Vốn đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế xó hội ở các huyện miền núi cao ở Nghệ An - Pdf 10

1Luận văn
Vốn đầu tư của nhà nước để
phát triển kinh tế xó hội ở các
huyện miền núi cao ở Nghệ An
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư từ ngân sách nhà nước để phát triển kinh tế xó hội ở vựng
sõu vựng xa, vùng núi cao và hải đảo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước trong chiến lược phát triển kinh tế -xó hội kết hợp với củng cố quốc
phũng an ninh ở nước ta.
Nghệ An là một tỉnh có diện tích tự nhiên rất lớn (1.649.275 ha),
đứng thứ nhất cả nước. Toàn tỉnh có 20 đơn vị hành chính trực thuộc,
gồm 1 thành phố loại 1 (Vinh), 2 thị xã (Cửa Lò, Thỏi Hoà) và 17 huyện,
trong đó có 5 huyện là miền núi cao (Quế Phong, Quỳ Chõu, Con Cuông,
Tương Dương, Kỳ Sơn) với tổng diện tích tự nhiên 961.495 ha, chiếm
58,3% diện tích của cả tỉnh.
Các huyện miền núi cao Nghệ An có tiềm năng tự nhiên rất lớn cho
phát triển kinh tế, nhưng do trỡnh độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tỏc rất lạc
hậu, sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu, sản xuất hàng hóa chưa phát
triển, nguồn sống chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng cho nên
nguồn tài nguyên rừng đó bị khai thỏc cạn kiệt. Cuộc sống của đồng bào

tổ chức những hoạt động như điều tra, khảo sỏt, xõy dựng từng đề ỏn cụ
thể về đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế xó hội ở miền núi. Những
hoạt động này chủ yếu để giải quyết những vấn đề nổi cộm ở miền núi
mà cuộc sống đũi hỏi phải giải quyết ngay. Liờn quan đến đề tài này, đó
cú một số cụng trỡnh khoa học nghiờn cứu từng lĩnh vực đầu tư của nhà
nước như:
- Trần Văn Vinh, Tác động của chi ngân sách nhà nước đến phát
triển kinh tế- xó hội ở tỉnh Vĩnh Phỳc, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội,
2007.
- Trần Thị Len, Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phũng
ở vựng biờn giới tõy nguyờn, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Hà Nội, 2006
- Lê Đăng Quang, Đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở
tỉnh Bắc Ninh. Luận văn thạc sỹ kinh tế, Hà Nội, 2007.
4
- Đinh Văn Phượng, Thu hút và sử dụng vốn đầu tư để phát triển
kinh tế miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận ỏn tiến sỹ kinh tế, Hà
Nội, 2000.
- Nguyễn Thựy Anh, Vai trũ kinh tế của nhà nước trong bối cảnh
toàn cầu húa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Luận văn thạc sỹ
kinh tế. Hà Nội, 2006.
- Trịnh Diệu Bỡnh, Định canh, định cư với xóa đói giảm nghèo ở
Hà Giang, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Hà Nội, 2007.
Tuy đó cú các cụng trỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài nhưng
chưa có công trình nào nghiờn cứu đầu tư của Nhà nước cho phát triển
kinh tế - xó hội ở miền núi cao núi chung và ở Nghệ An núi riờng. Cho
nờn đề tài này khụng trựng tờn với các cụng trỡnh khoa học đó cụng bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

