Luận văn Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Húa - Pdf 11

1

Luận văn
Nguồn nhân lực cho phát triển
kinh tế - xã hội ở các huyện miền
núi tỉnh Thanh Húa
2

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phấn đấu đến năm 2020
đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Để thực hiện mục tiêu trên, con người là một nhân tố hàng đầu, nhân tố
quan trọng nhất, quyết định nhất; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của cách mạng nói chung và của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước nói riêng.
Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, đòi hỏi bức xúc nhu cầu nguồn nhân lực - một lực lượng đông
đảo có đủ trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất
đạo đức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường trong xu
thế cạnh tranh và hội nhập.

trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhận thức được vai trò quan trọng đó, để khu vực miền núi Thanh Hóa
có cơ hội phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc
sống, tôi chọn vấn đề: “Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các
huyện miền núi tỉnh Thanh Húa” làm đề tài luận văn Thạc sỹ kinh tế,
chuyên ngành Kinh tế chính trị. Tác giả mong muốn vấn đề nghiên cứu được
hoàn thiện và có tính khả thi cao không những đối với phát triển kinh tế - xã
hội miền núi của tỉnh Thanh Hóa mà còn là của các huyện miền núi thuộc khu
vực Tây Bắc.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền
núi tỉnh Thanh Hóa chưa có một công trình nào nghiên cứu độc lập. Tuy vậy,
cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này như:
4

- Bùi Sỹ Lợi: “Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến năm
2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, HN 2002.
- Phạm Yên Trường “Đào tạo công nhân kỹ thuật của tỉnh Thanh Hóa
đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Luận văn Thạc sỹ
kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội (2006).
Các công trình trên đã đề cập một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với
nguồn nhân lực như đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trên phạm vi cả nước,
hoặc trong phạm vi cả tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, chưa có một công trình
nào nghiên cứu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của các
huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy đề tài này là rất cần thiết và có ý

Thanh Hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nguồn nhân lực bao hàm rất nhiều nội dung, luận văn
chỉ tập trung nghiên cứu lĩnh vực đào tạo nghề cho người lao động của 11
huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa để nhằm phát triển nguồn nhân lực nói chung
và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp đáp
ứng cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi của tỉnh.
- Về thời gian: Từ năm 2003 đến 2007.

5. Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt nam về đào tạo nghề cho người lao động.
- Sử dụng phương pháp biện chứng mác xít, kết hợp lôgíc và lịch sử,
kết hợp lý luận với thực tiễn; đồng thời khảo sát thực tế, thống kê, phân tích
tổng hợp, so sánh, chuyên gia …

6. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho việc hoạch
định chính sách và chỉ đạo hoạt động thực tiễn về đào tạo phát triển nguồn
nhân lực thông qua đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay ở các huyện miền
6

núi tỉnh Thanh Hóa, cũng như các huyện của các tỉnh khác thuộc vùng Tây
Bắc nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

- Theo quan điểm của Tổ chức quốc tế về lao động (ILO) và quan niệm
của các thành viên của tổ chức này thì lực lượng lao động là dân số trong độ
tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp. Trên thực tế,
việc quy định độ tuổi lao động giữa các quốc gia có khác nhau, có nhiều nước
lấy độ tuổi tối thiểu là 15, có nước là 18, còn tối đa quy định là 60, có nước là
65, thậm chí có nước là 70, 75 tuổi tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi nước.
- Theo Giáo trình Kinh tế phát triển - Trường Đại học Kinh tế quốc
dân, nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi theo quy định
của luật pháp có khả năng tham gia lao động. Theo quan điểm này, nguồn
nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng là những người trong độ
tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ. ở nước ta,
hiện nay Bộ luật Lao động quy định là đủ 15 đến 60 tuổi (đối với nam) và đủ
15 đến 55 tuổi (đối với nữ); về chất lượng nguồn nhân lực, đó là trình độ
chuyên môn và sức khỏe của người lao động. Tuy nhiên theo tác giả, nguồn
nhân lực theo quan điểm này còn thiếu một bộ phận dân số trên độ tuổi lao
động nhưng trên thực tế vẫn tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội.
- Theo lý luận Mác - Lênin về con người, thì nguồn nhân lực được xem
xét như là một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, là phương tiện
để phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực được coi như một nhu cầu tất
yếu cùng với các nguồn lực khác cho sự phát triển đất nước. Đầu tư cho con
người càng nhiều, càng có hiệu quả và thu hồi vốn khá cao so với đầu tư vào
các lĩnh vực khác, cho nên hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng áp
dụng phương pháp này để phát triển kinh tế - xã hội.
- Theo Giáo trình Kinh tế phát triển - Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh (Viện Kinh tế phát triển) thì nguồn nhân lực của một
quốc gia là tổng số những người trong độ tuổi lao động, đủ các điều kiện về


