1
Luận văn
Dịch vụ bưu chính, viễn
thông với phát triển kinh tế -
xã hội ở Nghệ An 2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của sản xuất và đời sống, bên cạnh những sản
phẩm hữu hình, các nhu cầu về dịch vụ của xã hội cũng không ngừng tăng
lên. Sự phát triển của dịch vụ không những có vai trò thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội, mà còn trở thành một trong những tiêu chí đánh giá trình độ phát
triển của nền kinh tế.
Cùng với các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ bưu chính viễn thông với
tư cách là một loại hình dịch vụ đặc thù trong nền kinh tế đã và đang có
những đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Kể từ khi đổi mới, ngành Bưu chính, viễn thông ở Nghệ An đã có những bước
phát triển nhất định, trở thành nhân tố thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
và không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Để phục vụ đẩy đủ việc đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH trên địa bàn
tỉnh Nghệ An trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Bưu chính, viễn
thông ở Nghệ An cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và phát triển. Tuy nhiên,
những bất cập về cơ chế chính sách, về các nguồn lực như vốn, nhân lực đã
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ bưu
chính viễn thông, phân tích đánh giá thực trạng dịch vụ bưu chính viễn thông
ở tỉnh Nghệ An và tác động của nó đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh,
từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt
động của loại hình dịch vụ này góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội trên địa bàn tỉnh.
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nói trên, nhiệm vụ của luận văn tập trung vào
những nội dung sau: 4
- Làm rõ các vấn đề lý luận chủ yếu về dịch vụ bưu chính viễn thông
đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và ở tỉnh Nghệ An nói riêng.
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ bưu chính viễn thông một
số địa phương để rút ra bài học cho tỉnh Nghệ An .
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ bưu chính viễn thông
ở Nghệ An tời gian qua, tác động của loại hình dịch vụ này đối với phát triển
kinh tế xã hội ở Nghệ An thời gian qua, tìm ra những thành công, hạn chế
cùng các nguyên nhân của hạn chế.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy sự phát triển
dịch vụ bưu chính viễn thông phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Nghệ
An đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu về dịch vụ bưu chính
viễn thông với tư cách là một loại hình dịch vụ và những yếu tố kinh tế - xã
hội có liên quan trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ DỊCH VỤ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ BƯU CHÍNH
VIỄN THÔNG
1.1.1. Khái niệm dịch vụ bưu chính viễn thông
1.1.1.1. Quan điểm chung về dịch vụ
Dịch vụ là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu kinh tế.
Tuy nhiên, nội hàm của dịch vụ được hiểu với những nghĩa còn khác nhau.
Trong Bách khoa toàn thư xô viết lớn, dịch vụ được hiểu, thứ nhất, là hình
thái của lao động phi sản xuất, là quan hệ kinh tế-xã hội thể hiện sự tiêu dùng
thu nhập, thứ hai, là hoạt động có mục đích nhất định tồn tại dưới hình thái
hiệu quả có ích của lao động [40]. Đây là quan niệm phổ biến của thời kỳ
kinh tế hiện vật, phủ nhận kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội, từ đó, đã
gây cản trở cho sự phát triển của các ngành dịch vụ.
Những quan điểm gần đây đã khắc phục được tính phiến diện của quan
niệm kể trên. Trong Từ điển kinh tế Megabook.ru, dịch vụ được hiểu là công
việc được thực hiện theo đơn đặt hàng nhưng không tạo ra sản phẩm có hình
thái độc lập mới [41]. Trong Từ điển thuật ngữ kinh tế, dịch vụ là những
dạng hoạt động, công việc, mà trong quá trình thực hiện chúng không tạo ra
sản phẩm vật chất có hình thái vật thể mới, nhưng làm cho sản phẩm hiện có
đã được tạo ra thay đổi về chất. Đó là của cải được cung cấp không phải dưới
dịch vụ không thể tích luỹ, để dành. Sản phẩm hiệu vật có thể tách rời sản xuất
với tiêu dùng, có thể tích trữ trong kho, nhưng dịch vụ thì thường sản xuất đến
đâu tiêu dùng đến đấy, không tiêu dùng sẽ bỏ phí vì dịch vụ không thể tích trữ,
để dành. Ví dụ, khi xe chở khách, người lái xe tạo ra sự di chuyển đến đâu thì
hành khách hưởng thụ đến đó. Nếu xe có 4 chỗ mà chỉ có một người ngồi thì
ba chỗ còn lại sẽ bị bỏ phí, không thể để dành cho lần sau được. 8
Thứ ba, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp xúc trực
tiếp hay sự tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và người được thụ hưởng
dịch vụ. Sản phẩm hiện vật có thể đánh giá thông qua các tiêu chuẩn cụ thể về
chất lượng mà không cần có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người sản xuất và
người tiêu dùng. Còn chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào sự giao tiếp,
thái độ và năng lực đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, đem lại sự hài
lòng và thiện cảm của khách hàng đối với người phục vụ.
