LUẬN VĂN: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP -THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP
-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Người thực hiện : Nguyễn Thị Loan
Lớp : A1 - K37A
Giáo viên hướng dẫn : TS. Vũ Thị Kim Oanh

HÀ NỘI – 2002
LỜI NÓI ĐẦU

Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) đã và đang diễn ra trên quy mô toàn
cầu với khối lượng và nhịp độ chu chuyển ngày càng lớn. Đối với các nước
đang phát triển, bên cạnh việc phát huy nguồn nội lực trong nước, tận dụng vốn

phương pháp phân tích định tính và định lượng, phương pháp thống kê, phương
pháp phân tích kinh tế, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
…để xem xét và đánh giá, giúp các vấn đề nghiên cứu thêm sâu sắc.
Kết cấu của khóa luận ngoài Lời nói đầu và Kết luận gồm có 3 chương:
Chương I: Khái quát về công nghiệp Việt Nam và kinh nghiệm một số
nước về thu hút FDI trong lĩnh vực công nghiệp .
Chương II : Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công
nghiệp
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn FDI trong lĩnh vực công nghiệp.

Hà Nội ngày 16 tháng 12 năm 2002
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Loan CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM TỪ
MỘT SỐ NƯỚC VỀ THU HÚT FDI TRONG LĨNH VỰC
CÔNG NGHIỆP

1. Khái quát về công nghiệp Việt Nam
Với nội dung trình bày khái quát về quá trình phát triển của công nghiệp

sở vật chất cho nền kinh tế XHCN, đường lối phát triển kinh tế xuyên suốt của
Đảng ( được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng III, các kì Đại hội sau tuy có
một số điều chỉnh nhưng không lớn ) là : "…chủ yếu ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp
nhẹ, trong đó điện phải đi trước một bước, cơ khí là trung tâm, than thép là
lương thực của nền kinh tế quốc dân…"
Công cuộc đổi mới cơ chế nền kinh tế của Việt Nam được mở đầu bằng
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI ( 1986 ). Kinh tế Việt Nam kể từ khi bắt đầu
công cuộc đổi mới đến giữa những năm 90 đã bước vào giai đoạn phát triển ổn
định và tăng trưởng cao, cơ cấu nền kinh tế quốc dân được chuyển đổi theo
hướng tích cực. Những chủ trương, chính sách và biện pháp đổi mới của Đảng
từ sau Đại hội VI đã tạo ra những bước chuyển biến tích cực, đặc biệt là trong
lĩnh vực công nghiệp. Công nghiệp nói chung phát triển theo hướng gia tăng
tương đối tỷ trọng các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, trong khi vẫn duy trì
được một số ngành công nghiệp nặng có tác dụng tích cực đối với nền kinh tế.
Sản xuất công nghiệp đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và liên tục, tạo
tiền đề vững chắc hơn trong các năm sau. Đáng chú ý là trong những năm tiến
hành đổi mới, nhờ có chính sách đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc
biệt là việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tháng 12 năm 1987
đã mở rộng giao lưu hợp tác kinh tế, khoa học - kĩ thuật với nhiều nước trên thế
giới, trình độ khoa học - công nghệ của Việt Nam đã có bước phát triển tích
cực, cho phép nước ta bắt đầu đầu tư theo chiều sâu đối với một số ngành công
nghiệp quan trọng đối với nền kinh tế. Chính sách mở cửa nền kinh tế, tăng
cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã phát huy hiệu quả tích cực đối với sản
xuất công nghiệp của cả nước. Giai đoạn 1996-2000 thành tựu của công nghiệp
Việt Nam có thể khái quát như sau :
Một số ngành công nghiệp tiếp tục được sắp xếp và tổ chức lại sản xuất,
lựa chọn các sản phẩm ưu tiên và có lợi thế, có nhu cầu của thị trường để đầu tư
chiều sâu, đổi mới công nghệ , đạt chất lượng cao hơn.
Năng lực sản xuất của một số sản phẩm công nghiệp tăng đáng kể, công

