1
Luận văn
Nguồn nhân lực cho phát
triển kinh tế - xã hội ở tỉnh
Kon Tum
2
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NNL là nhân
tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
NNL vừa là nguồn lực to lớn, vừa là động lực tăng năng suất lao động, nâng
cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, của doanh nghiệp và của toàn
bộ nền kinh tế, lại vừa là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững; chỉ có NNL mới có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến độ khoa học kỹ
thuật, công nghệ mới, công nghệ cao, sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất
khác trong xã hội, trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Phát triển, phân bổ hợp lý và sử dụng
hiệu quả NNL trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề NNL và vai trò của NNL cho phát triển kinh tế - xã hội đã được
nhiều công trình, bài viết đăng tải- tiêu biểu như:
- “Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt
Nam”, TS. Đoàn Văn Khái (2005), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
- “Vấn đề phát triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá”, Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội -1996.
- " Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta", Trần Kim Hải, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh,1999.
- “Xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành
phố Đà Nẵng”, Vương Quốc Được, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,1999.
- " Nguồn nhân lực cho công nghiệp, hóa hiện đại hóa ở tỉnh Đắk
Nông", Đinh Khắc Đính, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, 2007.
4
Ngoài ra, cũng có nhiều bài viết đăng trên nhiều tạp chí đề cập đến
NNL cho phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nhìn chung, các công trình nghiên
cứu đã được công bố đó, chủ yếu chỉ đề cập đến NNL chất lượng cao cho các
khu công nghiệp, các thành phố lớn,… và do vậy việc nghiên cứu vấn đề "
NNL cho phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Kon Tum " trên phương diện kinh
tế chính trị như đề tài luận văn đã nêu là không trùng lắp.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Đề ra phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển NNL đáp ứng yêu
gồm 3 chương, 9 tiết. 6
Chương 1
quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người [34, tr.14 ].
Một số nhà khoa học tham gia đề tài, “Con người Việt Nam - mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” chương trình khoa học - công
nghệ cấp Nhà nước mã số KX - 07 do GS, TS KH Phạm Minh Hạc làm chủ
nhiệm thì cho rằng: “nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng
con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và
phẩm chất” [17, tr.328]. Còn gần đây, trong dịp gặp gỡ các nhà doanh nghiệp,
các nhà khoa học - công nghệ các tỉnh, thành phố phía Bắc nguyên Thủ tướng
Phan Văn Khải đã khẳng định: "Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao
động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” [22].
Tiến sỹ Đoàn Văn Khái lại cho rằng trong thực tế, khái niệm “nguồn
nhân lực” ngoài nghĩa rộng như “nguồn lực con người”, thường còn hiểu theo
nghĩa hẹp là nguồn lao động, có khi còn được hiểu là lực lượng lao động.
Khái niệm “tài nguyên con người” được sử dụng với ý nghĩa nhấn mạnh
phương diện khách thể của con người, coi con người như một nguồn tài nguyên,
một loại của cải quý giá cần được khai thác hơp lý, có hiệu quả, nhất là tiềm
năng trí tuệ, và cho rằng "Nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu
dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó
trong sự phát triển xã hội” [7, tr.260].
Theo quan điểm của một số nhà khoa học khác thì nguồn nhân lực được
xem là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất, tinh thần, sức
khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ và phong cách lao động.
Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nên NNL có nội hàm rất rộng,
nhưng có thể cụ thể hóa và phân loại các yếu tố cấu thành NNL theo các
nhóm sau đây:
8
9
còn được nhìn nhận như là một phương tiện chủ yếu, đảm bảo tốc độ tăng
trưởng sản xuất và dịch vụ.
