Download miễn phí Khóa luận Thực trạng và và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I. Tổng quan về các định chế tài chính
1. Khái niệm
2. Chức năng và vai trò của các ĐCTC
3. Hệ thống các định chế tài chính
II. Các định chế tài chính tham gia trên TTCK
1. Một số vấn đề cơ bản về TTCK
2. Các định chế tài chính tham gia trên TTCK
III. Vai trò của các định chế tài chính trên TTCK
1. Cầu nối giữa người cho vay và người sử dụng vốn
2. Giảm thiểu rủi ro do đa dạng hoá danh mục đầu tư
3. Giảm thiểu chi phí xử lý thông tin và chi phí hợp đồng
4. Cung cấp một cơ chế thanh toán
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I. Sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam
1. Bối cảnh kinh tế- xã hội và môi trường pháp lý
2. Sự hình thành và phát triển
II. Hệ thống các định chế tài chính trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1. Các văn bản pháp lý điều chỉnh
2. Các định chế tài chính tham gia trên TTCK Việt Nam
III. Thực trạng vai trò của các định chế tài chính trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1. Cầu nối giữa người cho vay và người cần vốn
2. Giảm chi phí giao dịch
3. Giảm thiểu rủi ro do đa dạng hóa danh mục đầu tư
4. Tạo cơ chế thanh toán
IV. Đánh giá chung
1. Kết quả đạt được
2. Những hạn chế và nguyên nhân
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I. Định hướng nâng cao vai trò của các định chế tài chính trên TTCK Việt Nam
1. Định hướng phát triển của TTCK Việt Nam đến năm 2010
2. Định hướng nâng cao vai trò của các ĐCTC trên TTCK Việt Nam
II. Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế tài chính trên TTCK Việt nam trong giai đoạn hiện nay
1. Giải pháp chung
2. Giải pháp cụ thể
2.1. Tăng năng lực tài chính của các ĐCTC
2.2. Củng cố các nghiệp vụ chính, đồng thời phát triển các nghiệp vụ mới trên thị trường
2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của các ĐCTC
2.4. Mở rộng phạm vi hoạt động dựa vào quan điểm đa dạng hóa các định chế tài chính trên thị trường chứng khoán
2.5. Hội nhập hơn nữa với thị trường chứng khoán khu vực và thế giới
3. Một số kiến nghị
KẾT LUẬN
http://s1.liketly.com/flash/edoc/-images-nopreview.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-47208/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
ng qua tại kỳ họp thứ 8, khóa XI ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006, thay thế cho Luật công ty đã được ban hành trước đó. Luật doanh nghiệp quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Luật điều tiết việc phát hành, kinh doanh chứng khoán của các công ty cổ phần.
Theo Luật doanh nghiệp mới, các ĐCTC có thể tham gia góp vốn, chuyển nhượng vốn cổ phần, đại lý. So với Luật công ty đã ban hành, thì Luật doanh nghiệp cho phép các công ty TNHH được phép phát hành trái phiếu, cho phép thành lập loại hình doanh nghiệp mới là công ty TNHH một thành viên, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nhà nước và các ĐCTC thành lập công ty con để hoạt động trong một số lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực chứng khoán.
Tóm lại, trong thời gian vừa qua, các cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK đã có những bước tiến quan trọng trong việc soạn thảo, phê chuẩn và ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến chứng khoán và TTCK. Đặc biệt là sự ra đời của Luật chứng khoán - văn bản pháp lý cao nhất về chứng khoán và TTCK, sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng, Luật doanh nghiệp. Các văn bản pháp lý này đã bước đầu thiết lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh chứng khoán trên TTCK Việt Nam.
Các định chế tài chính tham gia trên TTCK Việt Nam
Thị trường tài chính Việt Nam trong những năm vừa qua đã có những bước phát triển vượt bậc, được xếp vào là một trong những thị trường tài chính có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Đặc biệt, từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thị trường tài chính Việt Nam nhanh chóng trở thành nơi hấp dẫn đầu tư của các tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính để huy động trong dân chúng của Việt Nam còn rất lớn vì hiện tại Việt Nam mới chỉ có khoảng 8% dân số có tài khoản tại ngân hàng trên tổng số trên 84 triệu người.
Việt Nam, với quan điểm thiết lập hệ thống ĐCTC theo hướng đa dạng hóa, đa năng hóa, đã hình thành hệ thống ĐCTC đa dạng, gồm hai khối sau:
Các ngân hàng
Là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình NHTM hàng gồm:
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng đầu tư và phát triển
Ngân hàng chính sách
Ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng và các loại hình ngân hàng khác.
