Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn - Pdf 12

Vũ Thùy Dương – Đầu tư 46B Nghiên cứu khoa học
LỜI MỞ ĐẦU
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn luôn giữ một
vai trò quan trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội, nhiều nguyên
liệu cho công nghiệp, nhiều hàng cho xuất khẩu( khi ngoại thương phát triển).
Bước vào thế kỷ XXI, với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi
trường sinh thái,… nông nghiệp được dự báo là vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng ấy.
Trong thế kỷ XX, nông nghiệp thế giới đã có những bước tiến vượt bậc, phát triển từ
giai đoạn sản xuất nông nghiệp truyền thống sang giai đoạn hiện đại hoá nông
nghiệp, nhờ vậy kinh tế nông thôn và đời sống của người dân nông thôn cũng có
nhiều chuyển biến. Đặc biệt, trong vài thập kỷ trở lại đây, với sự tiến triển nhanh
chóng của những xu thế lớn trên thế giới, như cách mạng khoa học và công nghệ,
toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức,
… nhận thức về nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã có những sự thay đổi.
Ở Việt Nam chúng ta, một đất nước còn nặng về nông nghiệp, những thành tựu
của 20 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt là công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế,… đã góp phần làm thay đổi nhận thức về nông nghiệp, nông
thôn và nông dân. Nghị quyết 5 của Trung ương khoá IX đã đặt giải pháp về công tác
quy hoạch ở vị trí đầu tiên trong hệ thống giải pháp nhằm đẩy nhanh CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ 2001- 2010. Nghị quyết khẳng định: “Quy
hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn phải đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển
kinh tế- xã hội cả nước, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và thị trường;… Chú trọng làm tốt quy hoạch
những vùng sản xuất hàng hoá tập trung (cây, con, sản phẩm, ngành nghề…); quy
hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xãhội; quy hoạch phát triển khu dân cư, xây
dựng làng, xã, thị trấn; gắn kết chặt chẽ với an ninh- quốc phòng, phòng chống,
1
1
Vũ Thùy Dương – Đầu tư 46B Nghiên cứu khoa học
hạn chế, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hoá dân

3
3
Vũ Thùy Dương – Đầu tư 46B Nghiên cứu khoa học
4.Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các báo cáo về ĐTNN trong ngành trồng trọt, chăn
nuôi, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, Hà NộI, tháng 7/2005.
5.Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dự thảo chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Hà NộI, tháng 11/2004.
6. Những chủ trương và biện pháp mới trong giai đoạn 2006 - 2010 về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. (CIEM).
7. ĐTTT nước ngoài trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp hiện nay, thực trạng và
những vấn đề đặt ra. (Con sô và sự kiện tháng 3/2004).
Một số trang báo điện tử khác.
 Trang web của bộ kế hoạch đầu tư: http://www. mpi.gov.vn/
 Bộ NN và PTNT: www.agroviet.gov.vn/
 Tổng cục thống kê: www. gso.gov.vn/
CHƯƠNG I – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG.
I.Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
1.1. Khái niệm đầu tư nước ngoài.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực
hiện nhằm thu lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác
với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm
được chỗ đứng trong quản lý doanh nghiệp.
Về thực chất, khái niệm này đã khẳng định tính lâu dài trong hoạt động đầu tư và
động cơ của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận và kiểm soát hoạt động của các
doanh nghiệp và mở rộng thị trường.
4
4
Vũ Thùy Dương – Đầu tư 46B Nghiên cứu khoa học
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài phản ánh
những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thế kinh tế tại một nước (nhà đầu tư)