- Trên phương diện xã hội, con người là tế bào xã hội, mọi sự phát triển
của xã hội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đều do con
người quyết định. Song con người chinh phục cải biến tự nhiên không phải
chỉ với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, mà với tư cách là con người xã hội
là những thành viên trong cộng đồng xã hội. Do vậy, sự phát triển của con
người bao giờ cũng mang tính chỉnh thể, thống nhất, nhưng cũng hết sức phức
tạp và đa dạng. Chính sự phức tạp và đa dạng đó trong tiến trình phát triển
lịch sử xã hội đã tạo nên tính không đồng đều trong sự phát triển kinh tế - xã
hội ở các nước, các khu vực, các châu lục khác nhau. Điều này nó ảnh hưởng
đến các giá trị truyền thống, đạo lý xã hội của các quốc gia dân tộc, hình
thành nên bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống… của mỗi vùng
lãnh thổ, mỗi nền kinh tế khác nhau.
- NNL hiện nay không thể tách rời với vấn đề quốc tế. Thực tế cho thấy
xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đã lôi cuốn mọi quốc gia vào vòng xoáy của
nó, dù đó là quốc gia tiên tiến hay lạc hậu, phát triển hay chậm phát triển.
Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra những thời cơ và thách thức mới, ở đâu nắm được
thời cơ, vượt qua được thách thức sẽ phát triển nhanh hơn, ngược lại sẽ bị tụt
hậu xa hơn. Vì vậy, phát triển NNL phải đảm bảo có đủ khả năng thích nghi
được với xu thế thời đại, phát huy được tính tự tôn dân tộc, quyết tâm làm cho
đất nước phát triển, sánh vai với các nước trên thế giới.
Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, với những nội hàm khác nhau,
trên phương diện kinh tế chính trị và để đáp ứng yêu cầu luận văn thì NNL
được hiểu là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao
động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm
lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra
của cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu lao động của từng vùng. Chuyển dịch cơ
cấu lao động theo vùng lãnh thổ phụ thuộc vào định hướng xây dựng cơ cấu
ngành và đã được Nhà nước quan tâm, có những chính sách đầu tư phát triển.
Hiện nay, quá trình cơ cấu lại lao động theo ba nhóm ngành (nông- lâm- ngư
nghiệp, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ) ở miền núi chậm hơn so với cả
nước và khu vực đồng bằng- điều đó được phản ánh ở cơ cấu lao động năm
2004 theo 3 nhóm ngành của các vùng như sau:
11
- ở vùng Tây Bắc, lao động nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ trọng rất
lớn với 85, 6%, trong khi lao động công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng rất
thấp 4% và lao động dịch vụ cũng có tỷ lệ thấp 10,4% [38, tr106]. Vùng
Tây Bắc đang nằm trong tình trạng cơ cấu lao động rất lạc hậu, các ngành
công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa đáng kể, mức sống của dân cư thấp
hơn các vùng khác.
- Lao động nông nghiệp vùng Đông Bắc chiếm tỷ trọng lớn 75,8%, lao
động công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng thấp hơn 9,1%, và lao động lao
động dịch vụ chiếm tỷ trọng 15,1%.
- Cơ cấu lao động của vùng Đông Bắc cũng nằm trong tình trạng như vùng
Tây Bắc, các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ kém phát triển. Tăng
trưởng kinh tế thấp, các nguồn lực hạn chế (lao động lành nghề, vốn, hạ tầng cơ
sở…), nên chưa tạo được động lực cho phân công lại lao động.
- ở vùng Tây Nguyên, tỷ trọng lao động nông, lâm là 74,1%, lao động
công nghiệp và xây dựng 7,4%, lao động dịch vụ 18,5%- cơ cấu lao động
như vậy cũng rất lạc hậu.
Tỷ trọng lao động làm việc ở nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng này có
xu hướng giảm xuống, nhưng rất chậm, từ năm 1996 đến năm 2004 thì ở Tây
sản xuất nhỏ và các phong tục tập quán cũ, lạc hậu. Đây cũng là nguyên nhân
trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình phát triển NNL của địa phương.
