Thực trạng đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng người chăm ở An Giang từ sau năm 1975 đến nay - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thanh Dung

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

nghĩ tới bằng nhiều tình cảm khác nhau. Là vùng đất miền Tây Nam Bộ, nơi có sông Tiền, sông Hậu
và các chi lưu nhỏ của sông Mê Kông chảy ra biển mà nhân dân ta từ xưa quan niệm là chín con rồng
(Cửu Long) phun nước để tưới vùng đất đai này. Đây là vùng đất của lúa gạo, tôm, cá, miền đất của
cây trái, mưa thuận gi
ó hoà và đất của những anh hùng trong quá trình mở đất và giữ đất.
Về phương diện dân cư, đồng bằng sông Cửu Long là hỗn hợp dân cư từ nhiều nguồn địa phương
khác nhau, đa dạng về mặt tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ phát triển xã hội và văn hoá giữa các khu vực
trong vùng cũng như lối sống, phong tục tập quán, phương thức canh tác, phong cách làm ăn không
hoàn toàn như nhau.
Về phương diện dân tộc, đồng bằng sông Cửu Long ngay từ buổi đầu lịch sử khai phá và hìn
h
thành vùng đất này đã có hỗn hợp giữa tộc người Việt, Khmer, Hoa, Chăm. Trong đó tộc người Việt và
văn hoá Việt đã trở thành nhân tố phát triển cơ bản bên cạnh sự hoà hợp với văn hoá tộc người Chăm,
Khmer và văn hoá của các cư dân địa phương ở các vùng ven biển Nam Trung Hoa. Tính chất bao
trùm trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long là sự hoà hợp và phát triển những yếu tố văn hoá và
dân tộc người Việt là chủ đạo. Song những đặc trưng của văn hoá của các dân tộc người anh em
khác
vẫn tồn tại sâu đậm trong nông thôn nhiều vùng đặc biệt ở An Giang. Thể hiện rõ nét nhất là sự hoà
hợp giữa ba tộc người Việt, Khmer, Hoa về hiện tượng nói ba thứ tiếng, sự vay mượn qua lại những
yếu tố văn hoá và phong tục tập quán của người Việt, người Khmer, người Hoa.
Chúng ta có thể nhận thấy đư
ợc sự hoà hợp và đa dạng về mặt dân cư và quá trình giao lưu xích
lại gần nhau giữa các dân tộc ở vùng này là một hiện tượng lịch sử có tính quy luật bắt nguồn từ lịch sử
di dân và định hình ở vùng đất này.
An Giang là một trong 13 tỉnh thành của đồng bằng sông Cửu Long. An Giang là tỉnh nông
nghiệp nằm ở Tây N
am Tổ Quốc. Nơi con sông Mê Kông đổ vào đồng bằng Nam Bộ bằng hai dòng
sông Tiền và sông Hậu - với tên gọi chung là sông Cửu Long. Vừa có đồng bằng vừa có núi non cùng
với hệ thống kênh rạch khá chằng chịt, dân số khoảng 2.300.000 người vào năm 2005, An Giang là
tỉnh đa dân tộc : người Kinh, Khmer, Hoa, Chăm …các dân tộc anh em đều định cư khá lâu đời trên