- Vốn hỗn hợp (vốn trong nước và nước ngoài).
Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, thường
được áp dụng phổ biến trong các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp gia
công và dịch vụ. Các bên tham gia hợp đồng vẫn là những pháp nhân riêng, thời hạn
hợp đồng thường ngắn. Do vậy loại hình này thích hợp với các nhà đầu tư nước ngoài
có ít tiềm lực về vốn.
Doanh nghiệp liên doanh (công ty liên doanh): Là hình thức tổ chức kinh doanh
quốc tế do hai bên hoặc các bên nước ngoài cùng hợp tác với nước chủ nhà trên cơ sở
góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH, có tư cách
pháp nhân theo luật pháp của nước nhận đầu tư.
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình thường được nước chủ nhà ưa chuộng vì
hầu hết các doanh nghiệp liên doanh khi đầu tư, kinh doanh ở nước chủ nhà, họ
thường phải mang theo các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý
hiện đại. Tuy nhiên loại hình đầu tư này thường được nước chủ nhà áp dụng chủ yếu
đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng để đạt được kết quả mong muốn thì
việc áp dụng hình thức này đòi hỏi nước chủ nhà phải có khả năng góp vốn, các nhà
quản lý doanh nghiệp phải có đủ trình độ và năng lực quản lý, tiếp thu và ứng dụng
khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại của nước ngoài.
Doanh nghiệp cổ phần FDI (hay công ty cổ phần) là doanh nghiệp có các cổ
đông nước ngoài và trong nước (cổ đông có thể là các cá nhân hoặc tổ chức) nhưng
cổ đông nắm quyền chi phối có quốc tịch nước ngoài, đây là hình thức doanh nghiệp
hiện đại. Tuy đều là doanh nghiệp có vốn hỗn hợp song doanh nghiệp cổ phần FDI có
cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động rất khác so với doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn FDI : là doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài
thành lập tại nước chủ nhà và họ tự quản lý, chịu trách nhiệm hoàn toàn về các kết
6
6
Vũ Thùy Dương – Đầu tư 46B Nghiên cứu khoa học
quả sản xuất kinh doanh. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài ưa

Các nước đang phát triển chủ yếu lựa chọn phương thức đầu tư mới do ở các
nước này năng lực sản xuất còn thiếu và yếu. Đầu tư mới sẽ giúp hình thành nên hàng
loạt cơ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong những lĩnh vực mới mà nhà nước
nhận đầu tư chưa từng có.
1.3. Vai trò của đầu tư nước ngoài.
1.3.1. Vai trò đối với nước đi đầu tư.
Dựa trên lý thuyết xuất khẩu tư bản của Lênin thì ĐTNN là yếu tố sóng còn của
CNTB, do đó mục đích tiến hành đầu tư ra nước ngoài nhằm:
- Mục đích kinh tế: tìm kiếm lợi nhuận.
Kéo dài chu trình sống của công nghệ đã cũ, khi trong nước không còn điều kiện
phát triển thì họ có thể mang đi đầu tư ở những nước có trình độ công nghệ thấp hơn
kéo dài chu trình sống cho sản phẩm và công nghệ, nhờ vậy mà tạo thêm được lợi
nhuận.
Tạo ra nguồn cung cấp nguyên vật liệu mới.
- Trong trường hợp các nước phát triển đầu tư sang nhau thì một mục đích rất rõ
rệt là hợp tác và liên kết cùng với nhau để cùng phát triển, hạn chế bớt sự cạnh tranh
không cần thiết.
1.3.2. Vai trò đối với nước chủ nhà.
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vốn đầu tư là yếu tố quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế của mọi quốc
gia. . Dạng đơn giản nhất của mô hình Harrod – Domar
Ý nghĩa của mô hình này là để đạt được mức tăng trưởng mong muốn, cần có
một tỷ lệ đầu tư trên GDP xác định. Nếu thiếu đầu tư thì không thể đạt được tốc độ
tăng trưởng dự định. Đầu tư có thể được tích tụ bằng cách tiết kiệm trong nước, song
cũng có thể thu nhận từ nước ngoài.
8
Y
Y
k
Y

động lực mạnh mẽ cho phát triển và tăng trưởng ở các nước đang phát triển, nhưng
nó cũng có thể gây rối loạn cho quá trình phát triển nếu không được quản lý cẩn
trọng. Các nguy cơ tiềm ẩn đối với đầu tư nước ngoài có thể là yêu cầu bảo vệ thị
trường nội địa (qua đó làm méo mó thị trường); mất khả năng kiểm soát đối với các
9
9
Vũ Thùy Dương – Đầu tư 46B Nghiên cứu khoa học
ngành thuộc sở hữu nước ngoài; chịu ảnh hưởng lớn hơn trước những cú sốc từ bên
ngoài.
- Góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ.
Thông qua các doanh nghiệp có vốn FDI, những công nghệ tiên tiến, hiện đại
trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất, sẽ được du nhập vào
đất nước, tạo sự phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn. Các doanh nghiệp có
có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao hơn sẽ có tác dụng thúc đẩy các
doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế. - Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực.
Ngày nay sự giàu có và khả năng cạnh tranh của một quốc gia không còn đơn
thuần phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà phần lớn phụ thuộc vào
chất lượng của nguồn nhân lực. Do vậy, một trong những cách tốt nhất để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực là tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế bởi ở đó người
lao động có điều kiện nâng cao trình độ, tay nghề và kỹ năng sản xuất. Hơn nữa môi
trường cạnh tranh để tìm kiếm việc làm trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới,
người lao động buộc phải tìm tòi, học hỏi và thường xuyên nâng cao trình độ chuyên
môn, ngoại ngữ, ý thức kỷ luật...để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các công ty, xí
nghiệp trong và ngoài nước.
Một trong những biện pháp có thể nói là hữu hiệu nhất đối với các quốc gia
trong việc giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc tăng
cường thu hút nguồn vốn FDI. Đối với các quốc gia đang phát triển, lực lượng lao
động dồi dào nhưng trình độ lại không cao nên thời kỳ đầu thực hiện CNH, những

