BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH – XÃ HỘI
TRƯỜNG LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
TIỂU LUẬN
XÃ HỘI HỌC
Đề tài:
“Về sự tác động của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam
đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của Hà Nội”
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thanh Huyền
Người trình bày : Lê Thanh Hương
1
Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2008
2
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Từ 1990 đô thị Việt Nam mới bắt đầu phát triển. Từ đó đến nay, đặc biệt là
vài năm trở lại đây tốc độ đô thị hóa càng diễn ra nhanh chóng. Những năm
đầu 1990 tỷ lệ đô thị hóa hàng năm chỉ đạt khoảng 17-18% nhưng nay mức độ
đô thị hóa đã tăng lên 27%/năm.
Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và
trước các tác động của tiến trình toàn cầu hoá, tốc độ đô thị hoá đang diễn ra
khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước. Trong tiến trình
đó, văn hoá đô thị Việt Nam đang có những thay đổi theo hướng hiện đại.
Đây là giai đoạn có những thay đổi và phát triển toàn diện về mọi mặt đời
sống kinh tế xã hội của Hà Nội, đô thị hoá của Hà Nội có sự phát triển vượt bậc
:
- Dân số Hà Nội tăng mạnh, lượng người nhập cư vào Hà Nội tăng cao trong
đó lượng người nhập cư vì lý do kinh tế chiếm tỷ lệ lớn. Điều này cũng khẳng
định tính tích cực của quá trình đô thị hoá của Hà Nội hiện nay, sự tăng tốc độ
đô thị hoá đi liền với tăng trưởng kinh tế, hạn chế được hiện tượng đô thị hoá
giả tạo.
-Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao trong nhiều năm, thu nhập bình
quân trên đầu người của người dân thành phố ngày càng được cải thiện. Đời
4
II. NỘI DUNG:
1. Khái niệm :
Tuỳ theo mỗi quốc gia mà đô thị được định nghĩa khác nhau. Ở Việt
Nam,theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Chính
phủ Việt Nam về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị:
Đô thị là khu dân cư tập trung có những đặc điểm sau:
Về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định thành lập;
Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên
tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong
thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện.
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt
động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy
hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000
người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km².
Đô thị hoá là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân
đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu
vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian.
Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hoá; còn theo
cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hoá.
Các quá trình đô thị hóa gồm:
Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Thông thường quá trình này
không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành
phố thường thấp hơn nông thôn.
5
Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc như là sự nhập cư
sinh nhiều bất cập và để
lại những hậu quả nặng
nề về mặt xã hội, quy
hoạch, kiến trúc, sản
xuất, hệ sinh thái , gây
nên nhiều áp lực đối với
sự phát triển của đất
nước.
Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa lại xảy ra nhiều năm trước quá trình công
nghiệp hóa, khiến cho mô hình và tư duy đô thị gặp nhiều khủng hoảng. Nghịch
lý này có thể bắt nguồn từ nguyên nhân do sức ép nhà ở sau chiến tranh và
tình trạng đầu cơ đất. Sự phát triển ngược trên khiến hệ thống đô thị ở Việt
Nam ngày càng lộ rõ những yếu kém, đi liền với các hệ quả, có thể được gọi là
"căn bệnh đô thị" như: kiến trúc thiếu đồng bộ, giao thông tắc nghẽn, nước thải
sinh hoạt, di dân tự do và các vấn đề xã hội nan giải khác Quy hoạch ngày
càng xa rời mục đích gốc - vốn phải phục vụ nhu cầu và thói quen của đại bộ
phận dân cư.
