Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. - Pdf 32

LỜI MỞ ĐẦU
-----------------------------------------------------------------------------------
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn luôn giữ
một vai trò quan trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội,
nhiều nguyên liệu cho công nghiệp, nhiều hàng cho xuất khẩu (khi ngoại
thương phát triển). Bước vào thế kỷ XXI, với những thách thức về an ninh
lương thực, dân số, môi trường sinh thái,… nông nghiệp được dự báo là vẫn
tiếp tục giữ vai trò quan trọng ấy. Trong thế kỷ XX, nông nghiệp thế giới đã có
những bước tiến vượt bậc, phát triển từ giai đoạn sản xuất nông nghiệp truyền
thống sang giai đoạn hiện đại hoá nông nghiệp, nhờ vậy kinh tế nông thôn và
đời sống của người dân nông thôn cũng có nhiều chuyển biến. Đặc biệt, trong
vài thập kỷ trở lại đây, với sự tiến triển nhanh chóng của những xu thế lớn trên
thế giới, như cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế, kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức,… nhận thức về nông
nghiệp, nông thôn và nông dân đã có những sự thay đổi.
Ở Việt Nam chúng ta, một đất nước còn nặng về nông nghiệp, những thành tựu
của 20 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt là công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,… đã góp phần làm thay đổi nhận thức về
nông nghiệp, nông thôn và nông dân., Nghị quyết 5 của Trung ương khoá IX
đã đặt giải pháp về công tác quy hoạch ở vị trí đầu tiên trong hệ thống giải
pháp nhằm đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ 2001-
2010. Nghị quyết khẳng định: “Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn
phải đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội cả nước, trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học,
công nghệ và thị trường;… Chú trọng làm tốt quy hoạch những vùng sản
xuất hàng hoá tập trung (cây, con, sản phẩm, ngành nghề…); quy hoạch xây
1
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xãhội; quy hoạch phát triển khu dân cư, xây
dựng làng, xã, thị trấn; gắn kết chặt chẽ với an ninh- quốc phòng, phòng
chống, hạn chế, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc

và các doanh nghiệp liên kết một cách chặt chẽ.
Như vậy động cơ chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là phần vốn được sử
dụng ở nước ngoài gắn liền với việc tạo ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc phục vụ
việc kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp nhận
phần vốn đó.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài bổ sung năm 1996 và trong lần sửa đổi, bổ sung
một số điều ngày 9/6/2000 (điều 2 khoản 1) của Việt Nam" FDI là việc nhà
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền mặt hoặc bất kỳ tài sản nào
để tiến hành đầu tư theo quy định của Luật này".
3
Theo Luật này, những tài sản và vốn sau đây mới được đưa vào sử dụng nhằm
xây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mới trang thiết bị kỹ thuật hiện có:
- Các loại thiết bị máy móc, dụng cụ (gồm cả những dụng cụ dùng để thí
nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật.
- Quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, phương pháp công
nghệ, bí mật kỹ thuật
- Vốn bằng ngoại tệ để chi lương cho nhân viên và công nhân làm việc ở các
cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định của Luật này.
Luật này cho thấy không phải bất kỳ sự vận động nào về vốn từ nước ngoài
vào Việt Nam cũng đều là đầu tư nước ngoài. Những tài sản và vốn muốn đưa
vào Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam.
2. Phân loại hoạt động FDI.
Phân loại theo tỷ lệ sở hữu vốn.
- Vốn hỗn hợp ( vốn trong nước và nước ngoài ).
Hợp đồng hợp tác kinh doanh : Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng,
thường được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí,
công nghiệp gia công và dịch vụ. Các bên tham gia hợp đồng vẫn là những
pháp nhân riêng, thời hạn hợp đồng thường ngắn. Do vậy loại hình này thích
hợp với các nhà đầu tư nước ngoài có ít tiềm lực về vốn.

