NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH - Pdf 13

PHẦN MỞ ĐẦU
I.Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 10 năm thành lập huyện Gia Bình đã thu được những thắng lợi to
lớn về các mặt như chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội. Mặc dù vậy Gia Bình vẫn là
huyện thuần nông, kinh tế chậm phát triển. Để tránh không bị tụt hậu, chậm phát triển
trong quá trình hội nhập so với các huyện và trong khu vực, không có con đường nào
khác là phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Để thực hiện mục tiêu trên thì nguồn vốn có vai trò quyết định. Trong giai
đoạn hiện nay, vốn có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động của nền kinh tế đặc
biệt trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Đầu tư và tăng trưởng là một cặp phạm
trù kinh tế, nó có mối quan hệ vận động và chuyển hóa. Do đó, để thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay thì huyện cần phải huy động
một lượng vốn lớn từ xã hội.
Qua nghiên cứu thực tế, và với cơ sở kiến thức đã tích luỹ được trong thời
gian qua em nhận thấy vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh
tế ở nước ta nói chung và huyện Gia Bình nói riêng. Cũng như xuất phát từ tính cấp
thiết của vấn đề này, em chọn đề tài “NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU
TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC
NINH”.
II. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài về vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh
tế - xã hội huyện nhằm:
- Phân tích thực trạng huy động các nguồn vốn trên địa bàn huyện.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trên địa bàn huyện.
- Phân tích những kết quả đã đạt được và những vấn đề hạn chế cần khắc
phục.
- Đưa ra nguyên nhân của những hạn chế trong huy động và sử dụng vốn.
- Đề xuất một số giải pháp khắc phục những hạn chế trên.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nội dung của chuyên đề đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng khả năng

I.Tổng quan về vốn đầu tư
1. Khái niệm
Ở giác độ vĩ mô, vốn sản xuất luôn được biểu hiện dưới dạng hiện vật, phản
ánh năng lực sản xuất của một nền kinh tế. Trong nền kinh tế của một nước để có thể
tạo ra được những tài sản vật chất cụ thể, nhất thiết phải sử dụng vốn đầu tư thông
qua hoạt động đầu tư. Theo chức năng vốn đầu tư được chia làm hai loại: Vốn đầu tư
sản xuất và vốn đầu tư phi sản xuất.
Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng
mức vốn sản xuất - giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực tiếp
phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ bao gồm vốn đầu tư vào tài sản cố định và
vốn đầu tư vào tài sản lưu động. Vốn đầu tư tham gia vào quá trình sản xuất thông
qua hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư (
1
): Là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản
xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói một cách khác đó là quá trình thực
hiện tái sản xuất các loại tài sản sản xuất. Hoạt động đầu tư là hết sức cần thiết xuất
phát từ 3 lý do:
Thứ nhất: Do đặc điểm của việc sử dụng tài sản cố định tham gia nhiều lần
vào quá trình sản xuất, giá trị bị giảm dần và chuyển dần từng phần vào trong giá trị
sản phẩm. Trái lại, đối với tài sản lưu động lại tham gia một lần vào quá trình sản
xuất và chuyển toàn bộ giá trị vào trong giá trị sản phẩm. Vì vậy, phải tiến hành đầu
tư để bù đắp giá trị tài sản cố định bị hao mòn và duy trì dự trữ nguyên vất liệu cho
quá trình sản xuất tiếp theo. Nói cách khác, đầu tư nhằm thực hiện tái sản xuất giản
đơn tài sản sản xuất.
Thứ hai: Nhu cầu quy mô sản xuất xã hội ngày càng mở rộng đòi hỏi phải
tiến hành đầu tư nhằm tăng thêm tài sản cố định mới và tăng thêm dự trữ tài sản lưu
động tức là thực hiện tái sản xuất mở rộng tài sản sản xuất.
1
( ( ) Giáo trình kinh tế phát triển, nhà xuất bản lao động - xã hội, 2005.