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình dịch vụ cũng trở thành
hàng hoá. Bên cạnh những hàng hoá hiện vật, trên thị trường còn có những
hàng hóa vô hình hay dịch vụ, như dịch vụ của bác sĩ, giáo viên, luật sư, v.v.
Giá trị sử dụng của dịch vụ là cũng đáp ứng một nhu cầu nào đó của người
mua. Để tạo ra dịch vụ cũng cần tới những chi phí lao động nhất định. Những
người làm dịch vụ cũng cần nhận được thu nhập bằng tiền từ hoạt động dịch
vụ của mình, đồng những người được thụ hưởng dịch vụ cũng phải chi tiền
để được hưởng thụ những dịch vụ đó. Việc mua những dịch vụ hoàn toàn
không khác gì chi tiền mua bất cứ loại hàng hóa nào khác, vì vậy, dịch vụ
cũng có giá trị trao đổi. Căn cứ chủ yếu để xác định giá cả thị trường của
dịch vụ là chi phí sản xuất ra chúng.
Khi lực lượng sản xuất còn chưa phát triển, các sản phẩm mang hình
thái vật thể như nông sản, sản phẩm của các ngành công nghiệp… có vai trò
nền tảng trực tiếp của đời sống xã hội, vì vậy việc sản xuất ra chúng là quan
những hàng hoá được mua bán trao đổi trên thị trường. Dịch vụ vừa là
nguyên nhân, vừa là kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Xã hội phát triển càng cao thì lĩnh vực sản xuất dịch vụ có xu hướng phát
triển ngày càng tăng. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nhất là nền
kinh tế tri thức, trong GDP và cơ cấu lao động xã hội, cơ cấu kinh tế quốc
dân, dịch vụ là một bộ phận hàng hóa vô hình ngày càng chiếm tỷ trọng
cao. Dịch vụ là nguồn của cải vô tận, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. 10
1.1.1.2. Khái niệm và loại hình dịch vụ bưu chính, viễn thông
Khái niệm về dịch vụ bưu chính viễn thông
Dịch vụ bưu chính viễn thông bao gồm các dịch vụ bưu chính và dịch
vụ viễn thông. Bưu chính là bộ phận ngành bưu điện phụ trách việc chuyển
thư từ, báo chí, tiền bạc, bưu kiện. Dịch vụ bưu chính ban đầu là dịch vụ tải
nội dung thông tin thông qua các phương tiện như bì thư, ấn phẩm. Theo sự
phát triển của ngành bưu chính, dịch vụ bưu chính ngày càng được mở rộng
ra bao gồm cả các dịch vụ chuyển bưu phẩm, bưu kiện hàng hoá thông qua
các phương tiện vận chuyển bằng sức người, động vật và máy móc khác…
Viễn thông là nói về sự liên lạc với những nơi rất xa. Viễn thông (trong
các ngôn ngữ Châu Âu xuất phát từ tele của tiếng Hy Lạp có nghĩa là xa và
communicare của tiếng La tinh có nghĩa là thông báo) miêu tả một cách tổng
quát tất cả các hình thức trao đổi thông tin qua một khoảng cách nhất định mà
không phải chuyên chở những thông tin này đi một cách cụ thể (thí dụ như
thư). Các tín hiệu nhìn thấy được đã được sử dụng trong thế kỷ 18 như hệ
thống biểu hiện các chữ cái bằng cách đặt tay hay 2 lá cờ theo một vị trí nhất
định (semaphore), hay máy quang báo (heliograph) là một dụng cụ truyền tin
bằng cách phản chiếu ánh sáng mặt trời.
Theo nghĩa hẹp hơn, ngày nay viễn thông được hiểu như là cách thức
kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư thực hiện) bưu thiếp, gói nhỏ, gói án
phẩm, học phẩm dùng cho người mù được gửi qua mạng bưu chính công cộng.