tra, khảo sỏt, thống kờ, gắn lý luận với thực tiễn trong phõn tớch và tổng
hợp để rỳt ra các kết luận cần thiết.
5. Giới hạn phạm vi nghiờn cứu
- Về nội dung:
Vốn đầu tư của nhà nước tồn tại dưới nhiều hỡnh thỏi như: Các tài
nguyờn thiờn nhiờn đưa vào sử dụng, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và
hạ tầng kinh tế - xó hội, vốn bằng tiền từ ngõn sỏch Nhà nước, từ Ngõn
hàng chính sáchxó hội và các ngõn hàng thương mại nhà nước. Luận văn
tập trung nghiên cứu huy động và sử dụng vốn bằng tiền, chủ yếu là từ ngân
sách nhà nước.
- Về thời gian:
Nghiên cứu thực trạng đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế xó
hội ở các huyện miền núi cao tỉnh Nghệ An từ năm 2001 đến nay và đề
xuất các phương hướng, giải phỏp tới năm 2020.
6. Đúng gúp của luận văn
- Làm rừ một số vấn đề lý luận về phân phối và quản lý sử dụng
vốn đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế xó hội ở miền núi.
6
- Chỉ rừ những thành cụng, những hạn chế trong phõn phối, quản lý
và sử dụng vốn đầu tư của nhà nước ở các huyện miền núi cao tỉnh Nghệ
An.
- Đề xuất một số giải phỏp nõng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước
cho miền núi cao.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết.
Chương 1

bị, nhà xưởng và các nguyên vật liệu, bán thành phẩm dùng cho sản xuất.
Quan điểm này một mặt chỉ coi vốn là những yếu tố vật chất (tư liệu sản
xuất) mà khụng đề cập đến sức lao động, mặt khỏc chưa phản ỏnh được
sự lớn lờn của vốn trong quỏ trỡnh sử dụng.
Theo luật đầu tư năm 2005, vốn là “tiền và các tài sản hợp pháp
khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hỡnh thức đầu tư trực tiếp
hoặc đầu tư gián tiếp”. Cách diễn đạt này chưa thể hiện được sự chuyển
hoỏ các hỡnh thỏi của vốn trong quỏ trỡnh vận động.
Chỳng tụi cho rằng, vốn đầu tư là một phạm trự của kinh tế thị
trường phản ỏnh việc sử dụng tiền tệ để chuyển hoỏ thành các yếu tố của
quỏ trỡnh sản xuất nhằm thu về số tiền lớn hơn hay thực hiện mục đớch sinh
lợi của chủ đầu tư. Với quan niệm như vậy thỡ vốn hay tư bản đều vận động
theo cụng thức:
TLSX
T- H …SX…H’ -T’
SLĐ

Tuy nhiờn, vốn đầu tư để sản xuất ra các sản phẩm hàng hoỏ và
vốn đầu tư để xõy dựng kết cấu hạ tầng cú sự khỏc nhau ở sự chuyển hoỏ
H

- T

. Đối với các hàng hoỏ thụng thường, thực hiện được bước chuyển
hoỏ này là thu về số tiền lớn hơn số tiền ứng ra ban đầu. Cũn vốn đầu tư
xõy dựng kết cấu hạ tầng là sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ cho sản
xuất và đời sống, cho nờn việc chuyển hoỏ H

- T


tế. Vỡ vậy cần phải thu hỳt các nguồn đầu tư từ bên ngoài để đáp ứng nhu
cầu vốn đầu tư.
9
Các nguồn vốn đầu tư trong nước được hỡnh thành từ tiết kiệm
trong nước bao gồm: Tiết kiệm từ ngân sách Nhà nước, tiết kiệm của các
doanh nghiệp và tiết kiệm của dân cư (các hộ gia đỡnh).
Tiết kiệm của ngõn sách Nhà nước là số thu ngõn sỏch nhà nước
cũn lại sau khi đó đỏp ứng nhu cầu chi thường xuyờn, đú là phần được
dành để chi cho đầu tư phát triển từ thu của ngân sách Nhà nước. Chúng
tôi sẽ quay trở lại vấn đề này một cách cụ thể hơn ở phần sau. Tiết kiệm
của các doanh nghiệp là phần lói sau thuế được các doanh nghiệp để lại
dành cho đầu tư phát triển. Trong thực tế, nguồn tự tài trợ cho hoạt động
đầu tư của doanh nghiệp cũn bao gồm cả nguồn vốn thu được từ khấu hao
tài sản cố định.
Tiết kiệm của dân cư là phần thu nhập để dành chưa tiêu dùng của
các hộ gia đỡnh. Tỷ lệ tiết kiệm của dõn cư phụ thuộc vào thu nhập và chi
tiêu của các hộ gia đỡnh. Ngoài ra, nú cũn phụ thuộc vào tõm lý, tập quỏn
tiờu dựng của mỗi quốc gia, dõn tộc, mỗi vựng; vào mức độ động viên
của Nhà nước thông qua các chính sách thuế, phí, lệ phí, các khoản đóng
góp xó hội, tỏc động của chính sách tài chính, tiền tệ …
Các nguồn đầu tư nước ngoài bao gồm: nguồn vốn của các Chính
phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ chức quốc tế và tư nhân
đầu tư vào các nước đang phát triển dưới hỡnh thức trực tiếp và giỏn tiếp.
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI- là nguồn vốn đầu tư của
tư nhân nước ngoài vào một nước khác để tiến hành kinh doanh nhằm
mục đích thu lợi nhuận. Nó được thể hiện dưới nhiều hỡnh thức như: hợp
đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100%