transfer) BOT.
o Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh ( building – transfer –
operate ) BTO.
o Hợp đồng xây dựng – chuyển giao ( building – transfer ) BT.
Phân loại theo mục tiêu.
FDI phụ thuộc vào mục tiêu của chủ đầu tư mà có thể chia ra làm đầu tư theo
chiều rộng ( chiều ngang – HI ) và đầu tư theo chiều sâu ( chiều dọc – VI ).
5
HI là hình thức chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất một sản
phẩm nào đó ( công nghệ, kỹ năng quản lý...) và chuyển việc sản xuất sản
phẩm này ra nước ngoài.
VI là hình thức mà chủ đầu tư chú ý đến việc khai thác nguồn nguyên liệu tự
nhiên dồi dào và lao động rẻ ở nước ngoài để sản xuất các sản phẩm có thể
nhập lại về nước mình hay xuất khẩu sang nước khác.
Phân loại theo phương thức thực hiện.
FDI có thể thực hiện theo 2 hướng là đầu tư mới ( greenfield ) hoặc sáp nhập
và mua lại ( M&A – Merger and Acquisition ).
Đầu tư mới là việc chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở bằng cách xây dựng các
doanh nghiệp mới ở nước ngoài, đây là hướng đi truyền thống và thường được
chủ đầu tư của các nước phát triển áp dụng ở nước đang phát triển.
Hướng thứ hai là sáp nhập hoặc mua lại các công ty của nước khác thường
được tiến hành giữa các nước pt, các NICs và rất phổ biến trong những năm
gần đây.
Các nước đang phát triển chủ yếu lựa chọn phương thức đầu tư mới do ở các
nước này năng lực sản xuất còn thiếu và yếu. Đầu tư mới sẽ giúp hình thành
nên hàng loạt cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong những lĩnh vực mới
mà nhà nước nhận đầu tư chưa từng có.
3. Vai trò của đầu tư nước ngoài.
Vai trò đối với nước đi đầu tư.
Dựa trên lý thuyết xuất khẩu tư bản của Lênin thì ĐTNN là yếu tố sóng còn

Việc các nước đang phát triển loại bỏ được kiểm soát dòng vốn qua biên giới,
đặc biệt là các dòng vốn chảy vào và dỡ bỏ dần những hạn chế trong thanh
toán và giao dịch thông qua tài khoản đã đẩy nhanh hơn tốc độ liên kết kinh tế
quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nước ngoài. Điều đó cũng có nghĩa
7
là các nước có cơ hội để phát triển và mở rộng thị trường để tiêu thụ sản
phẩm, có điều kiện thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn
viện trợ phát triển của các nước và các định chế tài chính quốc tế như ngân
hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, ngân hàng phát triển châu Á , có điều kiện
tiếp nhận công nghệ tiên tiến thông qua các dự án đầu tư. Thông qua FDI, các
công ty trong nước có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu và nhập khẩu,
tăng quy mô sản xuất cũng như khả năng tiếp cận đến mạng lưới tiếp thị quốc
tế.
Tuy nhiên, mức độ khai thác các tiềm năng này phụ thuộc rất nhiều vào chính
sách thu hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể
là một động lực mạnh mẽ cho phát triển và tăng trưởng ở các nước đang phát
triển, nhưng nó cũng có thể gây rối loạn cho quá trình phát triển nếu không
được quản lý cẩn trọng. Các nguy cơ tiềm ẩn đối với đầu tư nước ngoài có thể
là yêu cầu bảo vệ thị trường nội địa (qua đó làm méo mó thị trường); mất khả
năng kiểm soát đối với các ngành thuộc sở hữu nước ngoài; chịu ảnh hưởng
lớn hơn trước những cú sốc từ bên ngoài.
- Góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ.
Thông qua các doanh nghiệp có vốn FDI, những công nghệ tiên tiến, hiện đại
trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất, sẽ được du
nhập vào đất nước, tạo sự phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn. Các
doanh nghiệp có có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao hơn sẽ
có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ và nâng
cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế. - Góp
phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ngày nay sự giàu có và khả năng cạnh tranh của một quốc gia không còn đơn

khâu để đạt hiệu quả cao hoặc thông qua triển khai dự án. Các nhà đầu tư nước
ngoài không chỉ chuyển giao máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu mà còn
9
chuyển giao cả những tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cận thị
trường...Điều này bắt buộc các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao trình
độ và kinh nghiệm của mình trong công tác quản lý
II. Những vấn đề lý luận chung về ĐTNN vào lĩnh vực nông nghiệp.
Có hàng loạt các yếu tố khác nhau có thể tác động tới môi trường đầu tư. Dựa
trên nghiên cứu của P.Timmer & McCulloch, các chuyên gia của Ngân hàng
Thế giới tổng kết các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư vào khu vực nông thôn, nhất
là tác động tới các doanh nghiệp nông thôn (Hình 1)
Hình 1: Các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư nông thôn
Thu nhập nông thôn phi
nông nghiệp
Di