Bưu kiện bao gồm vật phẩm hàng hoá được đóng góoics khối lượng không quá
năm mươi kilôgam (50 kg) được gửi qua mạng bưu chính công cộng.
Dịch vụ bưu chính cộng thêm là dịch vụ được cung cấp thêm vào dịch
vụ bưu chính cơ bản để đáp ứng yêu cầu cao hơn về chất lượng của người sử
dụng. Cơ quan quản lý nhà nước về bưu chính viễn thông quy định và công
bố danh mục cụ thể các dịch vụ bưu chính quy định tại điều này.
Dịch vụ bưu chính công ích bao gồm dịch vụ bưu chính phổ cập, dịch
vụ dịch vụ bưu chính bắt buộc. Dịch vụ bưu chính công ích được cung cấp 12
đến mọi người dân theo các điều kiện về khối lượng, chất lượng và giá cước
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Dịch vụ bưu chính bắt buộc là
dịch vụ bưu chính được cung cấp theo yêu cầu của Nhà nước nhằm phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Căn cứ vào yêu
cầu của Nhà nước, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và bưu chính trong
từng thời kỳ, cơ quan quản lý nhà nước về bưu chính viễn thông quy định cụ
thể việc cung cấp dịch vụ bưu chính công ích. Nhà nước có chính sách hỗ trợ
việc cung cấp dịch vụ bưu chính công ích thông qua dịch vụ bưu chính dành
riêng và các cơ chế hỗ trợ tài chính khác.
Dịch vụ chuyển phát thư là dịch vụ nhận gửi, chuyển, phát thông tin
dưới dạng văn bản được đóng gói, dán kín, có khối lượng đơn chiếc không
quá hai kilôgam (02 kg) và gửi tới một địa chỉ cụ thể thông qua mạng bưu
chính hoặc mạng chuyển phát.
Các loại hình dịch vụ bưu chính ngày nay được thược hiện thông qua
hoạt động của các mạng bưu chính như mạng bưu chính công cộng, mạng bưu
chính chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân
dân, mạng chuyển phát. Mạng bưu chính công cộng được xây dựng, quản lý
hình, truyền ảnh, âm thanh; Dịch vụ truyền báo điện tử; Dịch vụ điện thoại di
động; Dịch vụ nhắn tin.
Hai là, những dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng: Dịch vụ viễn thông
giá trị gia tăng là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng
dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả
năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc
Internet. Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng gồm: Dịch vụ thư điện tử; Dịch
vụ hộp thư thoại; Dịch vụ lưu trữ, cung cấp thông tin; Các dịch vụ Internet:
thư tín điện tử, truyền tệp dữ liệu, truy nhập từ xa, truy nhập các cơ sở dữ liệu
theo các phương thức khác nhau.
Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức,
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với 14
Internet quốc tế. Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử
dụng khả năng truy nhập Internet. Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính
viễn thông là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính viễn
thông cho người sử dụng. Dịch vụ ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh
tế - xã hội khác phải tuân theo các quy định pháp luật về bưu chính viễn thông
và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Việc phân loại các loại hình dịch vụ viễn thông như đã nêu ở trên chỉ
nhằm mục đích gắn kết việc quản lý dịch vụ với quản lý về kỹ thuật và nghiệp
vụ đối với từng loại dịch vụ đó. Trong điều kiện hội tụ công nghệ và dịch vụ
viễn thông như hiện nay cùng với việc xuất hiện của các công nghệ đa
phương tiện (multimedia) thì cách phân loại nói trên đã trở nên không còn
phù hợp nữa. Đặc biệt là cũng không phù hợp với lộ trình mở cửa thị trường
viễn thông trong thời gian sắp tới của đất nước, khi mà sẽ có nhiều thành phần
kinh tế tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông, sẽ dẫn đến việc
không phân định rõ doanh nghiệp loại nào thì được cung cấp dịch vụ gì, mức
niệm hữu hình cho các dịch vụ của họ.
Nói chung, khách hàng khó đánh giá giá trị của bất cứ dịch vụ nào.
Khách hàng không thể hình dung các dịch vụ bưu chính viễn thông họ sử
dụng được tạo ra như thế nào hay chi phí của dịch vụ là bao nhiêu.