phương pháp, công nghệ, và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật
nuôi.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước,
đặc biệt là trong các thế kỉ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông
nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế.
11
11
Vũ Thùy Dương – Đầu tư 46B Nghiên cứu khoa học
Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến
nông sản và công nghệ sau thu hoạch
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông
nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng.
Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia
đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hoá trong nông nghiệp sinh
nhai.
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn
hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong
trồng trọt, chăn nuôi hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông
nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất
diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lại tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức
độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm
hàng hóa bán ra trên thị thường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất
nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính
cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi...
Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản
xuất nôn nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các
con vật. Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm
truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len,
lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol..), da thú, cây cảnh, sinh vật

hơn và chủ yếu liên quan chặt chẽ, gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp và
các cơ sở kinh doanh đó là Môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh ở nông
thôn có thể được hiểu là
“Toàn bộ các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội có tác động trực tiếp hay gián
tiếp đến sự hình thành và phát triển kinh doanh ở nông thôn. Có nhiều cách tiếp
cận phân tích môi trường kinh doanh như môi trường trong nước và môi trường quốc
tế, môi trường tổ chức và môi trường thể chế, chính sách, v.v..Thuật ngữ “Môi
13
13
Vũ Thùy Dương – Đầu tư 46B Nghiên cứu khoa học
trường kinh doanh ở nông thôn” chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu dưới góc độ
kinh tế, pháp lý, văn hoá và xã hội. Bởi vì, trong một thực thể xã hội tuy rất đa dạng
và phức tạp, nhưng các yếu tố này đóng vai trò quyết định vào việc hình thành và
phát triển các thị trường cho hoạt động, đó là thị trường vốn, thị trường sức lao động,
thị trường mua (các yếu tố đầu vào của sản xuất - kinh doanh) và thị trường bán
(hàng hoá, dịch vụ do các doanh nghiệp sản xuất ra)”.
Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự kiểm soát và hỗ trợ của hàng
loạt các chính sách. Hiện nay, các chính sách chủ yếu ảnh hưởng đến doanh doanh
nghiệp bao gồm:

Các chính sách cụ thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp: Chính sách của chính
phủ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp .

Các quy định và luật liên quan đến kinh doanh: bao gồm các quy định quản
trị hoạt động của doanh nghiệp bao gồm việc đăng ký và các yêu cầu báo cáo

Chính sách, các quy định và luật pháp liên quan đến thuế: bao gồm các loại
thuế (thuế thu nhập, thuế lợi nhuận, VAT, thuế (GST) hàng hoá và dịch vụ.

