MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xoá đói, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu, là mục tiêu của thiên
niên kỷ XXI và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm là “Ngày Thế giới
xoá đói, giảm nghèo”. Có thể nói, nghèo đói đã và đang diễn ra trên khắp các
châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát
triển, kể cả các nước đang phát triển và nước giàu có; nghèo đói đang là vấn đề
nhức nhối, thách thức đối với sự phát triển hay tụt hậu của một quốc gia.
Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu khi Cách mạng tháng Tám năm
1945 vừa thành công, Chính phủ Cách mạng lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí
Minh đứng đầu vừa được thành lập, ngày đêm phải lo đối phó với thù trong,
giặc ngoài, nhưng vẫn dành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo cuộc sống
cho nhân dân vừa thoát khỏi cảnh nô lệ, bị áp bức, bóc lột. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đặc biệt chú ý đến vấn đề đói. Người kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ
tập trung lực lượng để chống ba thứ giặc là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại
xâm, trong đó giặc đói được Người đặt lên hàng đầu, với lý do: Ngày nay
chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước
ta được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập đó
chẳng có ý nghĩa gì.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến đời sống nhân dân,
Người nói: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom
đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân
rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”; và
“Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ sẽ dễ dàng
thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy thì
cũng không thực hiện được" [27, tr.572]. Người đã sớm phát động cuộc vận
động thi đua ái quốc kêu gọi toàn dân bằng nhiều phương pháp, cách thức
khác nhau để giúp nhân dân như: tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm,
nhường cơm sẽ áo, quyên góp gạo cứu đói,…
1
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ chung của cách mạng bao gồm
một nước kém phát triển trước năm 2010 mà Đại hội X của Đảng” đã đề ra.
Tuy nhiên công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở nước ta hiện nay phải đối
mặt với những khó khăn và thách thức lớn, đó là do hậu quả của chiến tranh
nên xuất phát điểm của Việt Nam thuộc diện nước nghèo; thu nhập và mức
chi dùng bình quân đầu người thấp. Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa
thành thị và nông thôn, giữa các vùng và các nhóm dân cư có xu hướng gia
tăng. Tỷ lệ người nghèo là người dân tộc thiểu số còn cao, nguy cơ tái nghèo
có thể gia tăng do nhiều nguyên nhân như: thiên tai, dịch bệnh, biến động giá
cả, tác động của hội nhập,… Cơ hội tìm việc làm của người nghèo cũng sẽ ít
hơn. Tỷ lệ hộ dân tái nghèo ở nước ta còn lớn, xoá đói, giảm nghèo thiếu tính
bền vững.
Vĩnh Long là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, toàn
bộ lãnh thổ của tỉnh nằm giữa hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu. Diện
tích tự nhiên 1.475,19 km2, dân số 1.051.000 người, mật độ dân số đạt 704
người/km
2
, là một trong những tỉnh có mật độ dân số cao nhất khu vực đồng
bằng sông Cửu Long.
Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long rất quan tâm
đến công tác xoá đói, giảm nghèo, thực hiện nhiều chính sách và các dự án
xoá đói, giảm nghèo mang lại hiệu quả thiết thực, với sự nỗ lực của các
ngành, các cấp và bản thân của các hộ nghèo đã phấn đấu góp phần hạ thấp tỷ
lệ hộ nghèo của tỉnh từ 13,8%, với 27.677 hộ năm 1994 giảm xuống còn
3,51%, với 8.089 hộ vào cuối năm 2005 (theo tiêu chí cũ), với kết quả này đã
về đích trước thời hạn so với Nghị quyết của Tỉnh đề ra là 5%. Tuy nhiên về
lợi thế so sánh tài nguyên thiên nhiên, Vĩnh Long không có biển, không có
3
núi, không có rừng. Mặt khác Vĩnh Long là một tỉnh diện tích đất hẹp người
đông, trình độ dân trí còn hạn chế, kết cấu hạ tầng còn thấp, kinh tế phát triển
chưa đồng đều giữa các vùng. Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ
năm 2001.