1.1.2.2. Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ bưu chính viễn
thông là không chia tách được
Quy trình sản xuất của dịch vụ bưu chính viễn thông không được gián
đoạn, phải đảm bảo tính toàn trình, toàn mạng, không thể phân cắt. Quá trình
sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra cùng một lúc. Khi một khách hàng nhấc
ống nghe liên lạc được với người cần gặp ở đầu máy bên kia là dịch vụ bắt
đầu thực hiện được cuộc gọi, và anh ta bắt đầu phải trả tiền. Hoặc khi bắt đầu
gửi thư, gửi hàng hoá thì cũng bắt đầu thực hiện quá trình vận chuyển thư,
hàng hoá, và người gửi cũng đã phải trả cước chuyển thư, chuyển hàng hoá
bưu phẩm, bưu kiện trước đó. Nghĩa là song song với quá trình hoạt động của
cả hệ thống thông tin, hệ thống bưu chính là đồng thời với cả quá trình người 16
tiêu dùng dịch vụ bưu chính viễn thông, cũng đồng thời với quá trình tính tiền
cước các cuộc gọi, cước vận chuyển hàng hoá, tiền tệ… bằng giá cả thời gian,
trọng lượng và giá trị.
Quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc. Ngược lại, đối
với dịch vụ bưu chính viễn thông, nếu không có tiêu dùng dịch vụ thì hệ
thống dịch vụ cũng không hoạt động. Trên thực tế hệ thống dịch vụ bưu
chính viễn thông ở từng công đoạn, từng thời gian hoạt động có sự gián đoạn,
nhưng trong cả hệ thống dịch vụ thì luôn luôn hoạt động 24/24 giờ trong
ngày. Vì vậy nếu khách hàng không sử dụng hết công suất phục vụ thì cũng
xẩy ra sự lãng phí trong cả hệ thống. Đây cũng là bài toán kinh tế cho các địa
phương, doanh nghiệp và chính phủ trong xây dựng qui hoạch phát triển, điều
máy nào cũng bận thì họ có thể sẽ không thực hiện cuộc gọi đó nữa.
Tóm lại, dịch vụ bưu chính viễn thông là sản phẩm vô hình vì các dịch
vụ không thể sờ mó hoặc sử dụng trước khi mua. Dịch vụ bưu chính viễn
thông không chia tách được vì quá trình sản xuất và tiêu dùng của dịch vụ
diễn ra cùng một lúc. Dịch vụ bưu chính viễn thông có tính không ổn định vì
chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của nhà
cung cấp. Dịch vụ viễn thông không thể dự trữ, cất vào kho được, thời lượng
dịch vụ không bán được cũng có nghĩa là bị lãng phí. Những đặc điểm nêu
trên có ảnh hưởng lớn tới hoạt động đầu tư vào ngành bưu chính viễn thông.
1.1.3. Vai trò của dịch vụ bưu chính viễn thông đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, dịch vụ bưu chính viễn thông đáp ứng nhu cầu cần thiết về
trao đổi, thu nhận thông tin giữa các chủ thể trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh, quản lý xã hội và đời sống sinh hoạt của con người
Dịch vụ bưu chính viễn thông là công cụ thông tin hiệu quả nhất, nhanh
nhạy nhất với yêu cầu nhanh chóng, chính xác, an toàn, thuận tiện cho mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an
ninh quốc phòng, là yếu tố nhạy cảm có liên quan đến vấn đề chính trị xã hội,
kinh tế, quân sự và an ninh quốc gia, là những công cụ quản lý quan trọng của 18
hệ thống chính trị. Các nước ở giai đoạn đầu phát triển đều coi bưu chính viễn
thông là lĩnh vực độc quyền đạt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước.
Thứ hai, dịch vụ bưu chính viễn thông là nhân tố đặc biệt quan trọng
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Sản xuất ngày càng mang tính xã hội hoá cao, từ đó nhu cầu trao đổi,
truyền tải, thu nhận thông tin của các chủ thể kinh tế càng lớn. Vì vậy sự phát
triển của dịch vụ bưu chính viễn thông có tác dụng thúc đẩy quá trình tăng
trực tiếp với các kỹ thuật viên sẽ giảm thời gian chết do sự cố hư hỏng của
máy móc (như máy bơm, máy kéo, máy phát điện….)