xuất khẩu cả nước.
Về kết quả năm 2001, theo báo cáo của Bộ Công nghiệp , giá trị sản xuất
công nghiệp toàn ngành đạt 223,578 tỷ đồng, tăng 14,47% so với năm 2000.
Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước, công nghiệp quốc doanh Trung ương
tăng 12,84 % nhờ nhiều ngành có tỷ trọng lớn và sản phẩm quan trọng vẫn
tăng. Trong đó những ngành có mức tăng trên 10% gồm : điện sản xuất, than,
thép và sản phẩm thép, động cơ điện các loại , máy công cụ, quạt điện, máy
biến thế, phân đạm, săm lốp ô tô, máy kéo, ắc quy, chất tẩy rửa, ống cứng và
phụ tùng, sản phẩm sứ các loại, mì ăn liền, dầu thực vật, xi măng Công nghiệp
quốc doanh địa phương tăng 11,5% do nhiều địa phương có giá trị tăng, trong
đó có cả Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tuy tỷ trọng chỉ chiếm 23.49% nhưng
có mức tăng cao nhất trong các khu vực, một mặt do có thêm nhiều doanh
nghiệp mới thành lập, mặt khác nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh
doanh năng động, hiệu quả. Riêng khu vực đầu tư nước ngoài, ngành khai thác
dầu khí chỉ tăng 4,2% do hạn chế khai thác và giá dầu xuống thấp, nên tốc độ
tăng của khu vực này chỉ đạt 13.7%, thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Về xuất khẩu, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước ước đạt khoảng 15,1 tỷ
USD, tăng 4,5% so với năm 2000; trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ( trừ dầu mỏ ) chỉ tăng 3,2%, nguyên nhân chủ yếu là do giá xuất
khẩu nhiều mặt hàng giảm. Xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp đạt kim
ngạch 10,6 tỷ USD, tăng 4.9%, chiếm tỷ trọng 70,2% tổng kim ngạch xuất
khẩu cả nước, trong đó công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 5,1 tỷ USD, bằng
thực hiện năm 2000; công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 5,5 tỷ USD,
tăng 9,9 %. Một số mặt hàng chủ yếu xuất khẩu tăng so với năm 2000 là hàng
dệt may, đạt 2 tỷ USD, tăng 5,71%; hàng giày dép đạt 1,5 tỷ USD, tăng 2,4%.
Trong bối cảnh kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, lại chịu tác động suy thoái
của kinh tế thế giới và thiên tai bão lụt nặng nề, thì việc đạt được tốc độ tăng
trưởng cao 14,47% là điều đáng khích lệ.


Dân số và lao động được coi là một nguồn lực quan trọng để phát triển
kinh tế nói chung, công nghiệp nói riêng. Trước hết, dân số và mức sống của
dân cư tạo thành thị trường nội địa to lớn mà các ngành công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng phải phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu. Thứ nữa, trình độ
dân trí , khả năng tiếp thu kỹ thuật mới của lao động tạo thành cơ sở quan trọng
để phát triển các ngành kỹ thuật cao. Những nước có nguồn lao động dồi dào,
trong cơ cấu công nghiệp phải chú ý đúng mức việc phát triển các ngành sử
dụng nhiều lao động để góp phần tạo việc làm, giải quyết tình trạng thất
nghiệp.
Việt Nam là nước đông dân, theo điều tra dân số tháng 4 năm 1999, dân
số Việt Nam hiện là 76 triệu người. Với số dân này, Việt Nam là quốc gia đông
dân đứng hàng thứ hai ở khu vực Đông Nam A' ( chỉ sau Indonesia, vượt cả
Philippin và Thái Lan ) và thứ 13 trên thế giới. Dân số Việt Nam thuộc loại trẻ,
cơ cấu nhóm tuổi trong tổng dân số ở tuổi lao động chiếm khoảng 50,5%. Tốc
độ gia tăng nguồn lao động trung bình 2,5% / năm. Hiện cả nước có khoảng 45
triệu lao động, trong đó 25% ở thành thị, 75% ở nông thôn. Dân cư và nguồn
lao động ở Việt Nam phân bổ không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng
và ven biển . Dân số đông một mặt là lợi thế, nhưng mặt khác lại là trở ngại lớn
cho việc phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân.
Về thuận lợi Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, và rẻ so với các nước
trong khu vực. Lực lượng lao động trẻ có khả năng tiếp thu nhanh các kĩ thuật
và công nghệ mới tiên tiến, đặc biệt là các ngành công nghệ cao như công nghệ
thông tin, điện tử, chế tạo máy, sinh học, vật liệu mới, công nghệ môi trường và
các nguồn năng lượng mới.

Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi
Vị trí địa lý kinh tế của đất nước cũng là một lợi thế cần được xem xét
khi xác định cơ cấu công nghiệp . Đó là một tất yếu trong điều kiện xây dựng
nền kinh tế mở, tăng cường và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế. Nhiều
nước có vị trí địa lý ở đầu mối của sự giao lưu kinh tế quốc tế, điều đó tạo

Dung Quất cần 2 tỷ USD, dự án khu công nghệ cao Hoà Lạc bước đầu cũng
cần trên 800 triệu USD. Đó là chưa kể đến những dự án, những chương trình
không phải thuộc lĩnh vực công nghiệp nhưng liên quan chặt chẽ đến công
nghiệp cũng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư không nhỏ. Vấn đề nhu cầu vốn cho đầu
tư phát triển và khả năng huy động vốn của Việt Nam hiện nay đang là một bài
toán khá nan giải mà Chính phủ cần phải giải quyết trong những bước đi đầu
tiên của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, trong đó có bài toán tăng cường thu
hút nguồn vốn FDI để phát triển nền công nghiệp non trẻ.

Kỹ thuật - công nghệ lạc hậu
Đánh giá chung trình độ công nghệ sản xuất của công nghiệp Việt Nam
( trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ) so với các nước công nghiệp
phát triển là lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ và được hình thành chắp vá từ nhiều
nguồn khác nhau dẫn đến tình trạng tiêu hao năng lượng, nguyên liệu còn khá
cao, chất lượng sản phẩm thấp và mẫu mã hàng hoá đơn điệu. Tỷ lệ công nghệ
lạc hậu và trung bình chiếm 60-70%, công nghệ tiên tiến, hiện đại chỉ chiếm
30-40%. Thậm chí ở nhiều nhà máy, hầu hết các trang thiết bị, máy móc, công
xưởng, dây chuyền sản xuất được thiết kế và xây dựng ở trình độ của những
năm 50. Theo đánh giá của World Bank, hệ số đổi mới công nghệ của Việt
Nam từ 1960 mới chỉ đạt 3%/ năm và khoảng 8-10% năm giai đoạn từ 1991
đến nay. Phần lớn công nghệ tiên tiến hiện đại tập trung ở các doanh nghiệp
FDI, các doanh nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp . Việt Nam
hiện nay cũng như NIEs trước đây chủ yếu phải dựa vào các ngành công
nghiệp sử dụng nhiều lao động. Trình độ kỹ thuật - công nghệ yếu kém còn thể
hiện ở khả năng phục vụ nông nghiệp của các ngành công nghiệp chế biến và
chế tạo. Ngoại trừ một số sản phẩm vật tư, hoá chất phục vụ nông nghiệp được
sản xuất trong nước, công nghiệp Việt Nam vẫn chưa có khả năng đáp ứng cho
nhu cầu cơ giới hoá nông nghiệp cũng như để phát triển tối đa tiềm năng các
ngành công nghiệp chế biến nông sản và thực phẩm xuất khẩu.
Về chuyển giao công nghệ thông qua kênh FDI: chất lượng và hiệu quả