tác phẩm nổi tiếng: “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (The
General Theory of Employment, Interest, and Money) của nhà kinh tế học nổi tiếng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
người Anh John Maynard Keynes (1883 – 1946). Ông cho rằng đầu tư chính là phần
thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm
chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng. Điều này có nghĩa là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
Như vậy:
Đầu tư = Tiết kiệm
Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính chất
song phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và một bên là người tiêu
dùng. Thu nhập chính là chênh lệch giữa tổng doanh thu cung cấp dịch vụ, bán hàng
với tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm phải được bán ra cho người tiêu dùng hoặc
các nhà sản xuất khác. Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng
lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với
tiêu dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản
xuất mà người ta gọi là đầu tư
Tuy nhiên điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải
bao giờ cũng được thiết lập. Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu
tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu
tư. Ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền
kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Trong trường hợp này, mức chênh
lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lãi.
CA = S – I
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Trong nền kinh tế mở nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích lũy của nền kinh tế
dẫn đến tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài.
Khi đó, đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những nguốn vốn

Thu ngân sách Nhà nước: Thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước
huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Về mặt bản
chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh
trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ
tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình.
2
( ( ) http://vi.wikipedia.org
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chi ngân sách Nhà nước: Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử
dụng quỹ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ. Thực
chất của nó là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của chính
phủ.
1.1.2 Phạm vi thu và nhiệm vụ chi của Ngân sách Nhà nước (
3
)
 Phạm vi thu của Ngân sách Nhà nước
Thu Ngân sách nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá
trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã
hội dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước (quỹ
NSNN) để đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Dựa vào nội dung kinh tế
và tính chất các khoản thu có thể chia thu ngân sách thành hai nhóm:
Nhóm 1, thu trong cân đối ngân sách: Gồm các khoản thu mang tính chất
thuế (thuế, phí và lệ phí) và thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước
+ Khoản thu mang tính chất thuế (thuế, phí và lệ phí): Là các khoản thu
mang tính chất bắt buộc do nhà nước quy định. Trong đó thu từ thuế chiếm tỷ trọng
cao trong tổng thu NSNN.
+ Thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước: Nhà nước tham gia các hoạt
động kinh tế bằng việc đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức góp vốn
vào các doanh nghiệp, công ty liên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần. Khi
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mang lại lợi nhuận thì lợi tức thu

địa phương; Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội – nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật; Thực hiện các
chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý; Chương trình quốc
gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý; Trợ giá theo chính sách của Nhà
nước; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
1.2. Vốn ngân sách địa phương (
4
)
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tức là ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp
huyện và ngân sách cấp xã.
Thu ngân sách địa phương bao gồm: Các khoản thu ngân sách địa phương
được hưởng 100%; Các khoản thu phân theo tỷ lệ (%) giữa ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương.
4
( ( ) Luật NSNN số 01/2002/QH11, http://www.chinhphu.vn
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+ Các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100% gồm có: Các
khoản thu từ thuế (thuế nhà, đất; thuế tài nguyên; thuế môn bài; thuế sử dụng đất
nông nghiệp; thuế chuyển quyền sử dụng đất), Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt
nộp vào ngân sách địa phương, các khoản tiền (tiền sử dụng đất, cho thuê đất, cho
thuê và tiền bán nhà thuộc sở hữu nhà nước), các khoản đóng góp của các tổ chức và
cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của Pháp luật.
+ Các khoản thu chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương: Thu bổ sung từ ngân sách trung ương; Thu từ huy động đầu tư
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng.
Chi ngân sách địa phương gồm có: Chi đầu từ phát triển và chi thường
xuyên chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư; chi bổ sung quỹ dự
trữ tài chính của cấp tỉnh và chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
+ Chi đầu tư phát triển:Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh

Lợi nhuận để lại công ty cùng với quỹ khấu hao trở thành nguồn vốn đầu tư
Pr của công ty.
Se = Dp +Pr để lại
Dp: Khấu hao
T
de
: Thuế thu nhập doanh nghiệp
3. Tiết kiệm của hộ gia đình
Tiết kiệm của hộ gia đình phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia
đình. Thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập có thể sử dụng và các khoản thu
nhập khác. Các khoản thu nhập khác có thể từ rất nhiều nguồn như được viện trợ,
thừa kế, bán tài sản, trúng vé xổ số, thậm chí là các khoản đi vay…
Trong đó, chi tiêu của hộ gia đình gồm:
+ Các khoản chi mua hàng hóa dịch vụ: chi mua lương thực, thực phẩm,
quần áo, phương tiện đi lại và các hàng hóa tiêu dùng lâu bền khác... ; chi cho hoạt
động dịch vụ là chi cho dulịch, chi cho các hoạt động văn hóa, thểdục, thể thao...
+Chi trả lãi suất các khoản tiền vay
Khác với các khoản chi từ ngân sách, tất cả các khoản chi tiêu của hộ gia
đình đều được coi là yếu tố cấu thành GDP.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
III. Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế - xã hội
Vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của
các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa
học – công nghệ, góp phần đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều
sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất. Ngoài ra, việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần
vào việc giải quyết các vấn đề xã hội thông qua sử dụng hệ thống thuế hiệu quả; tạo
công ăn, việc làm cho người lao động qua hoạt động đầu tư mở rộng quy mô sản
xuất, xóa đói giảm nghèo nâng cao mức sống của người dân góp phần nâng cao chất
lượng tăng trưởng.

trưởng kinh tế.
2. Vai trò của vốn với tăng trưởng kinh tế
2.1 Mô hình Harrod – Domar (
6
)
Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 với sự nghiên cứu một
cách độc lập, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã
cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các
nước phát triển. Mô hình này được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển để
xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn. Nội dung của mô hình
đề cập đến đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành hay
toàn bộ nên kinh tế sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho đơn vị đó.
Nếu gọi đầu ra là Y và tốc độ tăng trưởng của đầu ra là g, có nghía là:
Y
Y
g

=
Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong GDP sẽ là:

Yt
St
s
=

Vì tiết kiệm là nguồn của đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết
kiệm (S
t
= I
t

Yt
It
YtIt
YIt
Yt
Y

÷=
×
∆×
=

Do đó chúng ta có:
k
s
g =
Hệ số ICOR nói lên rằng, vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dưới dạng
nhà máy, trang thiết bị là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, các khoản tiết kiệm của dân
cư và các công ty chính là nguồn gốc cơ bản của vốn đầu tư.
2.2 Tác động của vốn với tăng trưởng kinh tế (
7
)
Tuy hai nhà kinh tế học Roy Harrod và Evsay Domar cùng đưa ra mô hình
giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và các nhu cầu về vốn nhưng cách giải
thích tác động của vốn tới tăng trưởng lại khác nhau. Theo quan điểm của Harrod thì
đầu tư tác động đến tăng trưởng ở khía cạnh tổng cầu còn Domar cho rằng đầu tư tác
động đến tổng cung.
2.2.1 Vốn tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến tổng cầu
làm dịch chuyển đường tổng cầu.
Tổng cầu của nền kinh tế (AD) gồm:

1
, thiết lập điểm cân bằng mới tại E. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc làm
cho mức sản lượng tăng từ Y
0
đến Y
1
và mức giá tăng từ P
0
đến P
1
.
2.2.2 Vốn tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến tổng cung
làm đường tổng cung dịch chuyển.
Theo quan điểm của nhà kinh tế học Evsay Domar, đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn
sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy, thiết bị, phương tiện vận tải mới được đưa
vào sản xuất, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế. Sự thay đổi này tác động
đến tổng cung làm dịch chuyển tổng cung từ AS
0
đến AS
1
và mức sản lượng tăng từ
Y
0
đến Y
1
, mức giá giảm từ P
0
tới P
1
.