Các quy định luật liên quan đến lao động: liên quan chặt chẽ đến chất

Trong những năm kể từ sau “Đổi mới”, FDI vào Việt Nam có vai trò rất lớn
trong việc tạo vốn đầu tư xã hội, góp phần không nhỏ vào các hoạt động kinh tế
của cả nước. Trong suốt một thập kỷ qua, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ trọng
ngày càng tăng trong GDP. Năm 2003, khu vực FDI đóng góp 14% GDP so với
tỷ lệ đóng góp 6,4% của khu vực này năm 1994. Bên cạnh đó, khu vực có vốn
FDI luôn dẫn đầu về tốc độ tăng giá trị gia tăng so với các khu vực kinh tế khác
và là khu vực phát triển năng động nhất.
Hình 1: FDI thực hiện so với tổng đầu tư toàn xã hội và so với GDP.
Nguồn: Nguyễn Thị Tuệ Anh et al, 2005.
Theo báo cáo của Nhóm cố vấn Hợp tác Quốc tế (ISG – Bộ Nông nghiệp và
PTNT), hàng năm, khu vực nông nghiệp nông thôn thu hút khoảng 50 dự án với
giá trị khoảng 200 triệu USD. Phần lớn các dự án FDI trong nông nghiệp có quy
mô nhỏ và trung bình, phân bố gần các vùng nguyên liệu. Những doanh nghiệp
này đóng góp trên 17 triệu USD cho ngân sách và trên 500 triệu USD trong kim
ngạch xuất khẩu...
Tính đến hết tháng 6 năm 2005, lĩnh vực nông, lâm nghiệp đã thu hút 782
dự án đầu tư nước ngoài (ĐTNN) với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 4,1 tỉ USD,
trong đó có 623 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 3,2 tỷ đô
la Mỹ, chiếm khoảng 7% vốn đầu tư đăng ký của khu vực ĐTNN cả nước. Trong
những năm đầu của thập kỷ 90, nguồn vốn ĐTNN tập trung chủ yếu vào các dự
án chế biến gỗ và các loại lâm sản. Tuy nhiên từ năm 1995 cho đến nay, nguồn
vốn này được thu hút khá đồng đều vào các dự án trồng trọt, chế biến lâm sản,
sản xuất đường mía, sản xuất thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi gia súc gia cầm, trồng
rừng và sản xuất nguyên liệu giấy. Về đại thể, nguồn vốn Fdi đầu tư vào nông
nghiệp tập trung ở một số lĩnh vực: trồng trọt, thủy sản, chăn nuôi, công nghệ
chế biến. Thực tế cho thấy trong thời gian qua, một số lĩnh vực có vốn đầu tư
nước ngoài hoạt động khá hiệu quả, cùng với thành phần kinh tế khác tạo ra sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, giải quyết số lượng lao động nhàn
rỗi lớn ở nông thôn, và lực lượng lao động Việt Nam có điều kiện tiếp cận kinh
nghiệm quản lý, kỹ thuật hiện đại, từng bước làm chủ trong sản xuất khi tham gia

100,0
0
100,0
0
100,0
0
100,00
Nông - lâm – thủy sản
Công nghiệp – xây dựng
Công nghiệp chế
biến
Dịch vụ
24,53
36,73
18,56
38,73
23,24
38,13
19,78
38,63
23,03
38,49
20,58
38,48
22,54
39,47
20,45
37,99
21,81
40,21

thu hút được một lượng vốn đầu tư nhất định. Tuy nhiên, lượng vốn đầu tư trực
tiếp cũng như các công nghệ chuyển giao chưa đáp ứng đủ nhu cầu thay đổi cơ
bản về trình độ và năng lực công nghệ trong toàn ngành do công nghệ áp dụng
trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn còn khá lạc hậu. Theo số liệu gần đây,
Việt Nam là một nước nông nghiệp có nguồn nông sản nguyên liệu dồi dào nhưng
thiết bị, công nghệ chế biến nông sản không đủ năng lực sản xuất hàng xuất khẩu.
Có thể điểm qua các số liệu sau:
- 128 nhà máy xay xát gạo, tổng công suất 2,4 triệu tấn nhưng thiết bị từ
những năm 60 (ở miền Bắc) và những năm 80 (ở miền Nam);
- 126 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh, 11 cơ sở chế biến bột cá, 84
doanh nghiệp chế biến nước mắm không đủ đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu
dùng nội địa;
- Ngành khai thác hải sản mới chủ yếu hoạt động gần bờ, chưa có nhiều
phương tiện tàu và máy móc phục vụ đánh bắt xa bờ.
- 18 nhà máy chế biến rau quả chỉ đảm bảo chế biến được 5% sản lượng rau
quả, chưa đáp ứng được chỉ tiêu chất lượng xuất khẩu;
- 30 nhà máy chế biến thịt của cả nước chỉ đạt tỷ lệ chế biến 1,5%;
- Các khu vực chế biến dầu thực vật, chè, cà phê, cao su cũng chưa được đầu
tư thích đáng, thiết bị cũ, hiệu quả thấp;
- Công nghệ chế biến sữa đang ở tình trạng thiếu nguyên liệu tại chỗ.
Xét theo ngành, tỷ trọng vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn
chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong giai đoạn 1988 đến 2000, tỷ trọng vốn đầu tư vào công
nghiệp là 53,1%, dịch vụ là 41,1%, trong khi đó nông, lâm nghiệp chỉ 5,8% tổng
số vốn FDI, còn qui mô của các dự án cũng nhỏ hơn so với qui mô của các dự án
trong các ngành khác. Về vốn thực hiện (lượng vốn thực sự đã được di chuyển vào
trong các ngành) trong nông nghiệp chỉ bằng 1/5 tổng số vốn đầu tư trong lĩnh vực
dịch vụ và bằng 1/11 tổng số vốn đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp. Nhưng lực
lượng lao động chủ yếu hiện nay của Việt Nam lại ở trong khu vực nông nghiệp.
Điều này cho thấy sự bất cân xứng giữa vị trí, vai trò của lĩnh vực nông nghiệp và
yêu cầu khai thác các nguồn lực phát triển của khu vực này với tình hình thực hiện