 Đại học và cao đẳng : 31.107 người
 Trung học công nghiệp : 22.822 người
 Công nhân kỹ thuật bậc 5 : 3.446 người
 Công nhân kỹ thuật bậc 4 : 169.821 người
 Công nhân lao động phổ thông : 180.396 người
Cơ cấu trình độ đào tạo cũng bất hợp lý: tính riêng trong đội ngũ cán bộ
kỹ thuật, cứ 1 người tốt nghiệp đại học ( kỹ sư ) ứng với 1,75 người tốt nghiệp
trung học chuyên nghiệp và 2,3 công nhân. Như vậy, đào tạo đại học quá lớn so
với đào tạo nghề dẫn đến tình trạng nhiều thầy, ít thợ. Các nước phát triển,
thường tỷ lệ sinh viên đại học/ học sinh học nghề là 1/4 còn ở Việt Nam thì
ngược lại. Trong khi đó , một trong những biểu hiện yếu kém của hệ thống dạy
nghề ở nước ta là đội ngũ giáo viên vừa mỏng lại vừa chưa đáp ứng được yêu
cầu về trình độ chuyên môn.Với cơ cấu trình độ đào tạo như vậy nên việc áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh gặp rất nhiều khó
khăn.
Quy mô giáo dục chuyên nghiệp , đào tạo nghề còn nhỏ bé, nội dung
đào tạo chậm đổi mới, chưa gắn với thực tiến khiến cho lực lượng lao động có
tay nghề đã mỏng lại không đáp ứng được yêu cầu của kỹ thuật - công nghệ
trong thực tiễn. Hiện nay nước ta có khoảng 2,5 triệu công nhân, trong đó 40%
công nhân được đào tạo hệ chuẩn quốc gia, 40% được đào tạo ngắn hạn, số còn
lại chưa qua đào tạo. Con số 2,5 triệu công nhân là quá nhỏ bé, chỉ chiếm
khoảng gần 3% dân số và 6% lực lượng lao động cả nước. Trong khi đó, đào
tạo nghề cho công nhân đã bị thu hẹp trong một thời gian dài. Từ năm 1986 đến
năm 1996, tuyển sinh học nghề chính quy giảm 35%, giáo viên dạy nghề giảm
31%, số trường dạy nghề giảm 41%. Năm 1998 có 21 trường, dến năm 2000 đã
tăng lên 150 trường nhưng vẫn còn rất nhỏ bé so với yêu cầu về số lượng và
chất lượng đào tạo công nhân đang đặt ra. Bên cạnh đó, đào tạo công nhân kĩ
thuật cao ( công nhân trí thức ) cho các ngành công nghiệp mũi nhọn còn rất
hạn chế cả về số lượng và chất lượng dẫn đến thiếu hụt công nhân cho các
ngành này.

Nhóm 2 - Sẽ có khả năng cạnh tranh trong tương lai : dệt sợi, cơ khí ô tô-
xe máy-thiết bị điện, điện tử - công nghệ thông tin, hoá chất - phân bón, giấy,
sành sứ - thuỷ tinh, rượu bia nước giải khát, chế biến sữa, dầu thực vật, khai
khoáng và chế biến khoáng sản.
Nhóm 3 - Khả năng cạnh tranh yếu : thép, nhôm, cơ khí chế tạo