7
Hà Nội có tới hàng chục vạn người sống chen chúc trong các ngõ hẻm chật
chội, thiếu các nhu cầu tối thiểu về
nước sạch, hạ tầng kỹ thuật, chưa
nói đến các nhu cầu về việc làm,
giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi
trường sống Các khu đô thị mới
được phát triển mạnh ở khu vực
ven đô thường là các dự án nhỏ lẻ,
không đồng bộ, hầu như chỉ xây
nhà ở để bán, xa nơi làm việc,
trường học, bệnh viện, chợ và các
trung tâm giao tiếp nên cư dân vẫn
như: cần bao nhiêu nhà ở, trường học, bệnh viện hiện nay vẫn chưa có số
liệu chính thức nào được công bố từ phía các cơ quan quản lý nhà nước. Sẽ là
quá muộn nếu chúng ta không có những quyết sách đúng đắn về đô thị hoá ở
Hà Nội.
Kể từ khi Đảng chủ trương đổi mới,
đất nước đã vượt qua khủng hoảng,
nhiều lĩnh vực đã đạt được tốc độ phát
triển tốt. Nhưng, về xây dựng lại chưa
tạo ra được cho đất nước một bức
tranh đẹp.
Có thể nước ta có nhiều đặc điểm
không giống các nước khi khởi đầu tiến
trình đô thị hoá. Thực tế, việc sao chép
những mô hình đô thị hiện đại của các
nước tiên tiến đang bộc lộ những độ
vênh nhất định. Đặc biệt, thực tiễn phát triển đô thị khá "nóng" ở nước ta thời
gian qua đang bộc lộ những khiếm khuyết, báo trước khả năng có thể xảy ra
"khủng hoảng đô thị".
Bộ Xây dựng, cơ quan chuyên ngành được giao trách nhiệm, đã tỏ ra “đuối
sức” trước nhiều vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra trong cơn lốc xây dựng và
phát triển đô thị hiện thời.
Không nhiều các khu đô thị được
quy hoạch đồng bộ, mới chỉ có các
khu để ở
9
Thăng Long – Hà Nội với nghìn năm lịch sử phong phú; hào hùng, với văn
hoá được tích luỹ nhiều đời, không phải thủ đô nào trên thế giới cũng có được.
Hà Nội không nhất thiết phải lựa chọn mô hình đầu tàu kinh tế, việc mà nhiều
địa phương có nhiều thuận lợi và có khả năng làm tốt hơn Hà Nội nhiều.
Mặt khác, mô hình đô thị cực lớn với động lực công nghiệp là một mô hình
30-45%, dân số đô thị lên tới trên 45 triệu ngườ . Hiện nay Việt Nam có khoảng
700 điểm đô thị được hình thành chủ yếu – rõ nét từ 300 – 400 năm nay và
được phân loại theo 5 cấp (từ đô thị đặc biệt đến đô thị loại 5).
Những đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hoá ở Việt nam – sự hình thành
theo mô hình chuyển hóa kinh tế - xã hội và đặc trưng về văn hóa, địa lí của
từng Vùng. Những đô thị Việt Nam chủ yếu được hình thành từ chế độ phong
kiến và được mở rộng theo kiểu mẫu qui hoạch thuộc địa của Pháp. Những đô
thị này được tiếp tục chịu ảnh hưởng của mô hình qui hoạch đô thị từ các nước
Đông âu trong các giai đoạn tiếp theo và đang được quy hoạch, quản lí theo
mô hình tập trung, chịu khống chế nhiều từ trung ương hay cấp tỉnh, thành phố.
Hiện nay, các đô thị ở Hà Nội đang có xu hướng mời chuyên gia nước ngoài để
lập mô hình phát triển các thành phố theo các nước đã phát triển. Ranh giới và
sự liên kết giữa nông thôn và thành thị không rõ nét, tạo ra hiện tượng đô thị
hoá gi tạo và thiếu việc làm tại khu vực nông thôn, từ đó đã tạo ra làn sóng di
dân tự do vào khu vực đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn và trung bình. Nhìn
chung, tốc độ đô thị hoá chậm - kéo dài và chịu nhiều ảnh hưởng của tốc độ
tăng trưởng kinh tế. Cấu trúc không gian đô thị trong quá trình chuyển hoá dễ
chấp nhận xu hướng hoà nhập – thậm chí mang phong cách “nhập khẩu” từ
nước ngoài hay từ các vùng đồng bằng sang các khu vực miền núi, nhưng vẫn
còn lưu giữ yếu tố chính về cấu trúc không gian và lối sống truyền thống.