9

chưa phải là nguồn tăng thu nhập chính đối với gia đình. Nếu để trẻ em phải
lao động sớm, làm việc quá sức để được coi là nguồn thu nhập chính thì mục
tiêu bảo vệ sức khỏe, giáo dục đào tạo … sẽ khó thực hiện được, làm kìm
hãm sự phát triển nguồn nhân lực trong tương lai.
Từ những quan niệm đã nêu trên có thể thấy rằng, nguồn nhân lực được
đề cập là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, cùng với các đặc trưng về chất
lượng lao động như kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lý tưởng, chất
lượng văn hóa, năng lực chuyên môn đang và sẽ được vận dụng vào cuộc
sống lao động sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, theo tác giả việc sử dụng khái niệm
nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địa
phương là tổng hợp những tiềm năng lao động của con người có trong một
thời điểm xác định. Tiềm năng đó bao gồm trí lực và tâm lực như đạo đức, lối
sống, nhân cách và truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc của một bộ phận dân
số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả
năng làm việc đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Con người
đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó
hướng tới mục tiêu đã đề ra. Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội là
tổng hợp các nguồn nhân lực của các cá nhân, cho nên khái niệm nguồn nhân
lực bao gồm các chỉ tiêu phản ánh số lượng, cơ cấu nguồn lao động và các chỉ
tiêu phản ánh mặt chất về trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức nhân
cách. Số lượng nguồn nhân lực nước ta được biểu hiện bằng số người từ đủ
15 tuổi trở lên có khả năng lao động và những người trên độ tuổi lao động
đang tham gia hoạt động kinh tế. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện
bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ học vấn, kiến thức,
tay nghề, tác phong nghề nghiệp; cơ cấu tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành
nghề, phân bố theo lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn.

tích lũy kinh nghiệm văn hóa dân tộc và thế giới; trình độ tay nghề; về phong
11
cách lao động của con người gồm ý thức kỷ luật lao động, tinh thần trách
nhiệm với công việc, lòng yêu nước, yêu lao động, yêu nhân loại, yêu người
lao động, lao động cần cù, có kỹ thuật, có năng xuất cao. Đây là nguồn nội
lực cực kỳ quan trọng của một quốc gia để thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội là đội ngũ những người lao
động biết sử dụng tốt, có hiệu quả các công cụ lao động, các phương tiện hiện
đại và đó là đội ngũ những người lao động biết làm chủ và sáng tạo khoa học -
công nghệ. Do đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là tăng cường
các yếu tố cấu thành và khả năng của năng lực thể chất và tinh thần đó trong toàn
bộ lực lượng lao động xã hội, đặc biệt là năng lực tinh thần, trí tuệ của nguồn
nhân lực.

1.1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực, và các nhóm nhân tố tác động
đến phát triển nguồn nhân lực
- Phát triển nguồn nhân lực:
Phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng
nguồn nhân lực, biểu hiện qua các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và
tinh thần cần thiết cho công việc của người lao động, qua đó mà tạo việc làm
ổn định, nâng cao địa vị kinh tế và xã hội của họ. ở tầm vĩ mô, phát triển
nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng đáp
ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển cả
về quy mô, cơ cấu số lượng và chất lượng.
Thực chất của quá trình phát triển nguồn nhân lực là việc tăng về số
lượng và nâng cao về chất lượng nhân lực nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày

lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao cả về đạo đức, tay nghề, hoàn
thiện từng bước cao hơn cả về tinh thần và hành vi của mỗi con người trong
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Như vậy, phát triển nguồn nhân
13
lực bao gồm những nội dung cơ bản là phát triển quy mô và cơ cấu dân số
hợp lý; đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội.
Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy (khóa VII) đề ra chủ trương phát
triển nguồn nhân lực đồng bộ với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đây là một chủ trương lớn rất quan trọng, đánh dấu bước chuyển giai đoạn
của nền kinh tế - xã hội nước ta: giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. ở góc độ lao động - xã hội, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với
việc làm, sử dụng và quản lý có hiệu quả lực lượng lao động xã hội là một
chủ trương lớn và quan trọng có tầm chiến lược trước mắt và lâu dài.
- Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực:
Chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển
kinh tế - xã hội. Thông qua chất lượng nguồn nhân lực thể hiện rõ trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư
hay mức độ văn minh của một xã hội. Chất lượng nguồn lao động chính là
trình độ khả năng của năng lực thể chất và năng lực tinh thần cấu thành nên
lực lượng lao động xã hội. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là sự
tăng cường sức mạnh, kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và
năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến trình độ nhất định nhằm
hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia trong một
giai đoạn phát triển nhất định.
Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở hiệu quả của quá trình lao
động do lực lượng lao động đó thực hiện. Trong quá trình lao động đó, con

dân trí của quốc gia. Thông thường trình độ học vấn được thể hiện qua các chỉ
số như: số lượng người biết chữ và mù chữ; tỷ lệ đi học chung theo các cấp
15
học, tỷ lệ đi học đúng tuổi …những tiêu chí này phản ảnh tương đối chính xác
trình độ học vấn của nguồn nhân lực nước đó.
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Là sự hiểu biết, là kiến thức, khả năng
thực hành về một chuyên môn nào đó, như đảm đương một chức vụ nào đó
trong quản lý, trong kinh doanh hoặc trong các hoạt động nghề nghiệp. Trình
độ chuyên môn có được nhờ đào tạo ở các trường học chuyên ngành trong hệ
thống giáo dục quốc dân như: đào tạo nghề, trung học chuyên nghiệp, cao
đẳng, đại học và sau đại học. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân
lực dùng để chỉ những người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang
bị kỹ năng thực hành về một công việc nào đó và được thể hiện thông qua các
chỉ tiêu so sánh như: số lao động được đào tạo và lao động phổ thông, số có
bằng kỹ thuật và không có bằng kỹ thuật, trình độ tay nghề được đánh giá qua
bậc thợ v.v…
Theo thống kê điều tra lao động - việc làm hàng năm, lực lượng lao
động có chuyên môn kỹ thuật bao gồm: những người đã tốt nghiệp các trường
đào tạo từ công nhân kỹ thuật trở lên. Trong tổng số lao động có chuyên môn
kỹ thuật, những người có bằng nghề trở lên là bộ phận chủ yếu quyết định
chất lượng của lực lượng lao động, là vốn nhân lực để phát huy khả năng sáng
tạo của con người góp phần tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy nhanh
quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đối với Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế - xã hội được thông qua con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, do đó việc chuẩn bị nguồn
nhân lực phải nhằm đáp ứng yêu cầu của cả hai quá trình là tiếp cận nền kinh
tế tri thức và tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

cơ bắp trong công việc. Thể lực còn là điều kiện quan trọng để phát triển trí
lực. Sức khỏe và dinh dưỡng là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng dân
số và nguồn nhân lực. Mối quan hệ giữa sức khỏe và phát triển là mối quan hệ
hai chiều, bản thân sự phát triển kinh tế có tác động cải thiện điều kiện sức
khỏe và ngược lại, sức khỏe và dinh dưỡng được cải thiện nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội với trình độ
ngày càng cao, đòi hỏi ngày càng lớn về thể lực, bởi nếu không có thể lực và
17
tinh thần tốt sẽ khó có thể chịu đựng áp lực căng thẳng của công việc, của
nhịp độ cuộc sống, và cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra các tri thức mới và
vật hóa nó thành sản phẩm có ích cho toàn xã hội.
+ Chỉ số phát triển con người (HDI)
Nếu quan niệm nguồn nhân lực là tổng thể các năng lực lao động trong
nền kinh tế của một quốc gia, tức là lực lượng lao động của một quốc gia, thì
khi xét chất lượng của nguồn nhân lực, tức là xét một bộ phận trực tiếp hoạt
động sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội không thể tách rời nó khỏi những
điều kiện phát triển con người trong quốc gia đó. Hiện nay, Liên hợp quốc đã
đưa ra chỉ số HDI nhằm đánh giá trình độ phát triển con người của các nước.
HDI là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, môi
trường cũng như sự công bằng trong thụ hưởng các phúc lợi xã hội. Chỉ số
HDI được tính căn cứ vào ba chỉ tiêu: thu nhập bình quân trên đầu người
(GDP/người); trình độ dân trí; tuổi thọ bình quân. Việt Nam năm 2002 có chỉ
số HDI xếp thứ 100/174 nước, trong khi GDP/đầu người xếp thứ 154/174.
Qua đó, chỉ số HDI nói lên chất lượng cuộc sống, song chưa nói lên trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
+Phẩm chất đạo đức và trình độ văn hóa của nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực còn được đánh giá thể hiện qua những yếu