cư Kinh

tế




Nhu cầu “địa phương”
Thu nhập từ nông
nghiệp
Cấp

vốn





&

tiền

công

[kỹ
năng



văn

hóa]
Tiếp cận công nghệ
Tiền

gửi

về
Nhu cầu sản phẩm đầu
ra của các doanh
nghiệp nông thôn
DOANH NGHIỆP
NÔNG THÔN
Sản xuất nội địa phi nông
nghiệp

phép
Môi
10
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐTNN TRONG LĨNH VỰC
NÔNG LÂM NGHIỆP – NÔNG THÔN ( NLN - NT).
Luật đầu tư nước ngoài đã được ban hành ngày 26 tháng 12 năm 1987 và có
hiệu lực từ ngày 1/1/1988 đến nay đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm
1990, 1992, 1996, 2000 và 2005. Sau 20 năm, hoạt động đầu tư nước ngoài
vào lĩnh vực NLN – NT đã đạt được những thành tựu rất khả quan. Bên cạnh
đó còn một số hạn chế. Trong chương này chúng ta sẽ xem xét những thành
tựu, hạn chế trong hoạt động ĐTNN vào lĩnh vực nông nghiệp và những
nguyên nhân gây ra những hạn chế đó.
I. NHỮNG THÀNH TỰU.
1. Đầu tư bổ sung nguồn vốn cho đầu tư lĩnh vực này, góp phần tăng
nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Trong những năm kể từ sau “Đổi mới”, FDI vào Việt Nam có vai trò rất lớn
trong việc tạo vốn đầu tư xã hội, góp phần không nhỏ vào các hoạt động
kinh tế của cả nước. Trong suốt một thập kỷ qua, khu vực có vốn FDI chiếm
tỷ trọng ngày càng tăng trong GDP. Năm 2003, khu vực FDI đóng góp 14%
GDP so với tỷ lệ đóng góp 6,4% của khu vực này năm 1994. Bên cạnh đó,
khu vực có vốn FDI luôn dẫn đầu về tốc độ tăng giá trị gia tăng so với các
khu vực kinh tế khác và là khu vực phát triển năng động nhất.
Hình 2: FDI thực hiện so với tổng đầu tư toàn xã hội và so với GDP.
Nguồn: Nguyễn Thị Tuệ Anh et al, 2005.
Theo báo cáo của Nhóm cố vấn Hợp tác Quốc tế ( ISG – Bộ Nông nghiệp và
PTNT), hàng năm, khu vực nông nghiệp nông thôn thu hút khoảng 50 dự án
với giá trị khoảng 200 triệu USD. Phần lớn các dự án FDI trong nông nghiệp
có quy mô nhỏ và trung bình, phân bố gần các vùng nguyên liệu. Những
doanh nghiệp này đóng góp trên 17 triệu USD cho ngân sách và trên 500
triệu USD trong kim ngạch xuất khẩu...

nghiệp nhẹ chiếm 32,7%. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2007, FDI vào lĩnh
vực nông nghiệp chiếm 2,46% tương đương với 107 triệu USD trên tổng sô
4,3 tỷ USD vốn FDI của cả nước. Vốn FDI thực hiện trong nông nghiệp
nông thôn là 1,9 tỷ (chiếm 6,3%)
Hiện nay, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm
nghiệp chủ yếu được thực hiện dưới hai hình thức là doanh nghiệp liên
doanh và doanh nghiệp 100 % vốn nước ngoài. Trong đó, hình thức 100%
vốn nước ngoài chiếm tới 77,4%, liên doanh chiếm 22,1% và hợp đồng hợp
tác kinh doanh chỉ chiếm 0,5% tổng vốn đầu tư.
Hình 3: FDI trong nông lâm nghiệp theo hình thức đầu tư (chỉ tính các
dự án còn hiệu lực). Nguồn MARD.
2. Bước đầu chủ trương chuyển dịch cơ cấu nông lâm nghiệp – nông
thôn.
Bảng 1 : Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế, 2001-2005 (%)
2000 2001 2002 2003 2004 2005
GDP 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Nông - lâm – thủy sản
Công nghiệp – xây dựng
Công nghiệp chế biến
Dịch vụ
24,53
36,73
18,56
38,73
23,24
38,13
19,78
38,63
23,03
38,49