phải được đặt lên hàng đầu. Quan điểm của chúng tôi là luôn khuyến
khích động viên, tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu
tư trong nước thuộc các thành phần kinh tế khác nhau bỏ vốn để đầu tư
sản xuất kinh doanh ở địa bàn này thông qua việc đảm bảo những chế độ
ưu đói hấp dẫn, đồng thời coi các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước là
chính trong việc xõy dựng kết cấu hạ tầng, cú như vậy mới bảo đảm sự
11
ổn định và phát triển kinh tế - xó hội và định hướng cho các nhà đầu tư
đến khu vực miền núi cao tỉnh Nghệ An.
Vốn đầu tư của Nhà nước: Đây là những tài sản và vốn bằng tiền
mà Nhà nước đầu tư hàng năm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định
nào đó để đạt được các mục tiêu về kinh tế- xó hội, quốc phũng - an ninh.
Nguồn cho các khoản đầu tư này bao gồm: Chi ngân sách Nhà nước, các
khoản vay của Chớnh phủ (như phát hành trái phiếu, vay nợ nước ngoài
cho một số dự án…) hoặc một số tài sản quốc gia khác được huy động để
tham gia vào hoạt động đầu tư. Trong thực tế những năm gần đây, sự đầu
tư của Nhà nước cũn thể hiện qua kờnh tớn dụng ưu đói (như chính sách
vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt
khó khăn theo quyết định số 32/T.Tg của Thủ tướng Chính phủ).
Với năng lực hiện nay của nền kinh tế nước ta, vốn đầu tư của Nhà
nước chỉ chiếm khoảng 20- 25% tổng vốn đầu tư cho phát triển toàn xó
hội. Tỷ lệ này là cũn thấp so với một số nước trong khu vực, vỡ vậy
chớnh phủ cần cú những giải phỏp đồng bộ để vừa khơi dậy và thu hút
các nguồn lực để đầu tư cho phát triển, vừa nâng dần năng lực đầu tư của
Nhà nước. Nguồn vốn đầu tư của nhà nước chủ yếu là từ ngõn sỏch nhà
nước nờn mấu chốt là ở chỗ giải quyết vấn đề cõn đối thu chi ngân sách
Nhà nước. Về lâu dài Nhà nước phải cú số thu ngõn sỏch lớn hơn nhiều

xuất kinh doanh vỡ thuế suất cao. Như vậy, việc tăng thuế suất trong
những trường hợp này khụng cú tỏc dụng tớch cực tới việc tăng thu tiền
thuế nữa, nó đó kỡm hóm sự sản xuất, dẫn đến cả doanh nghiệp và nhà
nước đều không đạt được mục đích của mỡnh. Ngược lại, nếu Nhà nước
X

Y
50%
A
c
ựcđạiThuế
suõt
100%

Tiờn lượng
tiền thu
thu
ế

a
13
khụng chọn mức thuế suất là Y (>50%) mà chọn ở mức X (<50%) thỡ
lượng tiền thuế thu được vẫn là “a” và trong trường hợp này thỡ lượng
tiết kiệm, đầu tư vào việc làm trong xó hội sẽ tăng lên rất cao.