là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất, con người là động lực quyết định
cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Phát triển nguồn nhân lực là
những biến đổi về số lượng và chất lượng từ trình độ chất lượng này lên trình
độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn. Do đó, các nhân tố ảnh hưởng đến
sự phát triển nguồn nhân lực bao gồm các yếu tố về điều kiện tự nhiên môi
trường, kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách ở mỗi giai đoạn phát triển.
* Nhóm nhân tố về quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ tăng dân số.
19
Quy mô dân số được hiểu khái quát là tổng số dân của một vùng, một
quốc gia vào những thời điểm nhất định. Quy mô dân số rất cần thiết trong
nghiên cứu, phân tích đánh giá trình độ phát triển - kinh tế cũng như hoạch
định chiến lược phát triển ở phạm vi tỉnh, thành phố, vùng lãnh thổ. Quy mô
dân số lớn, trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển như Việt Nam
đang đặt ra những vấn đề kinh tế - xã hội hết sức gay gắt cần giải quyết, trước
mắt cũng như lâu dài, đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực. Theo tác giả, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nếu
muốn nền kinh tế phát triển cân đối với tốc độ cao phải có quy mô dân số
thích hợp và có sự phân bố dân cư hợp lý. Quy mô đó phải phù hợp với điều
kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế - xã hội cả đất nước.
Các nhà dân số học cho rằng, một cơ cấu thích hợp đảm bảo cho dân số
ổn định là:
+ Tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động là: 26  28%.
+ Tỷ lệ người trong tuổi lao động là: 60  64%
+ Tỷ lệ người già trên tuổi lao động là: 10 12%
Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển nguồn nhân lực.
Khi dân số tăng lên thì lực lượng lao động cũng tăng với tốc độ cao hơn tốc
độ tăng dân số. Nguồn tài nguyên như đất đai, mặt nước thì lại có hạn nên

100.000 người chưa có việc làm, chưa kể số dôi dư hàng năm từ trước. Nghĩa
là vẫn còn khoảng cách tương đối lớn giữa việc làm và lực lượng lao động dôi
dư hàng năm, cầu việc làm thấp hơn cung về nó, vì vậy nạn thất nghiệp vẫn
tồn tại ở mức cao, nhất là đối với lao động không được đào tạo. Ngoài ra còn
phải kể đến số lao động bị mất việc làm trong các khu vực kinh tế khác do sức
cạnh tranh kém.
21
Tỷ lệ sinh đẻ cao ở nông thôn, nhất là nông thôn miền núi cũng là yếu
tố làm cho tỷ lệ người bước vào độ tuổi lao động hàng năm tăng, việc làm ít,
tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn chưa cao gây nên tình trạng di
chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm, mà chủ yếu là
lao đọng trẻ, khỏe, có vốn kiến thức khá nhất của khu vực này. Từ đó dẫn đến
tình trạng thất nghiệp tăng ở khu vực thành thị, còn nông thôn lại thiếu hụt lao
động trẻ, có khả năng tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật để đẩy
nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Như vậy, dân số tăng nhanh khi trình độ kỹ thuật và công nghệ của nền
kinh tế còn thấp gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Vấn đề đầu tư cho nâng cao năng lực và chất lượng của những người đang
trong độ tuổi lao động và có việc làm gặp khó khăn. Bởi cơ sở vật chất để
nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo còn có nhiều hạn chế và bất cập, hơn
nữa nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ loại bỏ một số lượng lớn lao động giản
đơn, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp. Ngoài ra, nguồn nhân lực trẻ,
khoẻ dồi dào và do sức ép về thất nghiệp gia tăng họ chấp nhận làm việc với
mức tiền công thấp buộc các doanh nghiệp phải cho những người có kinh
nghiệm, có tri thức lớn tuổi về nghỉ các chế độ sớm nhằm nhường việc làm
cho lớp trẻ đã dẫn đến tình trạng vừa thiếu chất xám, vừa lãng phí một lượng
lớn chất xám, không tận dụng hết được tiềm năng của nguồn nhân lực chất

tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Bởi sức khỏe, tuổi thọ, trình độ dân trí,
trình độ chuyên môn, nghề nghiệp phụ thuộc vào quá trình hiện đại hóa của
nền kinh tế và chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Đến lượt nó, quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại thúc đẩy sự phát triển của nguồn nhân lực.
Thông qua các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và các yếu tố cấu
phần của chúng, có thể xác định được hệ thống các nhân tố tác động đến chất
lượng nguồn nhân lực.
Xem xét chất lượng nguồn nhân lực trước hết phải xem xét chất lượng
cuộc sống của dân cư nói chung. Chỉ số GDP bình quân đầu người là chỉ số
23
liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người lao
động, đến mặt thể lực của nguồn nhân lực … Nó phụ thuộc vào quy mô và tốc
độ phát triển GDP cũng như quy mô và tốc độ gia tăng dân số. Quan hệ giữa
chỉ số này với nguồn nhân lực được cụ thể hóa trong các chỉ tiêu như: điều
kiện sức khỏe, dinh dưỡng, chăm sóc y tế, chất lượng nhà ở, mức tiêu thụ các
hàng hóa dịch vụ… Vì có phát triển kinh tế mới có điều kiện cải thiện cuộc
sống con người, có điều kiện chăm sóc sức khỏe, có điều kiện để phát triển
giáo dục và đào tạo. ở các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập (GDP)
bình quân/đầu người/năm và tuổi thọ thường cao.
Từ số liệu ở bảng 1.2 cho thấy, khi trình độ phát triển của kinh tế - xã
hội càng cao thì tuổi thọ của người lao động cũng cao, vì họ có điều kiện kinh
tế để chăm sóc sức khỏe cho con người. Sức khỏe là trạng thái thoải mái về
thể chất, tinh thần và xã hội chứ không đơn thuần là không có bệnh tật. Sức
khỏe con người là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài,
giữa thể chất và tinh thần. Sức khỏe là nhân tố tác động trực tiếp đến thể chất
của dân cư và nguồn nhân lực, là yếu tố tác động đến số lượng và chất lượng
lao động. Trình độ phát triển kinh tế góp phần quan trọng vào việc nâng cao

nhưng nếu không có chính sách sử dụng và khai thác đúng đắn nguồn nhân
lực đó thì cũng không phát triển được. Mối quan hệ giữa sức khỏe và phát
triển là mối quan hệ hai chiều, bản thân sự phát triển kinh tế có tác động cải
thiện điều kiện sức khỏe và ngược lại, sức khỏe và dinh dưỡng được cải thiện
sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mọi người có thể được lợi nhờ sức
khỏe tốt trong hiện tại và việc cải thiện sức khỏe cho tầng lớp trẻ sẽ dẫn tới
một thế hệ khỏe mạnh trong tương lai. Người lao động có sức khỏe tốt có thể
mang lại những lợi nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức mạnh, sức bền bỉ,
dẻo dai và khả năng tập trung cao trong khi làm việc. Việc nuôi dưỡng và
chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ em sẽ là yếu tố làm tăng năng suất lao động
trong tương lai, giúp đỡ trẻ trở thành những lao động khỏe về thể chất, lành
mạnh về tinh thần, đồng thời nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ xảo
cần thiết thông qua giáo dục và đào tạo.
Sự phát triển kinh tế - xã hội bao giờ cũng kéo theo quá trình đô thị
hóa, thường thì các nước công nghiệp, dân số sống ở thành thị chiếm tỷ lệ
cao. Tỷ lệ dân thành thị cao sẽ tạo điều kiện phát triển sự nghiệp giáo dục và
đào tạo, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao ý
thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho lực lượng này. Dân số thành
thị cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao
25
động, nâng cao tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của
ngành nông nghiệp trong GDP, tức là giảm lực lượng lao động nông nghiệp
trong tổng lực lượng lao động xã hội. ở các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ
dân số sống ở thành thị tương đối cao, năm 1999: 89% ở Anh, 86% ở Đức,
77% ở Nhật, 74% ở Pháp, 79% ở Hàn Quốc, 77% ở Đài Loan. Với Việt Nam
do tỷ lệ đô thị hóa còn thấp, nên số dân thành thị mới chỉ chiếm khoảng gần
30%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status