu đói, tức có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo

16
nhu cầu vật chất, đặc biệt là nhu cầu về dinh dưỡng và năng lượng để duy trì
cuộc sống. Đó là những hộ hằng năm thiếu ăn từ 1- 2 tháng, hay bị nợ cộng đồng
các khoản khác nhau mà không có khả năng chi trả. Nhiều trường hợp thiếu đói
từ 3- 5 tháng trở lên và kéo dài từ năm này qua năm khác, gọi là đói kinh niên.
Nghèo tương đối là tình trạng có mức sống dưới trung bình của cộng
đồng tại một địa phương được xem xét, khả năng tiếp cận hoặc được đáp ứng
các nhu cầu cơ bản và tối thiểu của cuộc sống rất hạn chế.
Cả nghèo tuyệt đối và tương đối đều phản ánh sự bất bình đẳng về mức

lệ bao nhiêu trong tổng cơ cấu tiêu dùng của đối tượng cư dân được xem xét,
từ đó thấy được thực trạng đói nghèo và độ chênh có tính chất vùng, khu vực,
giữa các đối tượng được nghiên cứu khác nhau.
Khi xét vấn đề giàu nghèo trên bình diện kinh tế, các nhà nghiên cứu xác
định thước đo giàu nghèo thường bắt đầu từ việc vạch ra giới hạn của nghèo
khổ, được biểu hiện bằng thu nhập tính theo đầu người của gia đình. Nếu các
gia đình có bình quân thu nhập đầu người dưới giới hạn nghèo khổ thì được
coi là đói nghèo; còn quy mô của nghèo khổ được tính theo tỷ lệ số hộ nghèo
đói trong tổng số hộ của địa phương hay toàn quốc gia.
Từ sự phân tích định tính đến phân tích định lượng, các nhà xã hội học
và các nhà kinh tế học đã đưa ra cách tính phổ biến trên thế giới:
- Cách thứ nhất: Giới hạn nghèo khổ được xác định tương đương với
mức thu nhập của những người làm dịch vụ xã hội trong những năm đầu của
thập kỷ 60 của thế kỷ XX.
- Cách thứ hai: Lấy số liệu chi lương thực, thực phẩm đủ sống cho một
gia đình nhân với 3 lần sẽ ra mức giới hạn nghèo khổ (còn gọi là thu nhập tối
thiểu của đời sống).
Ngoài ra, một số nước còn căn cứ vào lượng ca lo tối thiểu cần thiết cho

18
cơ thể con người mỗi ngày để tìm giới hạn của sự nghèo khổ. Người nào có
mức tiêu dùng bình quân một ngày thấp hơn mức calo hấp thụ thì được coi là
nghèo đói. Tiêu chí về ngưỡng nghèo theo Ngân hàng Thế giới là dưới 2.100
calo/người/ngày (năm 1991).
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ
giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập quốc dân tính theo đầu người theo
hai cách:
- Phương pháp ATLAS: Tính thu nhập bằng USD và theo tỷ giá hối đoái.
- Phương pháp PPP (Purcha sinh Power Padity): Xem xét sức mua của
cư dân theo USD.

hải đảo bằng dưới 15 kg gạo/người/tháng, tương đương với 55.000 đồng;
tương tự, đối với vùng nông thôn đồng bằng và trung du là dưới 20 kg gạo và
70.000 đồng; đối với thành thị là dưới 25 kg gạo và 90.000 đồng.
Lần thứ hai: Theo quy định tại Quyết định số 1134 - 2000/QĐ -
LĐTBXH ngày 01 tháng 11 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương
binh - Xã hội (áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2001), hộ nghèo ở vùng nông
thôn miền núi có thu nhập 80.000 đồng/người/tháng; tương tự, ở vùng đồng
bằng là 100.000 đồng và ở đô thị là 150.000 đồng.
Lần thứ ba: Quyết định 170/2005/ QĐ- TTg ngày 8/7/2005 của Thủ
tướng Chính phủ quy định hộ nghèo ở khu vực nông thôn có thu nhập đầu
người một tháng từ 200.000 đồng trở xuống; ở khu vực thành thị là 260.000 đồng.
Các văn bản của các ban ngành có liên quan đến XĐGN cũng đưa ra các
khái niệm “Xã nghèo” và “Vùng nghèo”. Xã nghèo là xã có tỷ lệ số hộ đói
nghèo chiếm từ 40% trở lên, thiếu cơ sở hạ tầng (giao thông đi lại khó khăn,
không có điện thắp sáng, thiếu nước sạch cho sinh hoạt, không có đủ các công
trình dân sinh kinh tế như trường học, trạm y tế, chợ xã hoặc chợ liên xã.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status