tạo sân chơi bỡnh đẳng, tạo điều kiện để các thực thế kinh tế tiếp cận đầy
đủ, kịp thời, công bằng các nguồn lực; bảo đảm sự ổn định, an toàn về
mặt xó hội để các doanh nghiệp kinh doanh… Nhà nước chỉ giữ lại một
số hoặc thành lập những doanh nghiệp mới mà ngành nghề kinh doanh cú
vai trũ trọng yếu trong nền kinh tế; Trong lĩnh vực bảo đảm quốc phũng
an ninh; Trong những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không
muốn đầu tư, không có khả năng để đầu tư như trong xây dựng cơ sở hạ
tầng kỹ thuật quy mụ lớn. Các doanh nghiệp nhà nước được trao đầy đủ
các quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh để thực hiện nhiệm vụ nhà
nước.
Thứ hai, mặc dù vốn đầu tư của Nhà nước hiện nay tuy khụng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển của toàn xó hội,
nhưng với tư cách là một chủ thể kinh tế thỡ Nhà nước là nhà đầu tư lớn
nhất, có trong tay những nguồn lực hùng mạnh nhất. Vỡ vậy việc Nhà
nước đầu tư vào lĩnh vực gỡ, ở đâu có tác động hết sức lớn tới việc thay
đổi cơ cấu ngành kinh tế và vựng kinh tế.
Thứ ba, vốn đầu tư của Nhà nước có nguồn gốc là tiết kiệm chi
Ngân sách Nhà nước nên nó phụ thuộc trước hết vào cán cân Ngân sách
hàng năm và từng thời kỳ; phụ thuộc vào trỡnh độ phát triển của nền kinh
tế và mức độ huy động vào Ngân sách quốc gia của Chính phủ. Ngoài ra
vốn đầu tư cho phát triển của Nhà nước cũn bị ảnh hưởng bởi nhiệm vụ
chi bảo đảm quốc phũng an ninh trong từng thời kỳ của đất nước. C.Mác
đó núi, chi cho quốc phũng an ninh là những khoản chi “mất đi” không
thu hồi lại được, không tạo ra sản phẩm mới, cho nờn một quốc gia nào
mà cú chiến tranh hay phải chi tiờu quỏ nhiều cho quốc phũng an ninh
thỡ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế.
Liên xô (cũ) là một ví dụ cho quan điểm này. Do phải chạy đua vũ trang


16
- Vốn trong doanh nghiệp nhà nước, vốn gúp của Nhà nước trong
các liờn doanh được sử dụng cú hiệu quả, Nhà nước thực hiện được lợi
ớch kinh tế từ các doanh nghiệp sẽ làm tăng số thu ngõn sỏch nhà nước.
- Với sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tổng sản phẩm
quốc dõn (GDP) hàng năm tăng lờn, với một tỷ lệ huy động vào ngõn
sỏch Nhà nước khụng đổi thỡ số thu ngõn sỏch nhà nước ngày càng tăng.
- Số thu ngõn sỏch nhà nước cú tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng
chi thường xuyờn là cơ sở để tăng chi đầu tư phát triển từ ngõn sỏch nhà
nước.
1.1.2. Vai trũ vốn đầu tư của Nhà nước đối với phát triển kinh
tế - xó hội ở các huyện miền núi cao
1.1.2.1. Vai trũ của vốn đầu tư xó hội đối với tăng trưởng và phát
triển
Vốn đầu tư xó hội cú vai trũ quyết định đối với tăng trưởng kinh tế
quốc gia, do vậy nó được quan tâm như một yếu tố quan trọng trong quản
lý kinh tế vĩ mụ. Hầu hết các lý thuyết kinh tế và mụ hỡnh phát triển đều
coi đầu tư là một yếu tố quyết định bảo đảm quá trỡnh tỏi sản xuất mở
rộng trờn quy mụ toàn xó hội. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mỏc -
Lờnin cũng rất quan tâm đến vai trũ của vốn đầu tư trong việc bảo đảm
quá trỡnh tỏi sản xuất mở rộng, bảo đảm cân đối động giữa các khu vực
và quá trỡnh phát triển kinh tế liờn tục. Trong nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước vốn đầu tư có những vai trũ quan trọng sau đây.
Thứ nhất, nó có tác động trực tiếp làm tăng tổng cung của xó hội
về mặt dài hạn, nó quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Mối
quan hệ giữa đầu tư của xó hội với tăng trưởng kinh tế đó được mô tả bởi
hàm sản xuất C0bb-Douglas hoặc mụ hỡnh tăng trưởng Harrod -Domar
hoặc mụ hỡnh tăng trưởng Rostow.