nghệ phát triển và quản lý tài nguyên nước; công nghệ tưới cho cây lương
thực, cây công nghiệp, cây ăn quả trên các vùng đất khác nhau; công nghệ
quản lý công trình thủy lợi; xây dựng các giải pháp để chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, nâng cao hiệu quả của các hình thức tổ chức sản xuất, phát
triển dịch vụ phục vụ sản xuất... cho nên quá trình CGCN trong nông nghiệp
có những đặc điểm khá phức tạp và có tính chất đặc thù riêng.
Thực trạng chuyển giao công nghệ trong khu vực FDI như sau:
Trong hơn 10 năm thu hút vốn FDI, lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đã thu
hút được một lượng vốn đầu tư nhất định. Tuy nhiên, lượng vốn đầu tư trực
tiếp cũng như các công nghệ chuyển giao chưa đáp ứng đủ nhu cầu thay đổi
cơ bản về trình độ và năng lực công nghệ trong toàn ngành do công nghệ áp
dụng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn còn khá lạc hậu. Theo số liệu
gần đây, Việt Nam là một nước nông nghiệp có nguồn nông sản nguyên liệu
dồi dào nhưng thiết bị, công nghệ chế biến nông sản không đủ năng lực sản
xuất hàng xuất khẩu. Có thể điểm qua các số liệu sau:
- 128 nhà máy xay xát gạo, tổng công suất 2,4 triệu tấn nhưng thiết bị từ
những năm 60 (ở miền Bắc) và những năm 80 (ở miền Nam);
- 126 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh, 11 cơ sở chế biến bột cá, 84
doanh nghiệp chế biến nước mắm không đủ đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và
tiêu dùng nội địa;
- Ngành khai thác hải sản mới chủ yếu hoạt động gần bờ, chưa có nhiều
phương tiện tàu và máy móc phục vụ đánh bắt xa bờ.
- 18 nhà máy chế biến rau quả chỉ đảm bảo chế biến được 5% sản lượng rau
quả, chưa đáp ứng được chỉ tiêu chất lượng xuất khẩu;
- 30 nhà máy chế biến thịt của cả nước chỉ đạt tỷ lệ chế biến 1,5%;
- Các khu vực chế biến dầu thực vật, chè, cà phê, cao su cũng chưa được đầu
tư thích đáng, thiết bị cũ, hiệu quả thấp;
- Công nghệ chế biến sữa đang ở tình trạng thiếu nguyên liệu tại chỗ.
Xét theo ngành, tỷ trọng vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn
chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong giai đoạn 1988 đến 2000, tỷ trọng vốn đầu tư vào

áp dụng các kết quả nghiên cứu, tuyển chọn, lai tạo giống cây trồng, vật nuôi
bằng công nghệ mới và công nghệ cao”.
Về cơ chế khuyến khích hoạt động CGCN vào lĩnh vực nông nghiệp và nông
thôn, thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách khá mạnh
trong việc thu hút vốn FDI và công nghệ hiện đại vào lĩnh vực này. Chẳng
hạn, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qui định các dự án thuộc lĩnh vực
nuôi trồng nông, lâm, thủy sản, ứng dụng công nghệ sinh học, chế biến nông
sản, lâm sản (trừ gỗ), thủy sản từ nguồn nguyên liệu trong nước xuất khẩu
50% sản phẩm trở lên, sản xuất các loại giống mới có chất lượng và hiệu quả
kinh tế cao thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và mức thuế
thu nhập doanh nghiệp là 10% lợi nhuận thu được. Ngoài ra, việc ưu đãi thuế
cho các mặt hàng xuất khẩu, chính sách trang trại đã phát huy tác dụng, chính
sách thuế nông nghiệp đã làm yên tâm người nông dân, chính sách khuyến
nông, khuyến lâm, khuyến ngư đã giúp cho hàng triệu nông dân tiếp cận với
công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học.... Những chính sách này đang
tạo ra một môi trường sản xuất và kinh doanh hàng nông sản sôi động, có
chiều sâu và hiệu quả ngày càng tăng, làm tăng thêm tính hấp dẫn của môi
trường đầu tư trong lĩnh vực này đối với hoạt động CGCN. Ngoài ra, thị
trường xuất khẩu cũng đang ngày càng mở rộng cho hàng nông sản Việt Nam.
4. Nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu.
Đây là một thành tựu rất đáng khích lệ, nhất là trong tình hình Việt Nam đã
tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO. Việc mở cửa các thị trường là
điều không tránh khỏi, vì thế nâng cao giá trị, chất lượng hàng nông sản xuất
khẩu cũng là một biện pháp thị trường nông sản Việt Nam cạnh tranh với
hàng nông sản của các nước có thế mạnh về hàng nông sản. Đối với nông
nghiệp cam kết thuế nhập khẩu bình quân của các nông sản là 21% so với
mức hiện hành 31,6%, giảm đi 16%. Cam kết áp dụng an toàn vệ sinh thực
phẩm các sản phẩm nông nghiệp ( theo Bộ Thương m ại)
Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu phân theo thành phần kinh tế tham gia xuất
khẩu