Thứ tư, về nguồn gốc nguồn nhân lực.
Dân số ở miền núi thường rất thưa thớt, chủ yếu là đồng bào các dân
tộc thiểu số sống từ lâu đời trong vùng cư trú riêng, mối giao lưu giữa các dân
tộc với nhau còn rất hạn chế.
Sự gia tăng dân số về tự nhiên phổ biến là ở cộng đồng các dân tộc bản
địa sống nơi đây. Trước ngày đất nước giải phóng, đời sống kinh tế - xã hội
khép kín trong cộng đồng từng làng còn rất lạc hậu và thấp kém, do vậy tỷ lệ
sinh cũng nhiều nhưng tỷ lệ tử cũng cao. Đồng bào các dân tộc sinh đẻ một
cách tự do, số trẻ em tồn tại phát triển trưởng thành rất ít. Có nhiều nguyên
13
nhân làm tỷ lệ tử vong cao, nhưng có lẽ chính yếu nhất vẫn là do điều kiện tự
nhiên trước đây còn quá khắc nghiệt, gây ốm đau bệnh tật; trình độ kinh tế -
xã hội thấp kém… cũng ảnh hưởng nhất định đến sự gia tăng dân số tự nhiên
ở địa bàn này. Từ sau ngày giải phóng, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.
Trong tình hình chung đó, các dân tộc ít người có sự phát triển, tăng lên
nhanh chóng. Sức khỏe người dân cũng được chăm sóc tốt hơn, hạn chế tỷ lệ
tử vong ở mức thấp nhất, nâng cao tỷ lệ sinh. Đặc biệt là chính sách dân số kế
hoạch hóa gia đình đã thực sự xâm nhập và phát huy tác dụng tích cực tạo sự
gia tăng dân số tự nhiên trong vùng đồng bào các dân tộc một cách hợp lý.
Sự gia tăng dân số cơ học được tăng nhanh từ sau ngày thống nhất. Do
thực hiện chính sách kinh tế mới của Đảng và Nhà nước ta nhằm phân bố hợp
lý lực lượng lao động giữa các vùng trong cả nước, đã tạo được động lực xây
dưng phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng ở miền núi nói riêng
1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực ở miền núi
Chất lượng nguồn nhân lực là một chỉ tiêu tổng hợp về con người, chịu
tác động tổng hòa của nhiều yếu tố, có những yếu tố thuộc về truyền thống, sự
vận động của xã hội nhưng chủ yếu là do quá trình giáo dục, đào tạo, việc
làm, thu nhập, năng suất lao động, quan hệ xã hội mà hình thành nên. Những
nhân tố tổng hợp chủ yếu ảnh hưởng đến nguồn nhân lực miền núi là:
Thứ nhất, tác động của sự phát triển kinh tế - xã hội đến chất lượng
nguồn nhân lực.
- Tác động này trước hết được thể hiện ở trình độ của nền kinh tế tác
động đến chất lượng NNL, vì đó là cơ sở để xác định tiền lương, thu nhập, cải
thiện mức sống và nâng cao dân trí của các tầng lớp dân cư cũng như người
lao động. Khi thu nhập được nâng cao các hộ gia đình mới cải thiện được chế
độ dinh dưỡng, mới có điều kiện tài chính để chi trả cho các dịch vụ giáo dục,
đào tạo, chăm sóc y tế. Do đó sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên
15
môn kỹ thuật, các mối quan hệ xã hội của dân cư sẽ góp phần làm cho NNL
được nâng cao được cải thiện về mặt chất lượng.
Có thể lấy ví dụ điển hình là các nước có nền kinh tế đạt trình độ cao thì
tỷ lệ người đi học văn hoá, chuyên môn - kỹ thuật thường cao hơn các nước
có nền kinh tế trình độ thấp. Năm 1999, tỷ lệ học sinh được tuyển vào các
trường phổ thông trung học của một số nước có trình độ nền kinh tế phát triển
cao như: Hàn Quốc đạt 98%, Malaixia - 100%, Singapo - 100% trong khi
các nước có trình độ kinh tế phát triển thấp như Campuchia - 22%, Pa- Pua-
Niu Ghi-nê - 21%, Pakixtan -29% [38. tr54].