Hướng tới mô hình Đô thị tương thích trong quá trình đô thị hóa. Đề xuất
một dạng đô thị có thể có kh ả năng biến đổi một cách tương thích với sự thay
đổi của sinh thái tự nhiên, bối cảnh kinh tế xã hội, nhu cầu của người dân đô
thị, tuỳ theo đặc trưng của từng vùng đô thị khác nhau về văn hoá, khả năng
đầu tư, trình độ quản lí. Đô thị tương thích là một kiểu mô hình phát triển được
dựa trên khả năng biến đổi tổng hợp của từng đô thị.
Do tính chất tập trung dân cư và thành phần phức tạp của các nhóm dân cư
đô thị, những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nay đều được phát sinh và phát
triển ở các trung tâm đô thị lớn: trộm cắp, giết người, nghiện hút, mãi
dâm Vấn đề nhà ở: với tốc độ tăng dân số đô thị như hiện nay thì vấn đề nhà
hưởng các dịch vụ đô thị. Quy mô
dân số mở rộng đã làm cho mật độ
dân số tăng nhanh và mất cân đối.
12
Năm 2007, mật độ dân số toàn thành phố là 3.490 người/km², trong đó mật độ
cao nhất là ở các quận nội thành.
Cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, trong giai đoạn 2001-2007, Hà
Nội cũng đạt mức tăng trưởng cao với mức tăng bình quân 11,5%/năm. Các
ngành kinh tế đều tăng khá, trong đó giá trị sản phẩm công nghiệp bình quân
tăng 12,7%/năm, dịch vụ tăng 10,5%/năm và nông nghiệp tăng 2,7%/năm. Cơ
cấu ngành kinh tế có chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Tỷ trọng ngành công nghiệp tăng từ
38,5% năm 2001 lên 41,5% năm 2007, trong khi tỷ lệ này ở nhóm ngành nông
nghiệp giảm từ 3,8% xuống còn 2,7%. Các ngành công nghiệp chế biến và
công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu như: Cơ khí, điện tử, may mặc, giày
dép… đang được đầu tư phát triển. Tuy nhiên, các sản phẩm trên đều tiêu thụ
nhiều nguyên liệu, quá trình sản xuất gây ô nhiễm nên đã có những tác động
tiêu cực tới môi trường không khí ở Hà Nội.
Một là, hoạt động sản xuất công nghiệp:Với tốc độ tăng trưởng bình quân
12,7%/năm , hoạt động sản xuất công nghiệp được coi là một trong những
nguồn chính gây ô nhiễm môi trường không khí ở Hà Nội. Kết quả điều tra 400
cơ sở công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố cho thấy: Gần 200
cơ sở có tiềm năng thải các chất thải gây ô nhiễm không khí, trong đó chủ yếu
là các cơ sở công nghiệp cũ (được xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ XX)
với công nghệ lạc hậu và hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại. Trước
đây, các cơ sở này nằm ở ngoại thành hay ven nội, thì nay đã nằm ngay trong
nội thành, giữa các khu dân cư đông đúc do quá trình mở rộng ranh giới đô thị.
Những cơ sở mới được xây dựng tập trung ở các khu công nghiệp, nhưng
chưa xử lý triệt để các khí thải độc hại nên vẫn gây ô nhiễm môi trường xung
quanh. Các khí thải độc hại phát sinh
vào môi trường, khiến cho tình trạng ô nhiễm không khí thêm trầm trọng. Bên
cạnh đó, hoạt động sinh hoạt của nhân dân cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
môi trường không khí (đun nấu bằng than, dầu, đặc biệt là than tổ ong), ước
tính góp vào khoảng 10% chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí ở Hà
Nội.