Ba là, giảm tồn kho
Thông qua mạng thông tin của dịch vụ bưu chính viễn thông, các nhà
sản xuất kinh doanh có thể chuyển giao những mặt hàng tồn kho cho nhà sản
xuất kinh doanh khác trê nthị trường cần sử dụng, và tiến hành đặt mua các
mặt hàng mà mình cần thay thế sử dụng.
Bốn là, đưa sản phẩn ra thị trường đúng lúc
Các nhà sản xuất kinh doanh thông qua mạng thông tin của dịch vụ bưu
chính viễn thông, cùng kết hợp sắp xếp kế hoạch trao đổi sản phẩm cho nhau
hay trao đổi, phân phối sản phẩm trên thị trường kịp thời sồígp phần làm giảm
tỷ lệ hư hỏng hàng hoá, bảo đảm được chất lượng sản phẩm (ví dụ như các
mặt hàng như cá, hoa quả tươi…)
Năm là, giảm chi phí vận chuyển
Dịch vụ bưu chính viễn thông giúp cho các tổ chức, doanh nghiệp và
mọi người có đủ thông tin để thực hiện việc đi lại, hay tổ chức việc vận chuyển
hàng hoá kịp thời, bảo đảm thời gian, góp phần làm giảm chi phí, tiết kiệm đáng
kể chi phí về thời gian lao động trong đi lại, chuyển hàng hoá dịch vụ.
Sáu là, tiết kiệm năng lượng
Dịch vụ bưu chính viễn thông cung cấp thông tin kịp thời giúp các
doanh nghiệp thực hiện tối đa hoá hiệu quả sử dụng máy móc. Từ đó làm
giảm chi phí nhiên liệu. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải có thể 20
sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông trong điền hành, thực hiện công tác vận
chuyển hợp lý để hành trình không bị lãng phí về thời gian từ đó có thể tiết
kiệm tối đa nhiên liệu sử dụng.
Bảy là, cho phép khai thác lợi thế của phi tập trung hóa
Các dịch vụ bưu chính viễn thông giúp cho xã hội tiết kiệm thời gian,
lợi, vừa có thể gây nên những khó khăn trong phát triển dịch vụ bưu chính
viễn thông. Vị trí địa lý, địa hình nếu thuận lợi thì sẽ làm cho chi phí đầu tư
xây dựng mạng lưới giảm; ngược lại, nếu vị trí địa lý, địa hình phức tạp, đồi
núi sông suối nhiều bị chia cắt lớn sẽ làm cho chi phí đầu tư xây dựng mạng
lưới tăng lên, dẫn đến giá thành chi phí của dịch vụ cao. Những khu vực khí
hậu thuận lợi như bão gió, lũ lụt ít xẩy ra chi phí rủi ro sẽ thấp hơn những
khu vực bão gió, lũ lụt xẩy ra nhiều…
Thứ hai, chủ trương đường lối của Đảng, cơ chế, chính sách của nhà nước
Chủ trương đường lối, cơ chế chính sách nếu kịp thời, phù hợp sẽ thúc
đẩy nhanh sự phát triển của BCVT-CNTT, ngược lại chủ trương đường lối,
cơ chế chính sách chậm trễ, không hợp lý sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển nhanh
BCVT-CNTT, biểu hiện cụ thể:
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành được những chủ
trương đường lối, cơ chế chính sách kịp thời, phù hợp nên đã thúc đẩy nhanh
sự phát triển của BCVT. Bộ Thông tin và truyền thông thường xuyên có sự
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo về chuyên môn; Lãnh đạo các bộ, ban ngành ở
Trung ương, lãnh đạo các địa phương luôn quan tâm phối hợp, hỗ trợ để
ngành BCVT phát triển tốt. Các doanh nghiệp kinh doanh phục vụ BCVT có
sự phối hợp cộng tác tốt, các tập thể doanh nghiệp kinh doanh phục vụ BCVT
và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong toàn ngành đã có nhiều nỗ lực
và cố gắng trong công tác quản lý, sản xuất kinh doanh, phục vụ góp phần
thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển ngành BCVT, do vậy tình hình hoạt động
của dịch vụ bưu chính viễn thông có nhiều chuyển biến tích cực, phục vụ đắc
lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. 22
Trong những năm qua, có nhiều chủ trương tác động lớn đến sự phát
triển ngành BCVT, những chủ trương có tác động lớn gồm: Quyết định
246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
mất điện xẩy ra sẽ dẫn đến tình trạng thông tin bị gián đoạn, gây ảnh hưởng
trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội. Hệ thống các dịch vụ vận tải
như đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đường không nếu phát
triển tốt sẽ tạo tiền đề cho bưu chính viễn thông tiết kiệm trong đầu tư hạ
tầng, phát triển đồng bộ mạng lưới, bảo đảm thông tin nhanh chóng, thuận
lợi, an toàn. Ngược lại, nếu phát triển hạ tầng giao thông không đồng bộ,
qui hoạch và thực hiện qui hoạch đô thị, giao thông không nhất quán sẽ gây
lãng phí trong đầu tư phát triển mạng lưới dịch vụ bưu chính viễn thông.
