Phương hướng và một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời gian tới - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế của tất cả các nước trên thế giới nói chung và sự phát triển kinh tế
của Việt Nam nói riêng. Nhận thức được tầm quan trọng nguồn vốn này hầu
hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều mở cửa thu hút nguồn vốn FDI. Tuy
nhiên, nó còn phụ thuộc vào chính sách phát triển của mỗi nước và còn phụ
thuộc vào khả năng phát triển của từng nước.
Đối với Việt Nam chúng ta cũng vậy, để hoàn thành sự nghiệp CNH-
HĐH, Đảng và nhà nước ta chủ trương mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng
định vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của đất nước. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần
khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên
sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển
đất nước.
Trong thời gian thực tập vừa qua, được sự giúp đở của các thầy cô giáo,
của các cô, các chú trong vụ quản lý dự án. Em đã quyết định chọn đề tài
“Phương hướng và một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời gian tới” làm
nội dung chuyên đề tốt nghiệp. Chuyên đề chia làm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Chương II: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao khả năng thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời gian tới.
Trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề này, mặc dù gặp nhiều khó
khăn trong việc tiếp cận đề tài cũng như phương pháp nghiên cứu, nhưng được
sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo và các cán bộ Vụ Đầu tư nước ngoài -
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, em đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp đúng
tiến độ đã đề ra.
Website: Email : Tel : 0918.775.368

lại không trở thành nợ nước ngoài, nhưng quy mô nhỏ và thường chỉ giới hạn
trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và cứu trợ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế là đầu tư trực tiếp, đầu tư
qua thị trường chứng khoán (Porfolio), cho vay của các định chế kinh tế, các
ngân hàng nước ngoài và nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA).
Cho vay thương mại có lãi suất cao nên dễ trở thành gánh nặng về nợ
nước ngoài trong tương lai. Đầu tư chứng khoán không trở thành nợ nhưng sự
thay đổi đột ngột trong hành động bán chứng khoán, rút tiền về nước của nhà
đầu tư nước ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường vốn, gây biến động tỷ
giá và các mặt khác của nền kinh tế vĩ mô.
Trong khi đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc
tế mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư
vào các dự án nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát các doanh
nghiệp sản xuất hay kinh doanh dịch vụ thương mại. Do vậy, FDI cũng là hình
thức đầu tư quốc tế không trở thành nợ, đây là vốn có tính chất bén rễ ở nước
bản xứ nên không dễ tút đi trong thời gian ngắn.
Vốn góp ở đây có thể bằng tiền (ngoại tệ mạnh, tiền nội địa, các vật khác
coi như tiền), cũng có thể bằng các tài sản hữu hình khác (sức lao động, máy
móc thiết bị, dây chuyên công nghệ...) hay bằng tài sản vô hình (bí quyết công
nghệ, uy tín hàng hoá, quyền sử dụng đất...).
2. Các đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI hiểu theo nghĩa rộng có thể được hiểu là việc thiết lập, giành quyền
sở hữu hay là sự gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư hiện có trong một
công ty, doanh nghiệp ở nước ngoài. Do đó, FDI mang những đặc trưng cơ bản
sau :
- Các chủ đầu tư thực hiện đầu tư trên nước sở tại nên phải tuân thủ theo
các quy định của pháp luật của nước đó đề ta đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài.
- FDI là một hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân, do các chủ đầu tư tự

* Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (HĐHTKD)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
HĐHTKD là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư
kinh doanh tại Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả
kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.
* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do chủ đầu tư
nước ngoài đầu tư vốn thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài được thành lập dưới hình thức công ty TNHH, thời gian hoạt động
không quá 50 năm.
Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, thành lập và hoạt động theo hình
thức công ty TNHH, tuân thủ theo pháp luật của nước sở tại.
Toàn bộ vốn đầu tư duy trì sản xuất kinh doanh, kể cả phần đầu tư xây
dựng cơ sở vật chát ban đầu do nhà đầu tư nước ngoài bỏ ra.
Vốn pháp định của doanh nghiệp không thấp hơn 30% vốn đầu tư.
Trong thời gian hoạt động hoạt động không được giảm vốn pháp đinh. Việc
tăng vốn pháp định phải được cơ quan cấp giấy phép chuẩn y.
Chủ đầu tư nước ngoài nắm 100% quyền quản lý, điều hành sản xuất,
kinh doanh và tự chịu tách nhiệm với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
* Hình thức doanh nghiệp liên doanh (DNLD)
DNLD là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt
Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa Chính phủ
Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do DNLD hợp tác với nhà đầu
tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Trong hình thức này mỗi bên sẽ
chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết vào vốn pháp định của liên
doanh.