2. Bài học kinh nghiệm từ một số nước về thu hút FDI trong lĩnh
vực công nghiệp

2.1.Một số vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới những năm qua cho thấy đối với các
nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những yếu tố
then chốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và
xây dựng phát triển công nghiệp nói riêng. Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu
kinh nghiệm về thu hút và sử dụng FDI trong lĩnh vực công nghiệp của một số
nước có ít nhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam là việc làm có ý nghĩa
thiết thực. Nhưng trước hết về mặt lý thuyết cần phải nắm được những vấn đề
cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó có khái niệm và động cơ của
FDI.
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài :
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài là luồng đầu tư
thực tế chảy vào để có được một lợi ích qunả lý lâu dài trong một doanh nghiệp
hoạt động ở một nền kinh tế khác ngoài nền kinh tế của nhà đầu tư.
Khái niệm " đầu tư trực tiếp nước ngoài " được quy định cụ thể trong luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 ( luật sửa đổi bổ sung 2000 vẫn giữ
nguyên ) như sau : " Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài
đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành các hoạt
động đầu tư theo quy định của luật này. "
Mặc dù hiện nay có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa về
FDI nhưng đều có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản nhất của FDI như sau:

Đầu tư định hướng thị trường là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ sang các nước sở tại. Việc sản xuất
sản phẩm cùng loại ở nước sở tại làm cho chủ đầu tư không cần đầu tư thiết bị,
công nghệ mới lại có thể tận dụng được lao động rẻ, tiết kiệm chi phí vận
chuyển qua đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận. Phần lớn các doanh nghiệp các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các nước thực chất hoạt động như chi
nhánh của công ty mẹ ở chính quốc. Việc xây dựng các nhà máy sản xuất, chế
tạo hoặc lắp ráp tại các nước sở tại sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
các công ty mẹ ở nước ngoài, đặc biệt một số nước như Trung Quốc, Ân Độ,
Indonesia …có dung lượng thị trường lớn nên có sức hút mạnh mẽ đối với FDI.
Đây cũng là chiến lược bành trướng của các công ty đa quốc gia để vượt qua
hàng rào bảo hộ của các nước sở tại. Để bảo hộ nền sản xuất non trẻ trong
nước, hạn chế nhập khẩu, các nước đang phát triển đã dựng nên hàng rào thuế
quan, phi thuế quan. Vì thế, các nhà đầu tư nước ngoài bằng hình thức đầu tư
sản xuất ngay trên thị trường nước tiêu thụ đã tránh được hàng rào mậu dịch và
bán được sản phẩm ngay trên thị trường nước đó.
Đầu tư định hướng chi phí là hình thức đầu tư ra nước ngoài nhằm giảm
chi phí sản xuất thông qua việc tận dụng nguồn lao động rẻ và tài nguyên sẵn
có ở nước nhận đầu tư nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao tỷ
suất lợi nhuận. Do sự phát triển không đồng đều về trình độ sản xuất, về mức
sống, thu nhập…giữa các nước nên đã tạo ra sự chênh lệch về điều kiện, giá cả
và các yếu tố đầu vào của sản xuất. Hình thức FDI cho phép lợi dụng sự chênh
lệch này để giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Ngoài ra, vào những năm 70 khi
cuộc khủng hoảng cơ cấu diễn ra, khiến các nước tư bản phát triển phải di
chuyển một bộ phận sản xuất có kỹ thuật đơn giản sử dụng nhiều lao động và
gây ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu như các ngành sản xuất và gia công
quần áo, giày dép, hàng điện tử đơn giản, sơ chế khai khoáng quặng … sang
các nước đang và chậm phát triển.
Đầu tư định hướng nguyên vật liệu là hình thức đầu tư theo chiều dọc.
Các cơ sở ở nước ngoài là một bộ phận cấu thành trong dây chuyền kinh doanh