- Ngân hàng Thế giới, “Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam”, năm 2004.
- Nguyễn Hoàng Lý, “Xoá đói, giảm nghèo ở tỉnh gia Lai - Thực trạng
và giải pháp”, năm 2005.
- Trương Văn Thành, “Thực trạng và giải pháp xoá đói, giảm nghèo ở
Tây Ninh hiện nay”, năm 2000.
- Trần Đình Đàn, “Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm xoá
đói, giảm nghèo ở Hà Tỉnh”, năm 2002.
- Vi Văn Vân, “Xoá đói, giảm nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số huyện
Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An”, năm 2004
- Hội thảo khoa học về xoá đói, giảm nghèo do Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội phối hợp với Tạp chí Cộng sản, tổ chức tháng 4 năm 2006.
- Hội thảo “Đồng bằng sông Cửu Long với công cuộc xoá đói, giảm
nghèo thông qua phát triển du lịch cộng đồng” do Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Vĩnh Long, đăng cai tổ chức tại Thị xã Vĩnh
Long tháng 10/2007.
- Phân tích hiện trạng nghèo đói Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2005.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận và nghiên cứu
vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nhiều góc độ, nhiều địa phương khác nhau và
gợi mở ra hướng nghiên cứu mới bổ ích. Đây là những tư liệu quý sẽ được
tiếp thu có chọn lọc trong quá trình viết luận văn này.
Song cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu xoá đói, giảm
nghèo gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Đặc biệt là ở Vĩnh Long
chưa có một công trình nào nghiên cứu như đã nêu dưới góc độ kinh tế chính
5
trị. Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu không trùng với các công
trình nghiên cứu đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ thực trạng đói nghèo và việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo gắn
đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng.
- Trong quá trình phân tích, luận văn vận dụng phương pháp trừu tượng
hoá khoa học và kết hợp các phương pháp khác như: khảo sát, điều tra, thống
kê, hệ thống, so sánh,…tổng hợp báo cáo tổng kết công tác xóa đói, giảm
nghèo và các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Long, để làm rõ vấn
đề nghiên cứu và rút ra các kết luận cần thiết.
6. Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quan hệ giữa xóa đói, giảm nghèo với
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc kết hợp xóa đói, giảm nghèo với
phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long. Nêu rõ những thành công,
những khó khăn, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần thiết phải xoá đói, giảm
nghèo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm kết hợp xóa đói, giảm
nghèo với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Vĩnh Long.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KẾT HỢP XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP X0Á ĐÓI, GIẢM NGHÈO
VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN
1.1.1. Đói, nghèo và nguyên nhân của đói, nghèo
1.1.1.1. Quan niệm về đói, nghèo
Những năm gần đây, vấn đề đói nghèo đã thu hút sự quan tâm to lớn
của cộng đồng quốc tế, đồng thời khẳng định cần có sự nỗ lực toàn cầu trong
giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo.
(ii) Nghèo khổ thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi
theo thời gian, kinh tế càng phát triển, thì nhu cầu cơ bản của con người cũng
sẽ thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn.
(iii) Nghèo khổ thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này đã
chỉ cho chúng ta thấy rằng hiện tại thì chưa nhưng trong tương lai sẽ có chuẩn
nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế -
xã hội của các quốc gia, từng vùng. Xu hướng chung là các nước đang phát
triển ngưỡng đo nghèo đói ngày càng cao.
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith chia sẽ với quan niệm này cho
rằng con người bị coi là nghèo đói khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích
đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng.
Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần
thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một quan niệm cụ thể hơn về
9
nghèo đói như sau: “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn
dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua
những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [21].
Ông Abapia Sen, một chuyên gia hàng đầu của Tổ chức lao động quốc
tế (ILO) - người được giải thưởng Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng:
Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của
cộng đồng. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu,
người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội
lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội
lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn.