nhuận thu được. Ngoài ra, việc ưu đãi thuế cho các mặt hàng xuất khẩu, chính
sách trang trại đã phát huy tác dụng, chính sách thuế nông nghiệp đã làm yên tâm
người nông dân, chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đã giúp cho
hàng triệu nông dân tiếp cận với công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học....
Những chính sách này đang tạo ra một môi trường sản xuất và kinh doanh hàng
nông sản sôi động, có chiều sâu và hiệu quả ngày càng tăng, làm tăng thêm tính
hấp dẫn của môi trường đầu tư trong lĩnh vực này đối với hoạt động CGCN.
Ngoài ra, thị trường xuất khẩu cũng đang ngày càng mở rộng cho hàng nông sản
Việt Nam.
1.4. Nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu.
Đây là một thành tựu rất đáng khích lệ, nhất là trong tình hình Việt Nam đã
tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO. Việc mở cửa các thị trường là điều
không tránh khỏi, vì thế nâng cao giá trị, chất lượng hàng nông sản xuất khẩu
cũng là một biện pháp thị trường nông sản Việt Nam cạnh tranh với hàng nông sản
của các nước có thế mạnh về hàng nông sản. Đối với nông nghiệp cam kết thuế
nhập khẩu bình quân của các nông sản là 21% so với mức hiện hành 31,6%, giảm
đi 16%. Cam kết áp dụng an toàn vệ sinh thực phẩm các sản phẩm nông nghiệp
(theo Bộ Th ương m ại)
Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu phân theo thành phần kinh tế tham gia xuất
khẩu
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng
kim ngạch (tr.
USD)
14.455 15.027 16.706 20.176 26.503 32.442 39.605
Tốc
độ tăng
trưởng (%)
25,3 4,0 11,2 20,8 31,5 22,4 22,1
DN

công nghệ và nguyên liệu nhập từ bên ngoài, do đó giá trị gia tăng thấp (giày da
và dệt may).
1.5. Đa dạng hoá sản phẩm.
Sau khi nhà nước bãi bỏ chính sách chỉ huy và sản xuất tập thể, ngày nay
nông nghiệp Việt-Nam đã thực hiện được kế hoạch đa canh. Thay vì chỉ tập
trung một một số hoa màu cổ truyền với nhiều rủi ro liên quan đến giá cả và thời
tiết, nông dân được tự do trồng đủ loại hoa màu, cây ăn trái và kỹ nghệ với lợi
tức cao hơn. Mức tăng trưởng hàng năm của khu vực nông nghiệp giữ ở mức
3.3% và 3.5% trong hai năm 2003 và 2004, năm 2005 là 2.2% và 2006 là 3.2%.
1.6. Tạo việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập dân cư, cải thiện
đời sống kinh tế xã hội nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế các dự án FDI trong nông, lâm nghiệp đã góp
phần giải quyết một số vấn đề xã hội ở những vùng có dự án. 4.799 lao động
nông thôn có việc làm mới, thu nhập cao hơn hẳn lao động của địa phương.
Trình độ nghề nghiệp của lao động nông, lâm nghiệp được nâng cao qua thực tế
sản xuất có tính hàng hóa cao của các dự án. Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn
vùng có dự án được xây dựng mới và nâng cấp so với trước, nhất là điện, thủy
lợi, giao thông, cơ sở chế biến nông, lâm sản, trạm y-tế. Đối với các vùng miền
núi,vùng đồng bào các dân tộc ít người như Sơn La, Cao Bằng, Quảng Ninh,
Lâm Đồng, các dự án FDI trong nông, lâm nghiệp còn góp phần quan trọng xóa
bỏ các hủ tục lạc hậu, xây dựng bản làng theo hướng văn minh phù hợp với nền
sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa.
Ở Việt Nam, số lượng người làm việc trong khu vực FDI ngày càng tăng
qua các năm.Thu nhập bình quân của lao động Việt Nam trong khu vực FDI nhìn
chung cao hơn ở khu vực trong nước. Tuy nhiên, thu nhập của lao động trong
khu vực FDI cũng tuỳ thuộc vào ngành nghề, trình độ học vấn và trình độ
chuyên môn kỹ thuật, do vậy thu nhập của người lao động trong các doanh
nghiệp này có có sự chênh lệch tương đối lớn. Người lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao có thu nhập cao gấp 3,5 lần so với lao động phổ thông
và cao gấp 2,88 lần so với lao động có trình độ sơ cấp. Các vị trí quản lý cao cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status