Ngoài ra, trong một nền kinh tế trình độ cao thì có cơ cấu kinh tế hợp lý
và sử dụng phần lớn công nghệ hiện đại, các thành tựu khoa học và công nghệ
tế, từng vùng từng địa phương. Đây cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo xu hướng tăng tỷ trọng GDP của các ngành công nghiệp - xây dựng và
dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp. Đối với lao động thì chuyển
dịch cơ cấu kinh tế có tác động thúc đẩy tỷ trọng lao động trong ngành nông
nghiệp giảm xuống và tăng tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
- Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với khả năng nâng cao đầu tư
của Chính phủ cho giáo dục, đào tạo.
Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để Chính phủ các quốc gia nâng cao năng
lực tài chính để tăng đầu tư cho các chương trình mục tiêu về giáo dục, đào
tạo, chăm sóc sức khỏe y tế, phát triển hoạt động văn hóa, thể thao. Nhờ đó
mà quy mô giáo dục, đào tạo được mở rộng, chăm sóc sức khỏe dân cư và
người lao động được cải thiện, đời sống tinh thần được nâng cao. Các yếu tố
này có tác động tích cực đến trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe
dân cư và người lao động được cải thiện, đời sống tinh thần được nâng cao.
Các yếu tố này có tác động tích cực đến trình độ học vấn, chuyên môn kỹ
thuật - kỹ thuật, sức khỏe của dân cư, người lao động và cũng có nghĩa là tác
động tích cực đến chất lượng NNL.
17
Đối với khu vực miền núi nói chung cũng như ở Kon Tum nói riêng,
xuất phát điểm kinh tế thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất
là vùng dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Sản xuất nông nghiệp là chủ yếu,
áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất còn nhiều hạn chế. Tăng trưởng
kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi chưa thích ứng kịp thời với nhu cầu của thị trường, sản phẩm của công
nghiệp chế biến phần lớn là sơ chế, sản phẩm thô, sức cạnh tranh trên thị
=> đói nghèo.
Rõ ràng, tình trạng suy dinh dưỡng thường là vấn đề của người nghèo.
Nghèo đói và chất lượng NNL thấp luôn có mối quan hệ cùng chiều và có sự
tác động qua lại lẫn nhau. Do đó để nâng cao chất lượng NNL cần phải giảm
đói nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân.
- Ngoài vấn đề dinh dưỡng, sự phát triển, tính hiệu quả của hệ thống y tế
và khả năng tiếp cận của người dân với hệ thống này có ảnh hưởng trực tiếp
đến sức khỏe các thế hệ của NNL. Đó là vấn đề đảm bảo cho thế hệ tương lai
có thể lực, tinh thần khỏe mạnh, nâng cao tuổi thọ, sức khỏe dân cư.
Tuy nhiên, đối với khu vực miền núi cũng như ở Kon Tum nói riêng thì
vấn đề an toàn dinh dưỡng và đảm bảo cho mọi người, mọi gia đình mọi dân
tộc sinh sống trên địa bàn được ăn uống đầy đủ về số lượng, cân đối về chất
lượng đảm bảo vệ sinh để có sức khỏe tốt, thể lực và trí lực phát triển là chưa
đảm bảo. Bữa ăn chủ yếu là lương thực chưa đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa
lương thực và thực phẩm, chưa đủ dinh dưỡng trong bữa ăn; tỷ lệ trẻ em suy
dinh dưỡng còn cao 2,76% năm 2005. cơ sở mạng lưới y tế vẫn còn thiếu và
chưa đồng bộ, năng lực đội ngũ y, bác sỹ còn hạn chế, bất cập… Tình trạng
này ảnh hưởng rất lớn chất lượng NNL và hiệu quả sử dụng NNL của miền
núi nói chung và của tỉnh Kon Tum nói riêng.