lưu, đoàn kết, đùm bọc cùng nhau phát triển sẽ là một ý nghĩa quan trọng cho công việc xâ
y dựng nông
thôn mới ở miền biên giới tỉnh An Giang.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Như tên đề tài luận văn, đối tượng nghiên cứu là cộng đồng người Chăm ở An Giang trên bình
diện tổng thể, xét trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hoá trong quá trình định cư, khai phá bảo vệ
vùng đất mới này cũng như những đóng góp của người Chăm
trong xây dựng phát triển đất nước. Thời
điểm lịch sử được giới hạn là sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975) đến nay.
Với phạm vi nghiên cứu trên, luận văn đề cập đến những vấn đề cụ thể sau:
- Sự hình thành và phát triển cộng đồng cư dân Chăm ở An Giang, những luồng di cư đông đảo
của người Chăm từ Campuchia về Việt Nam tạo nên một cộng đồng cư dân đông đúc.
-
Từ việc nghiên cứu thực trạng đời sống của cộng đồng người Chăm ở An Giang trong quá khứ
và hiện tại. Luận văn sẽ dựng lại bức tranh tổng quan về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của cộng
đồng người Chăm ở An Giang.
- Trên cơ sở đó luận văn đề cập đến những khuynh hướng biến đổi
trong đời sống kinh tế, xã hội,
văn hoá của cộng đồng người Chăm ở An Giang trước yêu cầu phát triển của xã hội. Sự biến mất của
những tập tục lạc hậu và việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc
Chăm.
Từ đó, tác giả đề xuất những chính sách đối với chính quyền địa phương và các cấp nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Chăm có thể phát huy vai trò của họ, đóng góp vào sự phát
triển kinh tế của vùng.

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thư tịch cổ Trung Hoa và các bộ sử trước đây
của Việt Nam đã có những ghi chép về dân cư và
các vương quốc Champa - Vương quốc cổ của tổ tiên người Chăm ngày nay.
Tuy nhiên phải đến nửa cuối thế kỷ XIX trong sự phát triển chung của các ngành khoa học, người

hội, đời sống tinh thần của người Chăm đã đư
ợc trính bày. Đáng chú ý là đã có hai luận án Phó tiến sĩ
khoa học lịch sử nghiên cứu các hình thức văn hoá vật chất của người Chăm đã được bảo vệ là Phan
Thị Yến Tuyết và Thành Phần. Ngoài ra còn phải kể đến nhiều luận án tốt nghiệp Đại học chọn đề tài
nghiên cứu về người Chăm và văn hoá Chăm.
Trong suốt quá trình kể trên nhiều vấn đề có liên quan đến người Chăm đã thu hút được sự chú ý
của nhiều nhà nghiên cứu như tín ngưỡng và tôn giáo, hôn nhân và gia đình, nghề thủ công truyền
thống của người Chăm
, sinh hoạt văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần … Điều này phải kể đến công
trình nghiên cứu của các tiến sĩ và phó tiến sĩ khoa học lịch sử như Trần Ngọc Khánh, Phan Văn Dốp,
Võ Công Nguyện …Trong loạt bài đăng trên các tạp chí Dân Tộc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á …
của các tác giả Bá Trung Phụ, Phạm T
hị Vinh, Trần Nam Tiến, Châu Tấn Lực … phần nào tái hiện lại
những nét đẹp truyền thống nghi lễ cưới dân tộc Chăm, nét y phục Chăm và nghi lễ tôn giáo... Nhìn
chung, các tác giả đã có sự đóng góp rất quan trọng làm phong phú bức tranh đời sống kinh tế, xã hội
văn hoá của cộng đồng người Chăm ở Việt Nam.
Người Chăm ở An Giang là một bộ phận của dân tộc Chăm đã tách khỏi cộng đồng của
mình ở
Trung Bộ và cùng cộng cư với người Việt, người Hoa, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu
Long.Công trình mang tính chất dân tộc học đầu tiên về người Chăm được Alubussìere viết năm 1880
“Rapportsur Les chams et les Malais de L’arrondis Sement” đã đề cập đến nếp sống của người Chăm
(và người Mã Lai) ở Châu Đốc dưới tác động của đạo Islam. Sau này trong một chuyên khảo về cộng
đồng Hồi giáo ở Đông Dương (thuộc Pháp) M.Ner đã nêu một số nét cơ bản về ki
nh tế, xã hội, giáo
dục, tôn giáo của các làng Chăm Châu Đốc, tác giả cũng giới thiệu về những ngoại kiều theo Hồi giáo
ở Sài Gòn và người Chăm Mã Lai theo Hồi giáo ở Campuchia. Có thể nói, đó là những công trình
nghiên cứu về tôn giáo của người Chăm dựa trên “khảo sát thực địa” cho chúng ta biết về tình trạng
tôn giáo của người Chăm ở nửa đầu thế kỷ XX.
Từ những năm
50 đến năm 1975 các tác giả trong nước như Bố Thuận, Nghiêm Thẩm,