Hiện trạng môi trường không khí:
Ô nhiễm bụi: Giống như nhiều đô thị
khác trong cả nước, Hà Nội bị ô nhiễm bụi
14
tới mức báo động. Tại khu vực nội thành, chất lượng môi trường không khí có
biểu hiện suy thoái. Số liệu quan trắc qua các năm ghi nhận: Nồng độ bụi tăng
rõ rệt và đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, tại các nút giao thông,
nồng độ bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2-2,5 lần, điển hình là Ngã tư Kim
Liên (đường Giải Phóng), nồng độ bụi cao hơn 2-3 lần so với tiêu chuẩn cho
phép (0,2 mg/m³).
15
Kết quả quan trắc môi trường không khí tại các khu, cụm công nghiệp cũng
cho thấy: Nồng độ bụi lơ lửng tại hầu hết các khu vực đều có xu hướng gia
tăng liên tục, vượt quá chỉ tiêu cho phép 2,5-4,5 lần. Trong đó, gia tăng đặc biệt
mạnh là các khu vực: Từ Liêm, Văn Điển, Pháp Vân và Mai Động. ô nhiễm
không khí ở Hà Nội chủ yếu là do bụi từ đường bộ, bụi thứ cấp của các
phương tiện vận tải tham gia giao
thông và của hoạt động xây
dựng. Tại Hà Nội, vào nhưng
năm 1996-1997 ô nhiễm trầm
trọng đã xảy ra ở xung quanh các
nhà máy thuộc khu công nghiệp
Thượng Đình với đường kính khu
vực ô nhiễm khoảng 1700 mét và
nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn
chỉ tiêu BOD dưới 25 mg/lít; còn nếu không có biện pháp cải thiện môi trường
rõ rệt thì chỉ số BOD sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ 1992-1994 và khoảng 1,8
lần so với thời kỳ 1997-1998, trong đó sông Lừ sẽ bị ô nhiễm nặng nhất với chỉ
số BOD là 130 mg/l, khá nhất là sông Sét thì cũng là 54 mg/l; trong đó tiêu
chuẩn cho phép đối với nước loại A không quá 4 mg/l, với nước loại B không
quá 25 mg/lít.
Hà Nội cũng đang tiến hành dự án cải tạo môi trường đối với khu công
nghiệp Minh Khai – Vĩnh Tuy, di dời các nhà máy ra khỏi vùng đô thị đông dân,
áp dụng nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “Trường hợp tính lệ phí
nước thải của một xí nghiệp công
nghiệp”. Thành phố Hồ Chí Minh lập
dự án xây dựng các nhà máy xử lý
chất thải công nghiệp v.v
Các giải pháp sẽ chỉ có tác dụng
giảm bớt ô nhiễm môi trường nếu
mọi người cùng coi trọng và bảo vệ
môi trường bằng y thức và hành
động cụ thể của mỗi người.
Kiến trúc tổng thể đô thị đang bị rạn vỡ, nhà ống xây dựng tràn lan, thiếu
vắng không gian công cộng, sự biến mất của các làng trong đô thị là những
"vết sẹo" của Hà Nội
17
Kiến trúc sư Hoàng Thúc Hào, giảng viên ĐH Xây dựng thẳng thắn, Hà Nội
đang phải “hứng” chịu 7 vết sẹo chính. Đó là: cấu trúc tổng thể đô thị đang bị
rạn vỡ; các tuyến phố nhà ống xây dựng tràn lan; sự hỗn tạp trong khu phố cổ;
thiếu vắng không gian công cộng; hệ thống mặt nước bị thu hẹp; sự biến mất
của các làng trong đô thị" và cái gọi là "khu đô thị mới" mọc lên như nấm:
Năm 1986, Hà Nội chỉ có xấp xỉ hai triệu dân, hệ thống ao hồ đan xen khắp
nơi, trung tâm thành phố lác đác vài nhà cao tầng, cấu trúc khu phố cổ chưa bị
phá vỡ Nhưng đến năm 2008, khi Thăng Long sắp 1.000 tuổi, dân số đã tăng
hứng" (Thôn Đình Thôn, xã Mỹ Đình, Hà Nội).