Nền kinh tế có trình độ phát triển cao, trên nền tảng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
hiện đại thì dịch vụ bưu chính viễn thông có điều kiện phát triển tốt. Ngược
lại, nền kinh tế có trình độ phát triển thấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng lạc
hậu, yếu kém thì điều kiện phát triển dịch vụ bưu chính viễn thông cũng
gặp khó khăn.
Trình độ phát triển khoa học công nghệ có tác động ảnh hưởng đến
sự phát triển dịch vụ bưu chính viễn thông. Dịch vụ bưu chính viễn thông
nếu phát triển trong điều kiện của một nền kinh tế xã hội có trình độ khoa
học công nghệ phát triển cao, thì ngành bưu chính viễn thông sẽ có nhiều
điều kiện thuận lợi để vận dụng nền khoa học công nghệ cao đó vào phát
triển ngành mình nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phục vụ.
Ngược lại dịch vụ bưu chính viễn thông nếu phát triển trong điều kiện của
một nền kinh tế xã hội có trình độ khoa học công nghệ phát triển lạc hậu,
thấp kém, thì ngành bưu chính viễn thông cũng sẽ ít có điều kiện để phát
triển tốt nhất.
Kết cấu dân số, sự phân bố dân cư thành thị và nông thôn, miền xuôi và
miền núi, sự phân bố các đơn vị hành chính cũng là những điều kiện có tác
động tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn cho phát triển bưu chính viễn thông. 24
Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế
các biện pháp đổi mới công nghệ, cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ phù hợp
với những nhu cầu ngày càng khó tính của thị trường, giảm chi phí giá thành
dịch vụ có sức cạnh tranh quốc tế…thì mới có thể tồn tại và phát triển được.
1.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BƯU
CHÍNH VIỄN THÔNG Ở TỈNH NGHỆ AN
1.3.1. Kinh nghiệm một số địa phương về phát triển dịch vụ bưu
chính viễn thông
Kinh nghiệm của Đà Nẵng:
So với mặt bằng chung của cả nước, các chỉ tiêu về bưu chính như bán
kính phục vụ, mật độ phục vụ bình quân đạt ở mức cao. Mạng lưới bưu chính
rộng khắp, cung cấp nhiều dịch vụ bưu chính đa dạng tạo điều kiện thuận lợi
cho người dân tiếp cận dịch vụ, đồng thời đáp ứng khá tốt nhu cầu sử dụng
của người dân. Tốc độ tăng trưởng nhanh, nhất là đối với các dịch vụ chuyển
phát nhanh, dịch vụ tài chính (chuyển tiền, tiết kiệm bưu điện).
Mạng lưới viễn thông rộng khắp, 100% số xã có máy điện thoại, đảm
bảo chất lượng dịch vụ. Mạng viễn thông đã bắt đầu chuyển sang mạng thế hệ
mới (NGN). Mạng truyền dẫn đã được cáp quang hoá đến 100% các quận,
huyện. Các loại hình dịch vụ đa dạng, phong phú. Tốc độ tăng trưởng nhanh;
tỷ lệ sử dụng dịch vụ tương đối cao, hầu hết các chỉ tiêu viễn thông của thành
phố đều cao hơn mức bình quân chung của cả nước.
Kết quả trên có nguyên nhân từ việc xây dựng và thực hiện tốt quy
hoạch phát triển bưu chính viễn thông trong quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội, đồng thời ban hành những chủ trương cơ chế chính sách đúng
đắn, thể hiện sự khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường
chuyển phát, phát hành báo chí; hỗ trợ phát triển dịch vụ bưu chính công ích;
vốn đầu tư từ ngân sách chủ yếu đầu tư cho phát triển các dịch vụ công ích và
phục vụ sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước; vốn đầu tư từ doanh nghiệp trong