Ngân hàng thế giới còn đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa
chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ
số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như:
dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định.
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ
yếu của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức
tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng;
thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không
được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc,
ở ; Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ
phận dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương
trong một thời kỳ nhất định. Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn
nghèo tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn
khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm
thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối.
11
Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn
cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về
tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo đến năm 2005 và 2010, Việt Nam thừa
nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực
châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng
9/1993. Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các
cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, do đó bên cạnh khái
niệm nghèo đói, ở nước ta còn có một số khái niệm sau:
Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì
cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai
tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng.
Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học
hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát
Hộ nghèo: Là hộ đói ăn không đủ bữa, mặc không đủ lành, không đủ
ấm, không có khả năng phát triển sản xuất
thu nhập hàng tháng hoặc hàng năm của các hộ gia đình. Cũng có khi họ chỉ
nhìn vào chi tiêu của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày hoặc thu nhập hàng tháng,
hàng năm của hộ gia đình mà không cần quan sát yếu tố nhà ở, tài sản, trong
trường hợp họ thấy nhà cửa, tài sản cũng không có gì đáng giá. Với cách đánh
giá như vậy người ta gọi là đánh giá định tính của người dân và sau này hình
thành phương pháp đánh giá định tính, hoặc là phương pháp đánh giá có sự tham
gia của người dân. Sự quan sát và đánh giá mang tính chất định tính của người
dân phần nào cũng đã phản ánh thực trạng giàu - nghèo của các hộ gia đình ở
cộng đồng. Tuy vậy nó cũng nảy sinh những khó khăn khi xem xét các hộ nằm
giữa các ranh giới nghèo và không nghèo, trong trường hợp này cách đánh giá
định tính có thể đúng, nhưng chưa sát thực. Mặt khác, xét trên tổng thể cũng
13
không thể biết được hộ nào nghèo đến mức nào, vì không có tiêu chí nào để
đánh giá, hay nói cách khác là không có mốc để so sánh.
Tương tự như vậy, khi người dân có những nhận xét, đánh giá xã này
giàu, xã kia khá, xã nọ nghèo hoặc so sánh xã này giàu hơn xã kia hoặc xã
này nghèo hơn xã kia hoặc xếp xã này vào nhóm nghèo, xã kia vào nhóm
không nghèo. Tuy chỉ đánh giá định tính, song không phải không có những
căn cứ nhất định, mặc dù đánh giá một xã là nghèo hay không nghèo phức tạp
hơn nhiều so với đánh giá hộ gia đình. Căn cứ trực quan sinh động nhất mà
người dân dễ nhận thấy là số hộ có nhà cửa khang trang, số hộ có mức sống
khá giả, kết cấu hạ tầng của xã như đường giao thông, trạm xá, trường học,
điện, hệ thống thuỷ lợi, chợ, công trình văn hoá…trình độ phát triển kinh tế
thông qua thu nhập ngày công lao động hoặc thu nhập tháng/năm của hộ gia
đình. Việc đánh giá như trên phần nào cũng phản ánh được mức độ giàu nghèo
của một xã. Tuy nhiên, khi đánh giá một xã là nghèo hay không nghèo cũng rất
khó vì thiếu những dẫn chứng mang tính định lượng có sức thuyết phục, nhất là
các xã nằm ở ranh giới nghèo và không nghèo. Một xã được đánh giá là nghèo
trên thực tế không phải không có các yếu tố cụ thể nào đó trội hơn xã không
nghèo, ví dụ như trường học, trạm xá, trụ sở xã hoặc hệ thống thuỷ lợi, cũng có
như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương
đương 55.000 đồng).
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tương
đương 70.000 đồng)
+ Thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng).
* Giai đoạn 2001 - 2005 (Quyết định số 1143/2000/QĐ - LĐTBXH):
15
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đ/người/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng: dưới 100.000 đ/người/tháng.