2.2.1. Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước có nhiều điểm tương đồng với Việt
Nam về điều kiện tự nhiên ( đất đai, khí hậu, tài nguyên ), về xã hội ( một số
tập quán, nhân văn, dân số đông và phần lớn sống ở nông thôn, dung lượng thị
trường tiềm năng lớn ), về phát triển kinh tế ( công nghiệp còn ở trình độ phát
triển thấp ). Những thập niên gần đây, nền kinh tế Thái Lan đã đạt được sự phát
triển thuộc loại nhanh trong khu vực, trong đó có sự đóng góp đáng kể của FDI.
Trong lĩnh vực công nghiệp , Chính phủ Thái Lan đã rất khéo léo trong việc kết
hợp đầu tư trực tiếp nước ngoài với chiến lược công nghiệp hóa của từng thời
kì. Chính phủ Thái Lan đã có chính sách khuyến khích mạnh các nguồn vốn
trong nước cùng tham gia đầu tư với các dự án công nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài. Tỷ lệ vốn trong nước của các dự án này lên tới 71,7% ( thời kì
1960-1985 ), 71,6% ( thời kì 1986-1995 ). Về chính sách tiếp nhận FDI nói
chung, Thái Lan được đánh giá là một trong những nước có chính sách thông
thoáng và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư . Tuy nhiên , phần kinh nghiệm mà tôi
muốn nêu tiếp ở đây nhấn mạnh hơn một số những vấn đề chưa hợp lý trong
thu hút và sử dụng FDI đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp, vì đây là nơi
xuất phát của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ 1997.
Thứ nhất, ngay từ thời kì đầu tiến hành công nghiệp hóa, xuất phát từ
mong muốn phát triển nhanh nên Thái Lan đã triển khai đầu tư thiếu quy
hoạch hoặc theo quy hoạch mất cân đối giữa phát triển sản xuất với xây dựng
cơ sở hạ tầng, chú trọng quá nhiều đến công nghiệp khai thác tài nguyên thiên
nhiên mà ít quan tâm đến vấn đề củng cố và bảo vệ môi trường. Phần lớn các
dự án phát triển công nghiệp đều tập trung ở thủ đô Bangkok và các vùng lân
cận. Điều này, một mặt làm cho các cơ sở hạ tầng ở Bangkok đã không thể đáp
ứng nổi nhu cầu, gây cản trở lớn đối với hoạt động sản xuất, chất thải và khí
thải công nghiệp đã khiến cho Bangkok phải chịu sức ép lớn nhất về môi
trường. Mặt khác, một thời kỳ dài Chính phủ Thái Lan khuyến khích các nhà
đầu tư đặt cơ sở gần thủ đô và sự tập trung này cuối cùng đã dẫn đến sự bất

nước đang phát triển về lĩnh vực này. Bình quân từ năm 1979 đến 1998, bình
quân mỗi năm ở Trung Quốc có tới gần 13 tỷ USD vốn FDI được thực hiện,
thực sự trở thành động lực của sự phát triển và thực hiện mục tiêu hàng đầu là
hiện đại hoá công nghiệp trong chính sách thu hút FDI của quốc gia này.
Chính phủ Trung Quốc , với chủ trương thu hút công nghệ nguồn hiện
đại từ các công ty mẹ , đã rất thành công trong việc thu hút các tập đoàn lớn
của thế giới đến hoạt động đầu tư. Hiện nay Trung Quốc đã thu hút được
200/500 tập đoàn lớn của thế giới đến thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp
(trong khi đó con số này ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở con số 50/500 ). Mặt
khác, Trung Quốc đã huy động được tối đa các tiềm năng của người Hoa ở
nước ngoài . Hoa kiều không những đã thực sự trở thành lực lượng hùng hậu
tiến hành việc tuyên truyền, quảng bá chính sách vận động, làm môi giới FDI
cho Trung Quốc mà họ còn là lực lượng chủ yếu trực tiếp chuyển vốn và công
nghệ ( ở mức trung bình ) về nước thực hiện các dự án đầu tư , chiếm 70-80%
số dự án. Đây cũng là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về chính sách khuyến
khích nguồn vốn đầu tư từ người Việt Nam định cư ở nước ngoài .
Về các chính sách kinh tế nhằm khuyến khích FDI nói chung và FDI vào
lĩnh vực công nghiệp nói riêng, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính
sách ưu đãi phù hợp với yêu cầu phát triển của từng thời kì. Thời kì mới mở
cửa, Trung Quốc cho hưởng chế độ miễn thuế nhập khẩu đối với các thiết bị,
vật tư đưa vào thực hiện dự án đầu tư , đồng thời cho phép giảm từ 5-25% thuế
hải quan đối với các vật tư nhập khẩu để phục vụ cho sản xuất hàng công
nghiệp xuất khẩu. Đến giai đoạn cần kêu gọi dự án đầu tư vào những vùng khó
khăn nhằm đưa công nghiệp đến với vùng nông thôn phục vụ hiện đại hóa nông
nghiệp, Trung Quốc cho các doanh nghiệp đóng tại vùng khó khăn đều được
giảm 24% so với các mức thuế cùng loại đánh vào các doanh nghiệp đóng ở
nơi có điều kiện thuận lợi hơn. Giá thuê đất tại các Khu công nghiệp, Khu chế
xuất đóng tại các địa phương chưa có nhiều thuận lợi ở sâu trong lục địa được
giảm tới 20%-30% so với các địa bàn có nhiều thuận lợi hơn, ví dụ như các 14
thành phố ven biển và các vùng đồng bằng và châu thổ các sông.