18
Tình trạng sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị thiếu kế
hoạch có thể dẫn đến nguy cơ về an ninh lương thực quốc gia. Dự báo đến
năm 2020, diện tích đô thị vào khoảng 460.000 ha, chiếm 1,4 % diện tích đất tự
nhiên cả nước. Mục tiêu đảm bảo 40 triệu tấn lương thực cho 100 triệu dân khó
có thể đạt được.
Sự chênh lệch về văn hoá và mức sống giữa các tầng lớp cư dân đô thị
ngày càng lớn, dẫn đến sự mất cân bằng trong sinh thái đô thị, nhất là giữa dân
số và việc làm, giữa dân số và thu nhập, giữa dân số và kết cấu hạ tầng…Cơ
chế thị trường đã làm cho dân cư đô thị nước ta bị phân hoá sâu sắc, một bộ
phận dân cư giàu lên nhanh chóng bên cạnh tầng lớp nghèo, lang thang cơ
nhỡ, sống tạm bợ trong các khu nhà ổ chuột, thiếu các điều kiện tối thiểu,
không có cơ hội được hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã hội. Một kết
quả nghiên cứu vấn đề nghèo đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: mức
sống của người nghèo thấp hơn người giàu 7 lần. Do thu nhập thấp, các hộ
nghèo phải dành 80% thu nhập chi cho bữa ăn hằng ngày (nhưng vẫn không
đủ), chỉ còn 20% dành cho học hành, chữa bệnh, đi lại; gần 20% trẻ em trong
độ tuổi không được đến trường, cũng gần bằng số đó là con của các hộ nghèo
phải bỏ học, số trẻ em suy dinh dưỡng chiếm 38,8%. Các vấn đề này tác động
tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tình cảm và tâm lý dân cư đô thị, từ
đó có thể dẫn đến các phức tạp xã hội. Sự mất cân bằng này cần phải được
khắc phục bằng các chính sách về quản lý đô thị của các ngành chức năng và
chính quyền các đô thị.
Theo Hội Nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng các khu công
nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm cả nước có gần 200.000 ha đất
nông nghiệp bị chuyển đổi mục
đích sử dụng, tương ứng mỗi
hộ có khoảng 1,5 lao động mất
việc làm.
số lớn tuổi, trình độ văn hoá thấp, rất khó tạo việc làm. Còn 3,6 triệu đồng thì
chỉ ăn vài tháng là hết.
Vấn đề chậm ban hành văn bản pháp luật cũng được nhiều đại biểu bàn
tới. Đại biểu Lê Xuân Thân phản ánh một thực tế là các luật đất đai, xây dựng,
thuỷ sản, hợp tác xã và những văn bản luật quan trọng khác đã thông qua từ
lâu, song cho tới nay vẫn nằm chờ nghị định hướng dẫn thi hành. Một văn bản
luật có khoảng 10 nghị định, thời gian chờ ban hành mỗi nghị định lại quá lâu,
như vậy luật khó đi vào cuộc sống. Là người đứng đầu thành phố Hà Nội, chịu
trách nhiệm triển khai thực hiện các văn bản dưới luật, đại biểu Hoàng Văn
Nghiên cho rằng cải cách hành chính hiện nay thiếu những văn bản nền.
20
Theo Công ty Môi trường
đô thị, quá trình đô thị
hoá đã làm nhiều hồ bị
san lấp, nhiều sông,
mương bị thu hẹp diện
tích. Đây là nguyên nhân
làm giảm khả năng chứa,
thoát nước và làm mất
cân bằng hệ sinh thái ao
hồ ở Hà Nội.
Trước đây, Hà Nội có khoảng 200 ao hồ, nay chỉ còn khoảng 100 ao hồ lớn
nhỏ, trong đó 18 hồ có khả năng điều tiết và thoát nước. Công ty Thoát nước
chỉ được quản lý mực nước hồ, trong khi nhiều đơn vị lại đang khai thác hồ vào
các mục đích khác, nên việc hạ mức nước hồ vào các ngày mưa nhiều không
được đáp ứng kịp thời, đã gây úng ngập cho thành phố.