tại giai đoạn lập kế hoạch.
Theo mụ hỡnh tăng trưởng Rostow, đầu tư cũng được coi là yếu tố
quyết định các giai đoạn tăng trưởng với đặc trưng là: Giai đoạn chuẩn bị
cất cánh (đầu tư < 10%) giai đoạn cất cánh (đầu tư > 10%), giai đoạn
trưởng thành (đầu tư > 20%).
Thứ hai, đầu tư là một yếu tố cấu thành có tỷ trọng khá lớn của
tổng cầu (Thường chiếm 20 - 40 % của tổng cầu, chủ yếu là cầu về tư liệu
sản xuất). Do đó về ngắn hạn nó có vai trũ đảm bảo cân đối tổng cung -
tổng cầu trong kinh tế vĩ mụ, gúp phần thực hiện các hàng hoá - dịch vụ
được sản xuất ra của nền kinh tế.
18
Thứ ba, đầu tư có vai trũ quyết định đến quá trỡnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của các quốc gia, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu các vựng
lónh thổ và cơ cấu sở hữu. Phân tích vai trũ của vốn đầu tư đối với tăng
trưởng, ta quan tâm tới sự gia tăng thêm vốn (∆K). Tuy nhiên sự gia tăng
thêm vốn (∆K) trờn thực tế luụn gắn liền với quỏ trỡnh phõn bổ vốn theo
các ngành và vựng kinh tế. Trong những điều kiện khác không đổi, ngành
và vùng nào gia tăng nhanh về vốn sẽ có điều kiện tăng nhanh về năng
lực sản xuất, là điều kiện thiết yếu để gia tăng sản lượng. Do đó, ngành và
vùng đó sẽ có khả năng tăng trưởng nhanh hơn và ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu của nền kinh tế.
Đối với các quốc gia đang phát triển thực hiện chiến lược công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thỡ các mục tiờu chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý
nghĩa rất quan trọng. Các mục tiờu này được thực hiện trên thực tế, thông
qua các hoạt động đầu tư, nhiều ít khác nhau tuỳ theo nhu cầu phát triển
và chính sách đầu tư của Nhà nước đối với từng ngành, vùng.
Thứ tư, việc đầu tư vốn cho các mục tiêu phát triển sẽ tạo cơ hội

Theo J.M.Keynes sở dĩ thất nghiệp, khủng hoảng diễn ra trong nền
kinh tế là vỡ sự giảm sỳt tổng cầu hiệu quả (tức là cầu thực tế), bao gồm
cầu về tiêu dùng và cầu đầu tư. Cầu tiêu dùng giảm là do tác động của
khuynh hướng tiêu dùng giới hạn và thu nhập. Thu nhập tăng lên khi việc
làm tăng, song do tác động của khuynh hướng tiêu dùng giới hạn nên tiêu
dùng tăng chậm hơn so với thu nhập (cũn tiết kiệm lại tăng nhanh) điều
này làm cho tiêu dùng giảm tương đối.
Cầu đầu tư giảm là do sự tác động của hiệu quả giới hạn của tư
bản. Hiệu quả giới hạn của tư bản giảm xuống sẽ làm mất lũng tin của
doanh nhõn vào thu nhập tương lai. Do vậy, họ sẽ từ bỏ việc đâù tư, làm
cho việc thu hỳt việc làm bị ngưng trệ, thất nghiệp tăng (nhất là trong
điều kiện dân số tăng). Cầu đầu tư cũn phụ thuộc vào sự biến đổi lói suất,
khối lượng tiền tệ và khuynh hướng ưa chuộng tiền mặt. Tất cả các nhân
20
tố tác động đến tổng cầu hiệu quả đều tác động đến việc làm. Do vậy để
chống thất nghiệp phải tỡm các biện pháp để tác động vào “Tổng cầu
hiệu quả”. Việc này cần phải có bàn tay của Nhà nước, không thể phó
mặc cho thị trường.
Từ lý thuyết trờn đây của J.M.Keynes chúng ta thấy vốn đầu tư của
Nhà nước có vai trũ quan trọng như thế nào đối với vấn đề việc làm, nhất
là ở những nơi mà lao động dôi dư cũn nhiều như nông thôn, miền núi.
1.1.2.2. Vai trũ vốn đầu tư của Nhà nước đối với phát triển kinh
tế - xó hội ở các huyện miền núi cao
Do đặc thù của các địa phương miền núi cao là: Điểm xuất phát về
kinh tế rất thấp, mặt bằng dân trí chưa bằng các địa phương vùng đồng
bằng, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật yếu kém, vị trớ địa lý, địa hỡnh, khớ
hậu bất lợi, đời sống của đồng bào dõn tộc cũn nhiều khú khăn nên