Các tổ chức phi ngân hàng
Là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không được làm dịch vụ thanh toán. Loại hình này gồm các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài chính, các công ty bảo hiểm, CTCK.
2.1. Các ngân hàng thương mại
Trong hệ thống các ĐCTC Việt Nam hiện nay, NHTM đóng vai trò quan trọng nhất đối với thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung.
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, làm nghiệp vụ chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán.
Hệ thống ngân hàng của Việt Nam trước đây là hệ thống ngân hàng một cấp, vừa làm nhiệm vụ của Ngân hàng trung ương, vừa thực hiện chức năng của Ngân hàng kinh doanh tiền tệ. Hoạt động, chức năng và nhiệm vụ của hệ thống ngân hàng nước ta thực sự được đổi mới căn bản và toàn diện khi Pháp lệnh ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành. Hệ thống ngân hàng Việt Nam được phân chia làm hai cấp, trong đó NHTM thực sự trở thành tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Để tiếp tục hoàn thiện hệ thống NHTM, Quốc hội đã thông qua Luật ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ngày 12/12/1997, có hiệu lực ngày 01/10/1998 để tạo điều kiện cải cách mạnh mẽ hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Bảng 2: Hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
STT
Các ngân hàng Việt Nam
Số lượng
1
Ngân hàng thương mại quốc doanh
5
2
Ngân hàng chính sách
1
3
Ngân hàng phát triển
1
4
Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị
31
5
Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn
4
6
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
37
7
Ngân hàng liên doanh
5
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Ngành ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, mức đóng góp tăng từ 25% GDP trong năm 2000 lên 63% hiện nay. Ngành ngân hàng là một ngành có tiềm năng phát triển cao trong nền kinh tế nước ta.
Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp và của người tiêu dùng ngày càng cao. Hiện nay các NHTM có bốn khó khăn lớn cần vượt qua, đó là: các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng (Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng), năng lực tài chính, công nghệ ngân hàng và khó khăn cuối cùng là nhân lực. Ví dụ, năm 2005, hai luật (Luật ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng) đã được sửa đổi, bổ sung nhưng trên thực tế, vẫn chưa theo kịp với tiến trình hội nhập. Hai luật này được xây dựng từ năm 1997, năm mà khủng hoảng tài chính diễn ra tại Châu Á, nhiều NHTM cũng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Những quy định lúc đó phù hợp với các luật khác như Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp nhưng hiện các luật đó đã được sửa đổi, bổ sung hay ban hành mới, cởi mở và thông thoáng hơn rất nhiều.
2.2. Các ĐCTC phi ngân hàng
2.2.1. Công ty chứng khoán
Luật chứng khoán được ban và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã thay thế cho các văn bản pháp lý trước đó nhằm điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động của các CTCK.
Năm 1999 chỉ có duy nhất 1 CTCK được thành lập là CTCK Bảo việt. Sang năm 2000, khi TTGDCK Thành phố Hồ chí Minh chính thức đi vào hoạt động, đã có thêm 6 CTCK được thành lập, gồm CTCK Ngân hàng đầu tư và phát triển, CTCK Ngân hàng công thương, CTCK Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, CTCK Ngân hàng Á châu, CTCK thăng Long, CTCK Sài Gòn.
Triển vọng phát triển nhanh của TTCK đã tạo điều kiện cho hàng loạt các CTCK ra đời trong vài năm gần đây. Năm 2006 chứng kiến sự ra đời của 39 CTCK. Và tính đến ngày 10/10/2007, TTCK có 59 CTCK đang hoạt động, trong đó có 58 CTCK đã trở thành thành viên chính thức của SGDTP HCM và TTCK HN (CTCK VNS mới chỉ đăng ký làm thành viên tại TTCK Hà Nội). Hiện nay còn có khoảng 80 hồ sơ đang chờ được cấp phép thành lập CTCK (Phụ lục 1).
Trong số 59 CTCK đang hoạt động, có 8 CTCK được tổ chức theo mô hình công ty TNHH, 51 công ty còn lại được tổ chức theo mô hình công ty cổ phần. Trong đó, CTCK Sài Gòn và CTCK Bảo Việt đã niêm yết cổ phiếu trên TTGDCK Hà Nội vào tháng 12/2006.
Trong số các CTCK đã được thành lập, đáng chú ý nhất là nhóm các CTCK trực thuộc ngân hàng. Khối các công ty này thường có thế mạnh về năng lực vốn, kỹ thuật, công nghệ, mạng lưới chi nhánh, nhân lực và mối quan hệ mật thiết với khách hàng có được từ ngân hàng mẹ.
2.2.2 Quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là mộ...