Ngoài ba hình thức cơ bản trên còn có các hình thức khác như: Xây
dựng - chuyển giao - kinh doanh (BOT); Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao

thức đầu tư ở nước ngoài nhằm giảm chi phí sản xuất thông qua việc tận dụng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lao động và tài nguyên rẻ của nước sở tại, nhằm tăng sức cạnh tranh của nước
sở tại, nâng cao tỷ suất lợi nhuận. Hình thức này còn giúp cho chủ đầu tư giải
quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội khác như: tránh được những quy định chặt
chẽ của các nước phát triển về môi trường sự dư thừa vốn trong nền kinh tế thị
trường, sự tăng giá của đồng tiền...
- Đầu tư định hướng nguồn nguyên liệu (resource seeking investment):
là hình thức đầu tư theo chiều dọc, trong đó các cơ sở đầu tư ở nước ngoài là
một bộ phận cấu thành, trong dây truyền kinh doanh của công ty mẹ, có trách
nhiệm khai thác nguyên liệu tại chổ của nước sở tại, cung cấp cho công ty mẹ
để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm. Hình thức này giúp chủ đầu tư tháo gỡ được
khó khăn khi thiếu nguồn nguyên liệu phù hợp với các dự án: khai thác và sơ
chế các sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, khai thác dầu khí và các tài nguyên
thiên nhiên khác.
Ngoài ra, hiện nay còn tồn tại một loại hình đầu tư nữa rất phổ biến là
đầu tư định hướng liên minh: Là hình thức đầu tư có mục đích tạo thế độc
quyền, thương là do các nhà đầu tư tiến hành sát nhập với nhau. Hình thức này
đem lại mối lợi lớn cho nhà đầu tư nhưng không có lợi cho thị trường.
2. Môi trường đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư (Các yếu tố khách
quan).
Môi trường đầu tư nước ngoài là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế,
xã hội có liên quan, tác động đến các hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng
sinh lợi của vốn đầu tư. Đây cũng là tổng hoà các nhân tố chủ quan đối với một
nước khi tiếp nhận dòng vốn FDI.
2.1. Môi trường chính trị.
Môi trường chính trị phải ổn định là tiền đề quan trọng quyết định đến
đầu tư hay không của các nhà đầu tư. Môi trường đầu tư ổn định sẽ góp phần
cũng cố lòng tin của các nhà đầu tư, làm cho họ yên tâm hơn khi quyết định bỏ
vốn. Nhà đầu tư nước ngoài có mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nên họ không

XÃ HỘI CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Tác động tích cực của FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được nhìn nhận khác nhau từ phía các nước
đang phát triển. Trong những thập kỷ 60 và 70 do mới thoát khỏi chế độ thuộc
địa, phần lớn các nước đang phát triển đã theo hướng xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ, thực hiên chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh đó vẫn được coi là một hình thức xuất khẩu
tư bản, một phương tiện xâm lược kinh tế từ bên ngoài và do đó cần có thái độ
thận trọng. Xét từ phía các nhà đầu tư nước ngoài đó là thời kỳ đi tìm các
nguồn tài nguyên nguyên liệu mới và hướng chính trong đầu tư vào các nước
đang phát triển là khai thác tài nguyên. Từ thập kỷ 80 trở lại nay đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển đã có những chuyển biến về chất,
xét cả về động cơ của nhà đầu tư cũng như mong muốn của chủ nhà. Nền kinh
tế thế giới phát triển theo hướng toàn cầu hoá, các nước đều nhận thức được
tính tất yếu của sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế. Đầu tư nước ngoài trở
thành một yêu tố quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả
các quốc gia trong đó có cả nước đang phát triển. Những tác động cơ bản của
FDI xét từ cách nhìn nhận như vậy thể hiện trên những khía cạnh sau đây.
1.1. FDI là một trong những nguồn vốn quan trọng để bù đắp sự thiếu
hụt vốn đầu tư, góp phần tạo ra sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tỷ lệ vốn tích luỹ từ trong nước, đặc biệt là ở những nước đang phát
triển còn ở mức thấp là một trở ngại lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã
hội. Thu hút FDI là một hình thức huy động vốn để hổ trợ cho nhu cầu đầu tư
của nền kinh tế.