tế và nhân dân khai thác và phát huy tốt hơn các tiềm năng trên địa bàn từ
tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý đến nhân tố con người và truyền thống
văn hoá…
Thứ năm, đầu tư của Nhà nước tạo điều kiện để đồng bào tiếp cận
và áp dụng những thành tựu của khoa học và cụng nghệ.
Thứ sỏu, việc hàng năm Nhà nước bỏ vốn ra đầu tư cho miền núi
cao thể hiện sự quan tâm ưu đói của Đảng, của chế độ XHCN đối với
những vùng miền lạc hậu, chịu nhiều thiệt thũi. Điều đó có tác động rất
lớn trong việc tạo ra niềm tin của đồng bào các dõn tộc đối với Đảng
cộng sản Việt nam.
Thứ bảy, một trong những mục tiêu cơ bản, có tính nguyên tắc của
Đảng và Nhà nước ta là công bằng xó hội. Tớnh cụng bằng ở đây bao
gồm những yờu cầu về sự bỡnh đẳng, thoả đáng, hợp lý về các quyền
lợi… giữa các dõn tộc, giữa các vùng miền, giữa các tầng lớp dân cư.
Chính hoạt động đầu tư của Nhà nước ở các huyện miền núi cao nhằm đạt
được các mục tiêu như đó núi ở trờn gúp phần rất quan trọng vào việc
thực hiện các mục tiờu của cụng bằng xó hội.
22
1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
TƯ CỦA NHÀ NƯỚC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CÁC
HUYỆN MIỀN NÚI CAO VÀ KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ TỈNH VỀ SỬ
DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CHO CÁC HUYỆN MIỀN NÚI CAO
1.2.1. Các nhõn tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn đầu tư của
Nhà nước cho phát triển kinh tế xó hội ở cac huyện miền núi cao
Nhà nước đầu tư vốn cho miền núi cao nhằm đạt được nhiều mục
tiêu khác nhau, trong đó có những mục tiêu mang tính dài hạn và những
mục tiêu ngắn hạn, giải quyết một số vấn đề trước mắt. Các mục tiêu đó