xuống P
1
.
3. Vai trò của vốn với phát triển xã hội
Một xã hội muốn tồn tại và phát triển cần phải đầu tư mở rộng sản xuất, tạo
ra giá trị gia tăng, đầu tư đó được biểu hiện dưới dạng tiền gọi là vốn đầu tư.
Xét về phương diện toàn xã hội thì vốn đầu tư còn bao gồm: Giá trị nhân lực, tài lực
được bỏ thêm vào cho hoạt động của toàn xã hội.
Hệ quả của các hoạt động đầu tư đều đưa tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế,
nhưng tác động đến tăng trưởng kinh tế ở mỗi lĩnh vực lại không giống nhau. Đầu tư
vào lĩnh vực kinh tế cho thấy hiệu quả đầu tư nhanh và rõ ràng hơn so với hoạt động
đầu tư vào lĩnh vực xã hội. Đầu tư trong lĩnh vực xã hội là hoạt động đầu tư cho sức
khoẻ con người, phát triển trí tuệ, văn hoá xã hội và các hoạt động đầu từ khác như:
Đầu tư cho bộ máy quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, quan hệ quốc tế... Các
hoạt động đầu tư này có tác động không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế, phát triển xã
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
AS
AS
AD
E
E
P
P
Y Y
Y
P
hội, dù gián tiếp qua nguồn nhân lực và các nhân tố về môi trường đầu tư; hơn nữa
tác động của đầu tư ở các lĩnh vực này mang tính chiến lược, bởi vậy hiệu quả phải
sau thời gian dài, thậm chí 10 năm hoặc 20 năm sau mới thể hiện rõ trên các con số.
Trên thực tế, mỗi năm có một bộ phận vốn khá lớn trong tổng vốn đầu tư

8
( ( ) www.gso.gov.vn
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong đó:
∆K mức thay đổi vốn sản xuất
(∆K = K
t
– K
t-1
)
∆Y là mức thay đổi về kết quả sản xuất và ∆Y = Y
t
– Y
t-1
, ở đây t chỉ năm
nghiên cứu và t - 1 chỉ năm trước năm nghiên cứu.
* Ý nghĩa của hệ số ICOR
Ý nghĩa của k là để tạo thêm được một đơn vị kết quả sản xuất thì cần tăng
thêm bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất. Hay nói cách khác, k là “giá” phải trả thêm cho
việc tạo thêm một đơn vị kết quả sản xuất. Hệ số ICOR càng lớn chứng tỏ chi phí cho
kết quả tăng trưởng càng cao nó phụ thuộc vào mức độ khan hiếm nguồn dự trữ và
tính chất của công nghệ sản xuất; ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở
các nước đang phát triển và ở mỗi nước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên
tức là khi kinh tế càng phát triển thì để tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất cần
nhiều hơn về nguồn lực sản xuất nói chung và nhân tố vốn nói riêng và khi đó đường
sản lượng thực tế gần tiệm cận với đường sản lượng tiềm năng.
 Ưu nhược điểm
* Ưu điểm
- Công thức tính toán đơn giản.
- ICOR là chỉ số quan trọng để dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc dự