và bao quát một cách toàn diện mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần. Thông qua việc tham khảo các tập
chí Dân tộc học, tạp chí Văn hoá dân tộc, tạp chí Xưa và Nay đăng tải các bài nghiên cứu có nội dung
liên quan đến đề tài đặc biệt là các công trình nghiên cứu nêu trên của các tác giả đã giúp cho bản thân
tác giả luận văn có một cái nhìn toàn diện về mọi mặt trong đời sống của cộng đồng Chăm ở An Giang.
4. N
guồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn sử liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài : “Thực Trạng Đời Sống Kinh Tế - Xã Hội - Văn Hoá của cộng
đồng người Chăm ở An Giang” tác giả đã tiếp cận các nguồn tài liệu:
1. Nguồn tài liệu từ các bộ thông sử Việt Nam các sách chuyên khảo mà tác giả khai thác từ tác
phẩm Đại Nam Thực Lục, Gia Định Thà
nh Thông Chí, Đại Nam Nhất Thống Chí, Việt Sử Xứ Đàng
Trong, Văn hoá và dân cư đồng bằng sông Cửu Long, … có những ghi chép về quá trình mở mang
vùng đất cực Nam tổ quốc việc bang giao giữa Việt Nam với các nước láng giềng lịch sử di dân của
các cư dân đến vùng đất mới này có liên quan đến đề tài luận văn này.
2. Các tác phẩm, bài nghiên cứu của các sử gia Việt Nam hiện đại đề cập đến lịch sử vùng đất
Nam Bộ, phác hoạ những nét sinh hoạt cơ bản trong đời sống của cộng đồng Chăm ở Tr
ung Bộ cũng
như cộng đồng Chăm ở An Giang.
3. Các tạp chí trong nước, luận văn, luận án có liên quan đến đề tài.
4. Nguồn sử liệu truyền miệng : Từ các giáo cả (Hakêm) ở các thánh đường Hồi giáo ở An Giang,
tác giả luận văn thu thập những nguồn tài liệu quý giá
về dân tộc Chăm như nét sinh hoạt trong đời
sống, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng Hồi giáo An Giang được ghi nhận và sử dụng trong
luận văn.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
1. Phương pháp tiếp cận hệ thống: đặt cộng đồng người Chăm ở An Giang trong mối quan hệ
giữa các dân tộc người cùng sinh sống ở vùng đất này : Kinh, Khmer, Hoa. Cùng quá trình lịch sử đời
sống của cộng đồng Chăm có đặc trưng như thế nào và có sự hoà hợp, thích ứng với vùng đất và con

Qua t
hực trạng đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá của cộng đồng người Chăm ở An Giang được
phác họa sẽ tạo cơ sở cho những đề xuất, kiến nghị đối với chính quyền các cấp trong việc xây dựng và
nâng cao đời sống kinh tế, xã hội, phát huy và bảo tồn các di sản văn hoá của cộng đồng người Chăm ở
An Giang trong thời gian tới.
Cuối cùng, nội dung của luận văn có thể là nguồn tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và
nghiên cứu trong việc nhận diện các dân tộc ở Việt Nam.
6. Bố cục luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận.
Chương 1 : Lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng người Chăm ở An Giang.
Chương 2 : Bức tranh tổng quan về đời sống kinh tế - xã hội - văn hoá của cộng đồng người Chăm
ở An Giang.
Chương 3 : Chính sách đối với cộng đồng người Chăm ở An Giang - Những đề xuất và kiến nghị. Chương 1 : LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
CHĂM Ở AN GIANG