FDI vào các nước đang phát triển sẽ tạo động lực tích cực đối với việc
huy động các nguồn vốn khác như ODA, vốn đầu tư trong nước... Từ đó nó tạo
ra hình ảnh đẹp, đáng tin cậy về nước này trong các tổ chức và cá nhân nước
ngoài. Hơn nữa ngay trong quan hệ đối nội, FDI còn có tác dụng kính thích đối
với việc thu hút vốn đầu tư trong nước.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
những công nghệ hơn hẳn công nghệ trong nước hoặc trong nước chưa có.
Trong đó, hơn 60% là đầu tư vào chiều sâu, đã giúp cho việc nâng cao năng
lực sản xuất trong nước đẻ sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng
cao, giá cả phù hợp, đáp ứng nhu câu trong nước và phần lớn xuất khẩu để thu
ngoại tệ. Đồng thời, FDI cũng kích thích các doanh nghiệp trong nước nhanh
chóng đổi mới hoặc cải tiến công nghệ hiện có để nâng cao khả năng cạnh
tranh trên thị trường.
1.3.FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong điều kiện kinh tế mở, các quan hệ kinh tế quốc tế tạo ra động lực
và điều kiện cho sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của các nước. Trong đó,
FDI là một động lực mạnh mẽ, tác động to lớn đến chuyển dịch kinh tế theo
hai hình thức: chuyển dịch cơ cấu ngành (đơn tức phân công lao động xã hội
theo chiều ngang) và chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành (tức phân công
lao động xã hội theo chiều dọc).
Sự tập trung đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành
nghề và địa phương có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ góp phần làm phát huy nội lực
của các ngành và lĩnh vực đó, đồng thời kéo theo sự phát triển của một số
ngành nghề có liên quan như các ngành bổ trợ đầu tư, các ngành tiêu thụ đầu
ra... và một số vùng lân cận. Khi đầu tư vào các lĩnh vực và các ngành này trở
nên bão hoà, các nhà đầu tư sẽ chuyển sang các ngành nghề và địa phương
khác theo định hướng của chính phủ thông qua một số chính sách, ưu đãi đầu
tư. Như vậy nó đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng
lãnh thổ theo hướng tích cực .
Những năm qua, nhờ có nguồn vốn FDI đầu tư vào nền kinh tế Việt
Nam đã làm chuyển dịch từ một nền kinh tế mà nông nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn sang một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm
ưu thế. Đặc biệt, đối với một số ngành như công nghiệp và xây dựng cơ bản,
dầu khí, bưu chính viễn thông là những ngành then chốt lại có tỷ lệ vốn FDI rất
cao. Đầu tư nước ngoài đã phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

1.5. FDI làm tăng thu ngoại tệ và làm tăng nguồn thu cho Ngân sách
Nhà nước
FDI đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước thông qua
việc thu thuế, phí và các nghĩa vụ tài chính khác của các doanh nghiệp. Trong
những năm gần đây, khu vực đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đã tạo ra trên 13%
GDP, trên 34% giá trị sản xuất công nghiệp và gần 7% nguồn thu ngân sách
của nhà nước. Thành tựu này thực sự có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng của cả nước, thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững mà
Đảng và Nhà nước đã đề ra.
FDI như là một giải pháp để cải thiện cán cân thanh toán quốc tế vì luôn
có tình trạng mất cân đối chủ yếu là do nhập khẩu, hầu hết các dự án FDI có
chủ trương tăng cường xuất khẩu, từ đó thu lượng ngoại tệ lớn cho nước chủ
nhà. Từ thời kỳ 1988 đến nay tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI đạt
hơn 13,8 tỷ USD. Tuy chưa phải là nhiều song trong bối cảnh kinh tế của nước
ta cũng như thế giới hiện nay, kết quả này thật đáng khích lệ, đã góp phần nâng
cao năng lực xuất khẩu và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam.
1.6. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế
Khi các nước đang phát triển nhận thức được rằng, sự phát triển kinh tế
không những phải dựa vào thị trường thế giới để tham gia phân công lao động
quốc tế thì một vấn đề được đặt ra là bằng cách nào có thể thực hiện quá trình
đó một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.