2006 là 3.2%.
6. Tạo việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập dân cư, cải thiện
đời sống kinh tế xã hội nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế các dự án FDI trong nông, lâm nghiệp đã góp
phần giải quyết một số vấn đề xã hội ở những vùng có dự án. 4.799 lao động
nông thôn có việc làm mới, thu nhập cao hơn hẳn lao động của địa phương.
Trình độ nghề nghiệp của lao động nông, lâm nghiệp được nâng cao qua
thực tế sản xuất có tính hàng hóa cao của các dự án. Hệ thống cơ sở hạ tầng
nông thôn vùng có dự án được xây dựng mới và nâng cấp so với trước, nhất
là điện, thủy lợi, giao thông, cơ sở chế biến nông, lâm sản, trạm y-tế. Đối với
các vùng miền núi,vùng đồng bào các dân tộc ít người như Sơn La, Cao
Bằng, Quảng Ninh, Lâm Đồng, các dự án FDI trong nông, lâm nghiệp còn
góp phần quan trọng xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, xây dựng bản làng theo
hướng văn minh phù hợp với nền sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa.
Bảng 3.

Phát

triển

nông

nghiệp



nông

thôn


đoạn

1998



2002
CÁC MỤC TIÊU
CÁC CHI
TIÊU
THÀNH TỰU ĐẠT
ĐƯỢC
2002 1998
Phát triển
Tốc độ phát triển GDP nông nghiệp, % năm
Đóng góp của nông nghiệp vào tổng GDP, %
Đóng góp của nông nghiệp vào tạo việc làm, %
4-4.5
(2010)
16-17
(2010)
23-24
(2010)
4.1 (98-2000)
23
67 (2001)
4.5 (1993-
97)
26
70

75 (2005) –
100 (2010)
77.6 (2010)
100 (2010)
80/50
(2010)
100 (2010)
56 (2003)
85 (2003)
94 (2003)
81 (2003)
76 (2003)
36.6 (2000)
80.9 (2000)
63 (2000).
Tạo việc làm
Sử dụng lao động nông thôn vào năm 2005 và 2010, %
80 (2005) –
85 (2010)
75
71
Nguồn: Từ các báo cáo CPRGS (2003), VDR 2004, Poverty Task Force (2001) Enhancing Access
Sách Thống Kê 2002-2003 (TCTK)
Ở Việt Nam, số lượng người làm việc trong khu vực FDI ngày càng tăng qua
các năm.Thu nhập bình quân của lao động Việt Nam trong khu vực FDI nhìn
chung cao hơn ở khu vực trong nước. Tuy nhiên, thu nhập của lao động
trong khu vực FDI cũng tuỳ thuộc vào ngành nghề, trình độ học vấn và trình
độ chuyên môn kỹ thuật, do vậy thu nhập của người lao động trong các
doanh nghiệp này có có sự chênh lệch tương đối lớn. Người lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao có thu nhập cao gấp 3,5 lần so với lao