trưởng kinh tế mà thực chất gián tiếp tác động tới tăng trưởng thông qua việc nâng
cao mức sống, sức khỏe, giáo dục...cho người dân.
2.1 Giáo dục
Đầu tư vào lĩnh vực giáo dục là hoạt động đầu tư nhằm nâng cao trí lực của
người lao động. Như đã biết, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta còn phụ thuộc
nhiều vào tăng vốn đầu tư và lao động, chứ chưa phải từ tăng chất lượng, năng suất
lao động và hàm lượng trí tuệ trong hoạt động kinh tế. Do đó thông qua hoạt động
giáo dục ta có thể dự báo một phần tốc độ tăng trưởng trong tương lai.
2.2 Y tế
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đầu tư cho hoạt động y tế là hoạt động đầu tư đảm bảo sức khỏe cho người
dân. Hoạt động này giúp nâng cao chất lượng lao động về mặt sinh lực góp phần
nâng cao chất lượng lao động từ đó nâng cao chất lượng cho sự tăng trưởng. Do đó
thông qua hoạt động y tế ta có thể đánh giá được chất lượng tăng trưởng kinh tế ở
mức nào.
2.3 Văn hóa
Thông qua tiêu chí đánh giá trong lĩnh vực văn hóa cho biết hoạt động đầu
tư có tác động nhanh hay chậm đến mức sống của người dân. Đồng thời trên cơ sở đó
xem xét tính hợp lý và hiệu quả của hoạt động đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội.
2.4 Tỷ lệ hộ nghèo
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội là vấn đề luôn
được nhà nước đề cập đến trong phương hướng phát triển kinh tế. Mỗi năm Nhà
nước đầu tư một lượng vốn không nhỏ vào các chương trình, dự án xoá đói giảm
nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm thể hiện tích lũy trong xã hội tăng lên trong khu vực dân
cư.
2.5 Lao động được giải quyết việc làm
Người lao động không có việc làm dẫn đến nhu cầu xã hội giảm do việc hạn
chế chi tiêu khi không có thu nhập. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cũng như cơ hội kinh
doanh ít, chất lượng sản phẩm và giá cả giảm sút. Do đó, giải quyết việc làm cho lao

hanh kéo dài từ 15 đến 25 ngày, nhiều diện tích canh tác, ao, hồ bị khô cạn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Nhiệt độ trung bình năm 23,4°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là
28,9°C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8°C (tháng 1), sự chênh
lệch giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1°C.
Hàng năm có hai mùa gió chính: Gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam.
Gió mùa đông bắc bắt đầu từ tháng 10 năm trước kết thúc vào tháng 3 năm sau, gió
mùa đông nam từ tháng 4 đến tháng 9 trong năm mang theo hơi ẩm gây mưa rào.
1.1.4 Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra cho thấy đất đai huyện Gia Bình chủ yếu được hình
thành từ quá trình bồi tụ các sản phẩm phù sa của hệ thống Sông Hồng. Tổng diện tích
đất tự nhiên 10779,81 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 51,57%, đất lâm
nghiệp chiếm 0,39 %, đất chuyên dùng và đất ở chiếm 38,32%, đất nuôi trồng thủy sản
chiếm 8, 28%, đất chưa sử dụng 1,42 % và đất nông nghiệp khác chiếm 0,02%.
1.1.5 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt
Nguồn nước mặt chủ yếu của huyện là nguồn nước từ sông Đuống, con sông
chảy qua khu vực phía Bắc của huyện. Tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m3 và
hàm lượng phù sa rất cao. Vào mùa mưa trung bình cứ 1m3 nước có 2,8 kg phù sa,
lượng phù sa khá lớn này đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình hình thành
đồng bằng, phù sa màu mỡ các khu vực ven sông của huyện. Ngoài sông Đuống nơi
cung cấp nước tưới cho phần lớn diện tích ruộng trong toàn huyện còn có sông Ngụ,
sông Lục Đầu Giang, kênh mương cùng với số lượng ao, hồ dày đặc tạo điều kiện
thuận lợi cung cấp nước tưới cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Nguồn nước ngầm
Nguồn nước ngầm tuy chưa được khảo sát và tính toán cụ thể nhưng qua
thực tế sử dụng của dân trong toàn huyện cho thấy: Nguồn nước có độ sâu từ 15m -
20m có chất lượng tốt, đảm bảo sức khỏe cho người dân.
1.1.6 Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng của huyện Gia Bình không lớn, chủ yếu là rừng trồng.