Hội nhập kinh tế thế giới có nghĩa là định hướng phát triển từ thay thế
nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu. Các nghiên cứu về quá trình phát triển
kinh tế của các nước đang phát triển cho thấy một trong những yếu tố đảm bảo
cho chiến lược công nghiệp hướng về xuất khẩu thành công là thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Điều này, về mặt lý thuyết là do đầu tư trực tiếp gắn bó
chặt chẽ với thương mại, về mặt thực tế thì các nước đang phát triển rất thiếu
kinh nghiệm và khả năng xâm nhập thị trường nước ngoài. Thông qua đầu tư
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Thông qua hình thức FDI, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chiếm lĩnh
thị trường, đẩy các doanh nghiệp trong nước vào một môi trường không cân
sức giưa một bên là các công ty xuyên quốc gia luôn có thế mạnh về tài chính,
kỹ thuật, công nghệ với một bên là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực
thấp. Nếu các doanh nghiệp này không chuẩn bị kịp và vươn lên đứng vững họ
sẽ bị đào thải khỏi cuộc đua.
Hoạt động FDI còn nhằm khai thác các nguồn tài nguyên mà nước đầu
tư không có hay khan hiếm, cộng với sự quản lý lỏng lẻo về khai thác và sử
dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường của nước chủ nhà sẽ dẫn đến việc khai
thác một cách bừa bãi, làm cho nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và gây ra
hậu quả ô nhiễm môi trường.
2.1. Những ảnh hưởng về mặt chính trị - xã hội
Hiện nay, một trong những điều làm Chính phủ các nước đang phát triển
lo ngại khi mở cửa đón nhận FDI là việc thông qua hoạt động này, các nước
công nghiệp phát triển có thể can thiệp vào nội bộ chính trị của nước mình.
Với những tác động tiêu cực đã nêu trên, có thể thấy rằng bằng cách
tăng cường sự phụ thuộc kinh tế, thôn tính các doanh nghiệp... các nước công
nghiệp phát triển có thể gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế và lợi dụng điều đó để
can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nước sở tại.
IV. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THU HÚT FDI VÀO VIỆT NAM
1. Việt Nam mở cửa thu hút FDI là xu hướng tất yếu của quá trình
hội nhập.
Như trên đã nêu rõ, trong xu thế khu vực hoà và toàn cầu hoá kinh tế
phát triển mạnh mẽ, việc thu hút và sử dụng nguồn lực từ bên ngoài thông qua
hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT) nhằm bổ sung và phát triển nguồn lực trong
nước là xu thế phát triển tất yếu của hầu hết các nước trên thế giới. Trong tiến
trình hội nhập, FDI chính là con đường hiệu quả để tiếp cận với các thành quả
tiến bộ chung của thế giới trên mọi lĩnh vực.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
FDI không chỉ là một giải phát phát triển nền kinh tế khi trong nước

khoản nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay đã đạt tới ngưỡng cửa báo động
với mức bình quân 200 USD/ người, trong đó một số khoản đã và sắp đến hạn
phải trả. Do đó, trong những năm tới, đầu tư và phát triển từ ngân sách sẽ khó
tăng mạnh vì phần không nhỏ của nó phải để dành trả lãi và nợ nước ngoài đến
hạn.
Ngược lại, nhu cầu vốn đầu tư phát triển (ĐTPT) nhằm thực hiện những
mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội rất lớn. Theo ước tính sơ bộ của
bộ kế hoạch và đầu tư, tổng số vốn ĐTPT toàn xã hội thời kỳ 2001- 2005 lên
tới 65 -70 USD, trong đó nguồn vốn nước ngoài cần tới 22 - 25 tỷ USD, chiếm
khoảng 30 -35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong khi đó, nguồn vốn ODA
có chiều hướng giảm cả về quy mô và mức độ ưu đãi, nguồn vốn vay Thương
mại để tự đầu tư không nhiều, phải chịu lãi suất cao, điều kiện vay khắt khe,
chịu rủi ro của biến động tỷ giá. Do vậy khả năng gần 30% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội cho thời kỳ 2001 - 2005 là dựa vào FDI. Đây là một tỷ lệ huy động
vốn đầu tư nước ngoài rất cao (tỷ lệ này đối với Trung Quốc là 0,3%; Thái Lan
4,4%; Philipin 2,5%, Malaysia 10,7% tính bình quân cho thời kỳ 1980 - 1989).
Điều này chứng tỏ mức độ phụ thuộc cao của quá trình CNH - HĐH ở Việt
Nam vào nguồn lực bên ngoài. Nói cách khác nhu cầu vốn cho đầu tư phát
triển và khả năng huy động vốn của Việt Nam đang và sẽ là một bài toán khá
nan giải đặt ra cho đất nước ta trong thời gian tới. Do vậy, cũng như các nước
đang phát triển khác, để tránh “cái vòng luẩn quẩn” về phát triển kinh tế, đòi
hỏi Việt Nam phải có biện pháp thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài,
nhất là nguồn vốn FDI.