3. Giải pháp:
Một số giải pháp trước mắt:
- Tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến
2020 và các năm tiếp theo phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
Về lâu dài :
Chiến lược đô thị của Hà Nội phải hướng tới mục tiêu bảo đảm cân đối giữa
tính hiện đại với tính bền vững của tự nhiên - con người - xã hội, thông qua
việc lựa chọn các mô hình định cư tiên tiến, phù hợp đặc thù của Việt Nam ở
đô thị, nông thôn, miền núi, các vùng biên giới, hải đảo; bảo đảm sự hài hòa
giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của dân tộc, trên cơ sở tìm kiếm những
phương thức phát triển đô thị tiết kiệm đất, đô thị xanh, đô thị sinh thái thay
thế cho mô hình đô thị còn tồn tại nhiều bất cập hiện nay của chúng ta.
Các cơ quan quản lý nhà nước cần đổi mới nhận thức về đô thị hóa, từ đó
đổi mới về hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch đô thị trên cơ sở
một tầm nhìn dài hạn, khoa học và tổng thể. Việc lựa chọn các mô hình định cư
tiến bộ cho đô thị và nông thôn, phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn công
22
nghiệp hóa, hiện đại hóa phải được tiêu chuẩn hóa và nghiên cứu ứng dụng
ngay từ bây giờ, mặc dù đã là muộn.
Lập các quyết sách cho phát triển đô thị cần có dữ liệu khoa học để cân đối
nguồn tài nguyên như: đất, nước, năng lượng Trong đó, nguồn tài nguyên đất
đang cạn kiệt cần đặc biệt chú ý, nhằm bảo đảm an ninh lương thực, cũng như
giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh từ nó. Nguồn lực và sự dịch chuyển kinh
tế đô thị phải được nghiên cứu để tăng trưởng kinh tế đồng bộ với chất lượng
cuộc sống dân cư. Xem xét lại các chính sách, kiến trúc và quy trình thực hiện
các dự án đô thị, cũng như những quy định trái với thực tiễn cuộc sống, nhằm
đẩy mạnh công tác chuẩn bị đầu tư cho xây dựng đô thị.
Trước thực tiễn người làm công tác chuyên môn liên quan đến vấn đề đô thị
còn hạn chế trong việc cập nhật lý luận, các phương tiện kỹ thuật, công nghệ
mới cũng như các vấn đề của thực tiễn đô thị (dẫn đến phương pháp xây dựng
lạc hậu, lãng phí, trình độ các công ty xây dựng cũng như khâu thẩm định chất
lượng công trình hạn chế), cần nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ quy hoạch
và kiến trúc như một khâu trọng yếu trong quá trình đổi mới về chiến lược phát
triển đô thị của Việt Nam.
khuyết tật của mình. Trong thời gian qua, đô thị hóa trên địa bàn Hà Nội đã diễn
ra với tốc độ cao, trên bình diện rộng, gây ra những biến động lớn trên địa bàn.
Để tránh một cuộc khủng hoảng đô thị Đảng và nhà nước ta nên có các chính
sách ngay từ bây giờ.
24
Tài liệu tham khảo :
1. http://www.vnexpress.net/
2. http://www.laodong.com.vn/
3. http://www.vietnamnet.vn/
4. http://vneconomy.vn/
5. http://www.tuanvietnam.net/
6. http://www.baoxaydung.vn/
7. http://www.thiennhien.net/
8. Báo Khoa học và Đời sống, số 20, ngày 31/3/2003
9. Báo Lao Động số 262 Ngày 10/11/2007
10.Cục Bảo vệ Môi trường, Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam
năm 2005.
11. Hiện trạng môi trường không khí ở Việt Nam (2005).
12.JICA, Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển Thủ đô Hà Nội đến
năm 2020.
13.Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp.
14.Báo cáo tổng quan diễn biến môi trường thành phố Hà Nội từ 1995
đến nay (2007).
25