người tăng 1 949 người, chiếm 10,6% dân số toàn tỉnh; năm 2009 là 103 794 người
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
giảm 314 người. Tốc độ tăng dân số tự nhiên tăng từ 9,30
00
0
(năm 2006) lên 9,40
00
0
(năm 2008). Tốc độ gia tăng dân số không cao; tỷ lệ tăng biến động cơ học giảm
vì những năm gần đây do nhu cầu về việc làm, người lao động đi tìm việc ở các khu
công nghiệp, cụm công nghiệp ngoài huyện ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng lượng
người ra khỏi huyện nhiều hơn lượng người về huyện. Cơ cấu dân số theo giới tính
tương đối ổn định, tỷ lệ dân số nữ so với dân số toàn huyện năm 2006 là 52,30 %;
năm 2008 là 51,6% và năm 2009 chiếm khoảng 52%. Do tỷ xuất sinh giảm, tuổi thọ
bình quân tăng, cơ cấu dân số theo độ tuổi đang có xu hướng già hóa, tỷ lệ trẻ em
ngày càng giảm, tỷ lệ người trong tuổi lao động ngày càng tăng.
1.2.2 Nguồn nhân lực
Trong 5 năm 2006 – 2010, lao động trong độ tuổi tăng 1.800 người. Số
người trong độ tuổi lao động tập trung chủ yếu ở nông nghiệp, nông thôn. Nguồn lao
động dồi dào nhưng trình độ tay nghề còn khiêm tốn, chất lượng lao động chưa cao.
Số lượng cụ thể được thể hiện trong bản dưới đây:
Bảng 2: Tình hình dân số, lao động giai đoạn 2006 - 2010
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Năm
2006
Năm
2007
Năm

1.3.2 Lợi thế so sánh về nguồn nhân lực
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động so với tổng dân số
trung bình tăng dần qua các năm. Năm 2006 tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động so với dân số trung bình của huyện chiếm 58,8% , năm 2008
chiếm 59,8%, năm 2009 chiếm 61,5% và dự báo năm 2010 chiếm 61%. Nguồn nhân
lực của huyện có ưu điểm: Cần cù, sáng tạo trong lao động, có ý thức cộng đồng sâu
sắc, luôn kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông để xây dựng và bảo vệ
quê hương, đất nước. Lợi thế về nguồn nhân lực giúp huyện phát triển các ngành tiểu
thủ công nghiệp sử dụng nhiều lao động, ít vốn đem lại hiệu quả kinh tế cao.
1.3.3 Lợi thế so sánh do có các làng nghề truyền thống phát triển
Phát huy thế mạnh, sản xuất các mặt hàng truyền thống như: Đúc đồng,
nhôm, mây tre đan, thêu ren, chế biến nông sản thực phẩm... Huyện đã có một số mô
hình kinh tế làm ăn có hiệu quả, là tiền đề để nhân rộng và phát triển như: Đúc đồng,
đúc nhôm, chăn nuôi trang trại, hàng thủ công mỹ nghệ, mây tre đan…Đặc biệt là
làng nghề đúc đồng, đúc nhôm ở Đại Bái, làng nghề mây tre đan ở Xuân lai.
Cụ thể, theo nghệ nhân Nguyễn Văn Lục ở làng nghề Đại Bái, người được
phong tặng danh hiệu "Bàn tay vàng", bộc bạch: “Mặc dù kinh tế có suy giảm nhưng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
làng nghề chúng tôi vẫn làm không hết việc. Ngoài các sản phẩm đúc đồng truyền
thống như: tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, lọ hoa, tranh, câu đối... chúng tôi còn
gia công chi tiết các sản phẩm như cầu dao, ổ cắm điện cho các nhà máy ngành điện.
Thu nhập bình quân của người lao động từ 1,2 đến 1,5 triệu đồng/tháng, thợ kỹ thuật
từ 1,8 đến 2,4 triệu đồng/ tháng…”
1.3.4 Thị trường tiêu thụ lớn
Nhu cầu của thị trường ở thủ đô Hà Nội, TP Hải Dương, TP Bắc Ninh, các
khu đô thị, khu công nghiệp của tỉnh là rất lớn tạo động lực cho nhà đầu tư tái sản
xuất trong kinh doanh. Ngoài ra, theo đà tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyện mức
sống của người dân được nâng cao, điều đó hứa hẹn về một thị trường phát triển có
nhu cầu cao trong tương lai.
1.3.5 Có điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp công nghệ cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status