3. FDI có ưu thế hơn so với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác.
Đối với nước ta, trong số các kênh bổ sung từ bên ngoài, nguồn vốn FDI
là kênh đầu tư tương đối an toàn, do nhà đầu tư nước ngoài tự chịu trách nhiệm
về hiệu quả đầu tư, chịu trách nhiệm vay và trả nợ, không để lại gánh nợ nần
cho ngân sách Nhà nước, như vay Thương mại, không chịu sức ép ràng buộc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các điều kiện kinh tế, chính trị như vay ODA, đồng thời tránh cho nước ta khỏi

chính trị, xã hội và các nhân tố tự nhiên khác. Cuộc khủng hoảng tài chính -
tiền tệ khu vực Châu Á cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế
giới đã khiến hoạt dộng đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều biến đổi sâu sắc.
Trong những năm gần đây, FDI ngày càng dược mở rộng và tăng lên cả về quy
mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư, đồng thời thể hiện vị trí, vai trò
ngày càng to lớn trong quan hệ kinh tế quốc tế. Sự vận động của FDI đang thay
đổi đáng kể theo những xu hướng sau:
1. Quy mô FDI không ngừng tăng lên cả về số tuyệt đối và tỷ trọng
trong tổng vốn đầu tư của toàn thế giới
Càng về cuối thập kỷ 90, tốc độ lưu chuyển FDI càng tăng nhanh, lên tới
20% mỗi năm. phải mất 12 năm từ năm 1974 đến 1986 để FDI tăng gần gấp
đôi (năm 1974 là 40 tỷ USD, nhưng đến năm 1986 là 76 tỷ USD. Nhưng chỉ 6
năm sau, đến năm 1992 FDI đã tăng lên hai lần, đạt mức 168 tỷ USD và chỉ 3
năm tiếp theo tức đến năm 1995 FDI đạt mức 325 tỷ USD. Năm 1998, theo
báo cáo của tổ chức Hội nghị về buôn bán và phát triển của Liên hiệp quốc
(UNCTAD), tổng FDI của thế giới là 636 tỷ USD. Năm 1999 khối lượng FDI
trên toàn thế giới đạt 865 tỷ USD, tăng 36% so với năm 1998, gấp 10 lần so
với 10 năm trước. Năm 2000 đạt khoảng 1000 tỷ USD, tăng 16% so với năm
1999. Theo dự báo trong 5năm đầu của thế kỷ XXI, dòng FDI tiếp tục gia tăng
vượt tốc độ tăng trưởng kinh tế và thương mại của thế giới.
Cơ sở của sự gia tăng không ngừng quy mô FDI là quá trình toàn cầu
hoá nền kinh tế thế giới, môi trường chính trị - xã hội thuận lợi và tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá đều đặn của các quốc gia, trong khu vực và trên toàn thế
giới những năm gần đây. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhất là hệ thống
thông tin liên lạc, giao thông cũng thuận lợi, trợ giúp các hoạt động FDI diễn
ra thuận tiện, nhanh chóng.
2. Cơ cấu đầu tư thay đổi theo hướng tập trung vào lĩnh vực công
nghiệp chế biến và dịch vụ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong giai đoạn hiện nay, FDI có xu hướng tập trung vào hai ngành chủ

thu hút FDI từ các TNCs.
Hiện nay, các TNCs vẫn tiếp tục vươn dài ra các khu vực khác nhau trên
thế giới với quy mô FDI ngày càng lớn, đóng vai trò ngày càng quan trọng đầu
tư trực tiếp nước ngoài và đẩy mạnh quá trình đầu tư ra nước ngoài. Bên cạnh
việc giữ vững các khu vực đầu tư truyền thống như Châu Âu, Bắc Mỹ, TNCs
đều đẩy mạnh đầu tư vào khu vực Châu Á. Châu Á cũng là địa bàn ưu tiên đầu
tư hàng đầu của Nhật Bản, thứ hai là Mỹ (sau Châu Âu) và thứ ba là các nước
Châu Âu (sau Bắc Mỹ và Châu Âu).