hiện cho tốt. Nú bao gồm việc xác định đầu tư cái gỡ, ở đâu và khi nào!
Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng vỡ nếu ngay từ lỳc đầu chủ
trương mà không đúng đắn thỡ sẽ để lại một loạt hậu quả tiêu cực cho các
bước tiếp theo của quá trỡnh đầu tư của nhà nước. Thông thường thỡ chủ
trương đầu tư xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn ở các địa phương. Tuy
nhiên sẽ là phiến diện nếu không đặt việc giải quyết nhu cầu đó trong mối
quan hệ tổng thể với các nhu cầu khác và với các địa phương khác. Nó
đũi hỏi phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch ở từng thời kỳ. Tính hiệu quả
của vốn đầu tư không những đũi hỏi phải cú kết quả ở mức cao nhất, mà
cũn yờu cầu kết quả đó đạt được trong điều kiện các chi phí bỏ ra ở mức
thấp nhất nữa. Rừ ràng khi mà các nguồn lực cho đầu tư phát triển của
nhà nước cũn hạn chế thỡ vấn đề này cần phải được quan tâm giải quyết.
Có được chủ trương đầu tư đúng đắn cũng là cách để khắc phục sự lóng
phớ vốn đầu tư.
Thứ hai, xỏc định quy mụ đầu tư phự hợp trước mắt và lõu dài. Ở
đây chúng ta đề cập đến phạm vi về không gian, thời gian và mức vốn
đầu tư cho các chương trỡnh, mục tiờu, dự ỏn, cụng trỡnh. Trong thực
tiễn nhu cầu về đầu tư hết sức phong phú, đa dạng. Việc xác định quy mụ
đầu tư một cách hợp lý cho các chương trỡnh khụng hoàn toàn dễ dàng.
Nú phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở các địa phương trong
từng thời kỳ khác nhau.
24
Lấy ví dụ: Thường thỡ những cụng trỡnh nào cú tổng mức đầu tư
lớn sẽ đem lại kết quả nhiều hơn. Tuy nhiên ở miền núi cao không phải
lúc nào cũng vậy. Chẳng hạn như xây dựng một chiếc đập tràn để bảo
đảm giao thông nông thôn mùa mưa lũ. Trong trường hợp này nếu không
tính toán kỹ lưỡng tác động về mặt môi trường thỡ tiền vốn bỏ ra nhiều

lý phự hợp đối với từng nguồn vốn, từng loại dự án đầu tư. Phân định rừ
trỏch nhiệm quyền hạn của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong từng khâu
của quá trỡnh đầu tư, thực hiện phân công, phân cấp quản lý nhà nước về
đầu tư.
Để quản lý vốn đầu tư của Nhà nước, phải hoàn thiện một loạt các
công cụ quản lý kinh tế và kỹ thuật như: Ban hành các quy phạm đầu tư,
định mức vật tư, lao động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, thiết kế, dự
toán và chế độ thanh quyết toỏn sản phẩm cụng tỏc xõy lắp núi riờng và
đầu tư nói chung.v.v…
Để bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư của Nhà nước, phải làm tốt cụng
việc thanh tra, kiểm tra, giám sát. Công tác này phải được tiến hành ở tất
cả các bước, các giai đoạn của quá trỡnh đầu tư. Sở dĩ như vậy vỡ chỳng
ta xỏc định mục đích chính của hoạt động này là nhằm kịp thời phát hiện,
khắc phục, sửa chữa và ngăn ngừa, để không xẩy ra hậu quả hoặc nếu có
thỡ hạn chế thiệt hại do vi phạm gõy ra, việc sử dụng các phương thức
thanh tra, kiểm tra, giám sát phải đa dạng, linh hoạt, phù hợp với điều
kiện cụ thể, kết hợp thanh tra, kiểm tra từ bên ngoài với thanh tra, kiểm
tra nội bộ, tăng cường giám sát tại chỗ và giám sát thông qua quy chế, cơ
chế quản lý. Xử lý nghiờm minh, kịp thời các hành vi vi phạm trong quản
lý vốn đầu tư của Nhà nước.
Thứ năm, năng lực đội ngũ cán bộ và các tổ chức, đơn vị tiếp nhận
đầu tư. Hoạt động đầu tư cũng là một dạng hoạt động đặc thù vỡ nú liờn
quan tới rất nhiều yếu tố, đặc biệt ở địa bàn miền núi cao lại càng phức
tạp hơn. Trong rất nhiều trường hợp, chủ trương đầu tư là đúng đắn, vốn
đầu tư đỏp ứng yêu cầu của thực tiễn… Nhưng do sự yếu kém của cán

Trích đoạn Bổ sung, hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh t ế xó hội và k ế hoach tiến độ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở các Kết hợp các nguồn vốn: Nguồn từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương với nguồn tín dụng Nhà nước, thực hiện Khuyến khích các nhà đầu tư ứng vốn xây dựng kết cấu hạ tầng trên cơ sở Nhà nướcđảm bảo lợi ích cho các chủ đầu tư Đối với cán bộ công chức Nhà nước Nõng cao trỡnh độ dân trí cho đồng bào các dân tộc sinh sống trên địa bàn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status