Thứ ba, trình độ phát triển giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng quyết định
đến chất lượng NNL.
19
Mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo là một trong những yếu tố quan
trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng NNL, vì nó không chỉ quyết định trình
độ văn hóa, chuyên môn- kỹ thuật của người lao động mà còn tác động đến
sức khỏe, tuổi thọ của người dân, thông qua các yếu tố thu nhập, nhận thức và
Giáo dục đào tạo đem lại nhiều lợi ích to lớn cho cá nhân và xã hội: đối
với cá nhân giáo dục đem lại cho họ kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ…
trên nền tảng đó, để tăng cơ hội việc làm, thu nhập cao hơn, thích nghi với
những thay đổi nghề nghiệp…; đối với xã hội giáo dục và đào tạo góp phần
cải thiện sức khỏe nâng cao tuổi thọ của người dân, góp phần nâng cao trình
độ văn hóa cơ bản là tiền đề để tiếp thu tri thức, tăng thêm sức mạnh cho con
người, để tận dụng các cơ hội trong lao động sáng tạo, tạo ra thu nhập cao góp
phần nâng cao mức sống vật chất và tinh thần, chống suy dinh dưỡng, cải
thiện sức khỏe của dân cư và NNL. Giáo dục còn có ý nghĩa quan trọng trong
việc nâng cao năng lực cho toàn dân trong tiếp thu và vận dụng tri thức:
Trong nền kinhh tế hiện đại ngày nay, kinh tể tri thức ngày càng giữ vai trò
chủ đạo. Sức cạnh tranh sẽ xoay quanh tâm điểm là hàm lượng khoa học và
công nghệ, chất xám quyết định giá trị sản phẩm.
ở miền núi trình độ học vấn của dân cư thấp, tỷ lệ mù chữ cao nhất là
vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, một nơi còn duy trì luật
tục, tập quán lạc hậu trong đời sống cộng động, trình độ học vấn thấp nên hạn
chế áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất …Đó là trở ngại lớn cho việc
phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Do vây, ở miền núi cần có những
chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
mới khai thác được tiềm năng thế mạnh hiện có của địa phương góp phần
phát triển nhanh kinh tế - xã hội.
Thứ tư, các chính sách của Chính phủ và chất lượng NNL.
Vai trò của chính phủ có tầm quan trọng rất lớn đối với nâng cao chất
lượng NNL quốc gia. Chính phủ hoạch định các chính sách tạo môi trường
pháp lý cho phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo cả chiều rộng và chiều
sâu. Ngoài các chính sách của Chính phủ về kinh tế - xã hội hướng vào 22
tạo, tìm ra những thế mạnh, cách đi và mô hình phù hợp với hoàn cảnh đặc
thù của từng địa phương. Phát triển nguồn nhân lực ngày nay không chỉ làm
gia tăng về số lượng, đồng bộ về cơ cấu lực lượng lao động, mà phải coi trọng
nâng cao chất lượng trong đó bao hàm cả việc khơi dậy, vun bồi và phát triển
những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của mỗi tộc người và cộng đồng
các dân tộc.
- Thứ sáu, tốc độ tăng dân số ảnh hưởng đến NNL.
Tốc độ và quy mô dân số ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng
của NNL. Một trong những nguyên nhân cản trở tốc độ tăng trưởng và phát
triển kinh tế là quy mô dân số đông, tốc độ dân số gia tăng lớn. Dân số gia
tăng làm tăng nhân khẩu ăn theo trên một lao động, làm chậm tốc độ tăng
GDP/người, gây sức ép về nhu cầu việc làm và các vấn đề xã hội khác. Theo
số liệu của Tổ chức dân số Liên Hiệp quốc thì khi dân số tăng 1%, muốn đảm
bảo công ăn việc làm, thu nhập như trước phải gia tăng 3% GDP.