+ Thành thị: dưới 150.000 đ/người/tháng.
* Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg):
+ Thành thị: 260.000 đ/người/tháng.
+ Vùng nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): 200.000 đồng/
người/tháng.
Trước năm 2006, chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn đồng bằng cao
hơn chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn miền núi, mức chênh lệch là 1,25
lần. Khi áp dụng chuẩn nghèo chung cho vùng nông thôn đồng bằng và nông
thôn miền núi điều này sẽ có lợi hơn cho người dân khu vực nông thôn miền
núi. Đây cũng là sự thể hiện quan điểm bình đẳng hơn, toàn diện hơn khi xem
xét xác định chuẩn nghèo.
Khu vực thành thị chuẩn nghèo mới cao gấp 1,73 lần chuẩn nghèo cũ và
tương đương với 2,8 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005.
Khu vực nông thôn đồng bằng chuẩn nghèo mới cao gấp 2 lần chuẩn
nghèo cũ; khu vực nông thôn miền núi chuẩn nghèo mới cao gấp 2,5 lần và
tương đương với 2,2 USD một ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005.
Phương pháp xác định chuẩn nghèo [7]: có 2 phương pháp xác định
chuẩn nghèo.
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu
Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân hàng thế giới (WB) khởi
Giá trị bằng tiền của chi tiêu cho lương thực, thực phẩm là đường
nghèo lương thực, thực phẩm hay còn gọi là chuẩn nghèo thấp.
17
Cũng bằng phương pháp trên, theo Tổng cục Thống kê đã chuyển từ
mức chi tiêu sang mức thu nhập để mọi người dễ hiểu và thuận lợi hơn cho
việc điều tra khảo sát và tính toán tỷ lệ nghèo đói. Những người có thu nhập
thấp hơn chuẩn nghèo chung được xếp vào nhóm người nghèo, còn những ai
có thu nhập thấp hơn mức chi tiêu cho lương thực, thực phẩm (đường nghèo
LTTP) thì được xếp vào nghèo về LTTP.
Một điều đáng lưu ý là khi xác định người nghèo phải gắn chặt với tính
thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình. Tuy vậy tỷ lệ hộ nghèo không
đồng nghĩa với tỷ lệ người nghèo, thông thường trong một quốc gia thì tỷ lệ
người nghèo bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ hộ nghèo.
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập
bình quân đầu người của các hộ gia đình
Phương pháp này cũng rất khoa học và tương đối đơn giản, một số
nước phát triển ở Châu Á và Mỹ đã sử dụng, họ cho rằng người nghèo là
những người có thu nhập không đủ để chi phí cho lương thực, thực phẩm và
các dịch vụ xã hội. Do vậy, người ta xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1/2
thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong cả nước; tuy nhiên
Mỹ và Nhật Bản còn chia cụ thể cho các đối tượng khác nhau, cụ thể chuẩn
nghèo vào năm 2001 ở Mỹ đối với người sống một mình, không có người ăn
theo dưới 65 tuổi là 8,494 USD; đối với gia đình 9 người là 39,223 USD; đối
với gia đình 4 người là 7,940 USD [22].
Tuy nhiên có tài liệu khác do trung tâm phát triển nguồn nhân lực Châu
Á phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu dân số và Nguồn lao động, Bộ
LĐTB&XH cho rằng “theo quan niệm chung của nhiều nước, hộ nghèo có
mức thu nhập thấp dưới 1/3 mức trung bình của xã hội", theo chuẩn này thì
vào năm 1993 cả thế giới có 1,1 tỷ người nghèo [6].
18
quyết vấn đề đói nghèo để vượt qua những trở ngại của sự phát triển nhằm vươn
tới sự phồn thịnh về kinh tế và từng bước đạt tới công bằng xã hội.
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu
trung lại, nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân
cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nguồn lực hạn chế và nghèo nàn
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn
quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực. Người nghèo có khả năng tiếp tục
nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ. Ngược lại,
nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói.
Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất sản xuất.
Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thực của người
nghèo cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các
loại cây trồng với giá trị cao hơn. Đa số người nghèo lựa chọn phương án sản
xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương pháp sản xuất truyền thống, thiếu
cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn. Do vẫn
thực hiện theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và
năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị
trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó.
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các
dịch vụ sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; nhiều
yếu tố đầu vào sản xuất như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân
bón đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị sản phẩm.
Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng. Sự hạn
chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi
mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới Một mặt, do không
có tài sản thế chấp, những người nghèo, phải dựa vào tín chấp với các khoản
20
vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn. Mặt khác, đa số
người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn
thức đầy đủ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng các biện pháp
tránh thai chưa cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh,
an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe
sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế.
Tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực
về lao động rất thiếu, đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng
nghèo đói của họ.
Thứ tư, nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi
ro khác.
Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng
ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng
đồng. Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên
họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất
mùa, mất việc làm, thiên tai, dịch hoạ, mất nguồn lao động, mất sức khỏe ). Với
khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn,
những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ.
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao,
do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn. Khả năng đối
phó và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập
hạn hẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể còn gặp
rủi ro hơn nữa.
Mặt khác, tình trạng số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi
đói nghèo vẫn còn xảy ra, do không ít số hộ đang sống bên ngưỡng đói nghèo và
rất dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro như thiên tai, mất việc làm, ốm đau,
Thứ năm, bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ
nữ và trẻ em.
22
Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các
mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng
do bất bình đẳng thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình.
1.1.2. Mối quan hệ giữa xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế -
xã hội ở nông thôn nước ta
1.1.2.1. Các quan điểm chủ yếu xoá đói, giảm nghèo gắn phát triển
kinh tế - xã hội
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu, phân tích xã hội tư bản để chỉ ra
những quy luật vận động và phát triển của nó, đồng thời đã đề cập một cách
khá toàn diện và sâu sắc tình cảnh nghèo đói và bị bóc lột đến cùng cực của
giai cấp vô sản và những người làm thuê trong chủ nghĩa tư bản. Trong các
tác phẩm của mình, Mác và Ăngghen đã mô tả cặn kẽ, xác thực tình cảnh
nghèo đói của những người vô sản phải bán sức lao động cho chủ tư bản để
kiếm sống. Phụ nữ và trẻ em phải làm việc đến kiệt sức trong các xưởng thợ;
nông dân bị cưỡng đoạt ruộng đất, mất hết tư liệu sản xuất Họ trở thành nạn
nhân của tình trạng bị bóc lột giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư
tuyệt đối của các chủ tư bản trong các thời kỳ tích lũy nguyên thủy và thời kỳ
cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản. Cũng theo Mác và Ăngghen, nguồn
gốc trực tiếp dẫn đến tình trạng nghèo đói ở đây là phương thức phân phối giá
trị thặng dư trong xã hội một cách bất công giữa nhà tư bản và người lao
động, hai ông cũng chỉ ra rằng chỉ có xóa bỏ chế độ tư hữu, bóc lột mới có thể
giải phóng giai cấp vô sản và quần chúng lao động khỏi cảnh nghèo đói lầm
than, làm cho họ trở thành người lao động tư do và làm chủ, tiến tới một xã
hội công bằng, văn minh.
Kế tiếp, V.I.Lênin đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế xã hội gay gắt
trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; qua
24
đó ông nhận thấy nghèo khổ không chỉ trong các nước tư bản mà còn ở trong
các nước thuộc địa, phụ thuộc, các dân tộc bị áp bức. Lênin cho rằng muốn
giải phóng toàn bộ giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị
của chủ nghĩa tư bản phải tiến hành cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp
công nhân lãnh đạo. Sau Cách mạng Tháng mười Nga năm 1917, trong bước