+ Sau khi có giấy phép,
DNFDI vẫn phải xin đăng

hoạt động.
+ DNFDI được tự lựa
chọn loại hình đầu
tư, tỷ
lệ góp vốn, địa điểm
đầu
tư, đối tác đầu tư.
+ DN xuất khẩu sản
phẩm trên 80% được
ưu tiên nhận giấy phép
sớm;
+ Ban hành danh
mục DNFDI
được đăng ký kinh
doanh,
không cần xin giấy
phép;
+ Bỏ chế độ thu
phí
đăng ký đầu tư FDI
Phân
cấp
đăng
ký/cấp
phép
Lĩnh
vực

+ Dự án có vốn FDI được
thuê đất để hoạt động,
nhưng
không được cho các
doanh nghi nghiệp nghiệp
nghiệp khác thuê lại.
+ UBND địa
phương tạo
điều kiện mặt bằng
kinh
doanh khi dự án được
duyệt; DN thanh toán
tiền
giải phóng mặt
bằng cho
UBND
+ Được
quyền cho
thuê
lại đất đã thuê tại
các khu CN, khu chế
xuất;
+ Được thế chấp
tài sản gắn
liền với đất và giá trị
quyền sử
dụng đất;
Quy
định
về vốn

khu vực (80%), sau đó
nới dần tỷ lệ này.
+ DN có thể
mua ngoại tệ
với sự cho phép của
Ngân
hàng nhà nước
+ Được mua ngoại
tệ
tại
NHTM để đáp ứng
nhu cầu
giao dịch theo
luật định; + Bãi bỏ
yêu cầu chuẩn y
khi chuyển
nhượng vốn; giảm
mức phí chuyển lợi
nhuận ra
nước ngoài.
+ Giảm tỷ lệ kết hối
ngoại tệ
từ 80% xuống
50%
đến 30% và 0%
C/s
xuất
nhập
khẩu
+ DN phải bảo đảm tỷ

C/s
thuế
lý XNK+ Áp dụng thuế
ưu đãi cho các dự án FDI
đầu tư vào cáclĩnh vực
đặc biệt ưu tiên với
mức thuế thu nhập 10%
trong
vòng 15 năm kể từ khi
hoạt
động;
+ Mức thuế thu nhập
của
DN
100% vốn nước
ngoài không
bao gồm phần bù trừ lợi
nhuận của năm sau để
bù cho
lỗ của các năm trước;
+ DNFDI không được
tính vào chi phí sản xuất
một số
khoản chi nhất định;
+ thuế nhập khẩu được áp
với
mức giá thấp trong
khung giá
do Bộ Tài chính qui định;
+ Miễn thuế nhập khẩu

phòng;
+ Tiếp tục cải
cách hệ thống huế,
từng bước thu hẹp
khoảng cách về thuế
giữa đầu tư trong
nước và đầu tư
nước
ngoài
Nguồn: Trích trong Nguyễn Thị Tuệ Anh et al, 2005.
II. HẠN CHẾ.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển nông lâm nghiệp - nông
thôn, trong những năm qua tồn tại rất nhiều hạn chế.
1. Tỷ trọng ĐTNN vào lĩnh vực này thấp, chiếm khoảng 7% và liên tục
giảm qua các thời kỳ từ năm 1988 đến nay.
Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988- 2006.
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO NGÀNH 1988-2006
(tính tới ngày 20/10/2006 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
ST
T Chuyên ngành
Số dự
án TVĐT Vốn pháp định
Đầu t thực
hiện
I
Công nghiệp
4,5
66
35,466,782,
841

1,947,234
,568
Xây dựng 352
4,306,200
,985
1,518,919
,727
2,135,078
,488
II
Nông, lâm
nghiệp
8
32
3,873,835,
578
1,782,145,
464
1,921,406,
176
Nông-Lâm nghiệp 717
3,544,961
,398
1,636,808
,083
1,755,554
,292
Thủy sản 115
328,874
,180

,068
1,498,703
,421
2,366,379
,125
Tài chính-Ngân
hàng 64
840,150
,000
777,395
,000
682,870
,077
Văn hóa-Ytế-Giáo
dục 224
978,529
,862
428,633
,794
351,676
,490
XD Khu đô thị
mới 5
2,865,799
,000
794,920
,500
51,294
,598
XD Văn phòng-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status