ở miền núi nói chung cũng như Kon Tum nói riêng tốc độ tăng dân số
bình quân còn cao giai đoạn 2002 - 2005 vẫn là 2,1% so với cả nước 1,47%
[41]. Tốc độ dân số tăng đây cũng là lực lượng lao động to lớn và quan trọng
chuẩn bị bổ sung vào lực lượng lao động tương lai. Tuy nhiên việc tốc độ tăng
dân số cao cũng đem lại nhiều bài toán nan giản về lao động việc làm trong
tương lai.
Mức độ gia tăng tương đối cao của lực lượng lao động trong bối cảnh tỷ
lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thời gian nhàn rỗi ở nông thôn tương đối cao
như hiện nay đang đặt ra những vấn đề lớn cần giải quyết, trong khi đó chất
lượng lao động thấp thể hiện ở chỗ tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật trong tổng lực lượng lao động thấp và cơ cấu lực lượng lao động bất hợp
lý.
Sau đó, người ta dần dần nhận thức ra rằng, khai thác tài nguyên đến
mức độ nào đó cũng sẽ bị cạn kiệt. Đề cao kỹ thuật quá mức dẫn đến "chủ
24
nghĩa kỹ trị" trong nền kinh tế làm tha hóa con người và lãng phí tiềm năng
sáng tạo của con người. Con người bị "rô bốt hóa" trở thành cái xác không
hồn. Mô hình phát triển dựa trên kỹ thuật thuần túy đã đe dọa trực tiếp đến sự
phát triển bền vững về kinh tế và xã hội. Do vậy, việc phải thay đổi căn bản
chiến lược phát triển đã trở thành đòi hỏi cấp bách của các nước.
Vào những năm 90, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ bước
sang giai đoạn mới, việc áp dụng kỹ thuật tin học, các công nghệ thông tin và
những sản phẩm phần mềm tự động hóa làm cho quá trình sản xuất mang tính
sáng tạo nhiều hơn. người ta không chỉ sản xuất để thõa mãn nhu cầu mà còn
tạo ra nhu cầu để sản xuất, chất lượng sản phẩm được coi trọng hơn số lượng,
hàm lượng trí tuệ và khoa học trong sản phẩm ngày càng tăng, đầu vào vật
chất ngày càng giảm … Tình hình đó đòi hỏi phải khai thác và sử dụng các
nguồn lực có khả năng sáng tạo. Mô hình sản xuất lấy con người làm trung
tâm xuất hiện, chiếm ưu thế và dần dần trở nên phổ biến. Hướng ưu tiên đầu
tư vào con người đã được nâng lên "quốc sách hàng đầu", được coi là hướng
chính trong chiến lược phát triển ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới.
Đề cao vai trò của yếu tố con người cũng là nét nổi bật trong tư tưởng
kinh tế của chủ nghĩa Mác. Với tư tưởng chủ đạo: chỉ có lao động mới tạo ra
giá trị và là nguồn gốc của mọi của cải trong xã hội, các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá rất cao vai trò yếu tố con người. Mác đã
khẳng định " Trong tất cả những công cụ sản xuất, thì lực lượng sản xuất
hùng mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng"[28, tr.257]. Hơn nữa, C.Mác
còn coi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sản xuất và phát triển con người là
nghĩa" [32, tr.310]. Khi nói đến con người với tư cách "người chủ xã hội" là
cái "vốn quý nhất", là lực lượng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội,
Người không chỉ nói đến trí tuệ, tài năng, sức khỏe của con người, mà còn nói
tới nhiều yếu tố khác ở con người, trong đó có những giá trị xã hội được kết
tinh trong bản thân từng con người thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng
và cải tạo xã hội.
Quán triệt quan điểm đó của Đảng và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