FDI ngày nay có mối liên hệ chặt chẽ với chiến lược toàn cầu của công
ty xuyên quốc gia. Trong những năm gần đây, các hình thức đầu tư chủ yếu
của TNCs là hợp nhất hoặc mua lại các chi nhánh công ty ở nước ngoài đây
cũng là chiến lược hợp tác phát triển chính của các TNCs. Những năm cuối
thập kỷ 90 đã đánh dấu thời kỳ sát nhập trên diện rộng các TNCs thành các
công ty lớn hơn. quá trình sát nhập vừa thúc đẩy mức độ quốc tế hoá hệ thống
sản xuất, tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn, phản ứng lại áp lực cạnh tranh, tăng
cường hợp tác, tin tưởng lẫn nhau, đồng thời cũng tạo ra tính độc quyền cao để
cùng nhau thống trị, chi phối nền kinh tế thế giới và khu vực đối với các tập
đoàn khổng lồ này. Đặc biệt, hình thức đầu tư mua lại các chi nhánh ở nước
ngoài là cách nhanh nhất để thiết lập sự có mặt của các TNCs ở nước chủ nhà,
giúp sử dụng hiệu quả mạng lưới cung ứng và hệ thống phân phối sẵn có, mở
rộng thị phần, tránh được hàng rào thuế quan, tăng năng lực cạnh tranh và
nguồn thu lợi nhuận.
Giá trị giao dịch hợp nhất, mua bán cổ phần thuộc vốn của các công ty
nước ngoài trong năm 1998 đạt 229 tỷ USD, trong đó chủ yếu là các giao dịch
mua bán có giá trị trên 1 triệu USD. Nếu xét các vụ mua bán và sát nhập cả
trong phạm vi một quốc gia, thì giá trị này chỉ riêng ở Châu Âu năm 1999 đã
lên tới 894 tỷ USD và trong 11 tháng của năm 2000 đạt con số kỷ lục là 888,3
tỷ USD, cao hơn nhiều so với đầu tư quốc tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những ngành diễn ra những hoạt động hợp nhất, mua lại nhộn nhịp nhất

tục trong phân bổ FDI giữa các quốc gia và khu vực trên toàn thế giới.
5. Ngày càng gia tăng tính không đồng đều trong phân bố và lưu
chuyển FDI
FDI tập trung với mức độ và quy mô khác nhau trong mỗi nền kinh tế,
tốc độ tăng trưởng dòng FDI cũng hoàn toàn khác nhau ở mỗi nước và không
ổn định qua các năm. Các nước phát triển tiếp tục là các nhà đầu tư hàng đầu
thế giới, đồng thời là những địa chủ thu hút đại bộ phận đầu tư quốc tế. Trước
những năm 90, FDI có nguồn gốc từ các nước phát triển chiếm trên 93% và
hiện nay chiếm khoảng 88% tổng vốn FDI của thế giới. Đồng thời, các nước
phát triển cũng thu hút phần lớn vốn FDI của thế giới với nhịp độ tăng FDI
bình quân hàng năm vài chục phần trăm trong mấy năm gần đây, dẫn đến tỷ
trọng FDI tập trung vào các nước này cũng không ngừng tăng lên.
Mỹ và EU là tâm điểm của dòng lưu chuyển FDI của thế giới. Trong hai
năm 1998, 1999 riêng Mỹ nhận gần 1/4 FDI, còn EU tiếp nhận khoảng gần 1/2
FDI của toàn thế giới. Nền kinh tế Mỹ và các nước EU tăng trưởng liên tục là
tác nhân thu hút mạnh FDI và làm chậm quá trình di chuyển vốn đầu tư ra
nước ngoài.
Các nước phát triển vẫn là lực lượng thứ yếu đối với việc thu hút và thúc
đẩy luồng vốn FDI quốc tế. Mặc dù tăng lên về quy mô, nhưng tỷ trọng FDI
vào các nước đang phát triển liên tục giảm do đầu tư vào các nước này có
chiều hướng chậm lại, từ chỗ chiếm 70% FDI toàn thế giới những năm 60 đã
chuyển dịch ngược lại vào đầu thập kỷ 90. Năm 1998 và 1999, FDI đổ vào các
nước đang phát triển tương ứng là 170,9 tỷ USD và 178 tỷ USD, chiếm 22,5%
tổng FDI của thế giới. Năm 2002 lượng vốn FDI vào các nước đang phát triển
khoảng 240 tỷ USD.
Nhưng ngay trong các quốc gia đang phát triển, FDI cũng phân bố
không đồng đều. Từ cuối thập kỷ 80 trở lại đây, 2/3 FDI được tập trung cho 10
nước có trình độ kinh tế tương đối cao của hai khu vực Châu Á và Mỹ La Tinh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
gồm: Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái lan, Hồng Kông, Đài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status