khẩu để xác định các mức ưu đãi khác nhau, đồng thời đề ra các chính sách
bảo hộ và ưu đãi đặc biệt đối với việc chuyển giao các bí quyết kỹ thuật và các
thiết bị tiên tiến :
-Đối với những xí nghiệp có vốn FDI thuộc các ngành công nghiệp mũi
nhọn, có vốn đầu tư từ 1 triệu đô la Singapore trở lên thì được miễn thuế 5 năm
kể cả lãi cổ phần và thuế thu nhập.
-Đối với các nhà máy có FDI sản xuất các sản phẩm hướng về xuất khẩu,
hàng năm có trị giá hàng xuất khẩu ít nhất 100.000 USD thì số lợi nhuận xuất
khẩu được miễn 90% thuế. Nếu xí nghiệp thuộc loại sản xuất không phải
hướng về xuất khẩu thì phải chịu thuế với mức tỷ suất 40% , thì xí nghiệp sản
xuất hướng về xuất khẩu chỉ phải chịu mức thuế 4%.
-Nếu xí nghiệp có vốn FDI thuộc loại sản xuất hàng xuất khẩu vừa là xí
nghiệp thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn thì thời gian được hưởng chế
độ miễn thuế kéo dài tới 8 năm. Và, nếu xí nghiệp có cả 2 điều kiện trên lại vừa
có vốn đầu tư vào tài sản cố định từ 150 triệu SD trở lên thi` thời gian được
miễn thuế có thể kéo dài tới 15 năm. Từ năm 1975, những công ty nước ngoài
đầu tư vào Singapore với những dây chuyền công nghệ tiên tiến, sản xuất
những sản phẩm có hàm lượng khoa học - kỹ thuật cao còn được hưởng thêm
các chế độ ưu đãi khác như chính phủ cho vay hoặc bảo hiểm đầu tư, tăng thời
gian miễn thuế.
Về vấn đề lao động, Singapo đã xây dựng hệ thống trường chuyên khoa
nghề nghiệp, hợp tác với nước ngoài tổ chức các trung tâm đào tạo, tuyển
chọn, cử công nhân ra nước ngoài tập huấn chuyên môn, đồng thời các doanh
nghiệp trong nước đều chủ động tiến hành bồi dưỡng đối với công nhân và cán
bộ quản lý để đào tạo một lực lượng nhân tài, đảm bảo đáp ứng đủ yêu cầu về
trình độ lao động kĩ thuật và quản lý.
Singapore đã rất thành công không chỉ trong việc thu hút số dự án, vốn
FDI mà còn cả trong việc sử dụng có hiệu quả loại hình kinh tế này, đưa nền
công nghiệp trong nước lên ngang tầm trình độ của các nước phát triển trên thế
giới và tham gia mạnh mẽ vào mậu dịch hàng hoá quốc tế, góp phần quan trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status