1.1.Vài nét về nguồn gốc hình t
hành Cộng đồng người Chăm ở An Giang
1.1.1. Những biến cố lịch sử dẫn đến việc di cư của người Chăm

Champa là một từ Phạn ngữ, vốn là tên của một loài có hương thơm dịu mát mà ở Việt Nam gọi
là hoa đại hoặc bông sứ, có tên khoa học là Plumeríaruba L.CU.acutifolia. Champa cũng còn là một địa
danh cổ của một vùng đất ở miền đông bắc Ấn Độ.
Ở Việt Nam, Champa lại là tên một quốc gia cổ được thấy khắc ghi đầu tiên trên bia ký Phạn ngữ
vào thế kỷ thứ VI. Đó là bia của Sambhuvarman.Trong Tân Đường thư, nước Champa ấy đư

sáng tỏ. Song qua sự xuất hiện của bia Võ Cạnh ở đất Nha Trang - Khánh Hoà ngày nay cũng đã xác
định miền đất được gọi là Nam Champa này và miền Bắc Champa (Lâm Ấp) vào cuối thế kỷ thứ II, III
sau công nguyên lúc đó cũng ở vào giai đoạn cuối cùng của sự phát triển văn hoá bản địa tiền Champa.
Như vậy, xét về không gian, thời gian xuất hiện của văn hoá bản địa tiền C
hampa nó sẽ bao quát cả
một dãy đồng bằng ven biển Nam Việt Nam, khoảng thế kỷ II, III sau công nguyên. Ở đó là các vùng
cửa sông, cửa biển được nối liền với những dãy đồng bằng phì nhiêu, giàu tài nguyên như Thu Bồn -
Quãng Nam (vốn là xứ Amaravati - Indrapuara - Sinhapura), Trà Khúc - Quảng Ngãi (xứ Vijaya), Nha
Trang - Khánh Hoà (xứ Kauthara), Phan Rang - Ninh Thuận (xứ Panduranga), … chắc là những miền
mà văn hoá Chăm sớm hình thành với những trung tâm cư dân của các thị cảng trù phú thuở ấy.
Như vậy, lã
nh thổ Champa xưa(Chiêm Thành) trải dài trên bờ biển miền Trung là nơi cập bến của
những tàu, thuyền trên đường Đông - Tây, từ Ấn Độ đến Trung Quốc và ngược lại. Nơi đây cũng được
biết đến bởi nhiều vật phẩm quý, đồ gốm, đồ bằng vàng, hương liệu, trầm hương, …Với vị thế thuận
lợi, từ thế kỷ thứ X - XV, Champa trở thành đầu mối một trung tâm thương mại liên vùng.
Cũng
theo chính sử của Trung Quốc ghi lại, nước Chiêm Thành vốn xưa là nước Lâm Ấp, dựng
nước vào khoảng năm 137 ở trên đất của huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam đời Hán, từ núi Ải Vân ở
bắc đến núi Đại Lĩnh ở nam. Sau đó, nước Lâm Ấp phát triển ra bắc, chiếm hết cả đất quận N
hật Nam
của nhà Hán, đến thời nhà Đường thì biên giới phía bắc của Lâm Ấp ra đến Hoành Sơn. Ở miền Nam
họ lần lượt chiếm được đất Khánh Hoà, đất Phan Rang và đất Bình Thuận. Theo sách Tân Đường thư,
đến thời Đường là nước Hoàn Vương, nhưng từ đầu thế kỷ IX, sau khi nước ấy bị An Nam đô hộ của
nhà Đường là Trương Châu đánh phá phải “dời nước vào Chiêm Thành”[1, tr.23], tức là phải bỏ những
đất ở phía bắc Ải Vâ
n cho nhà Đường mà rút về miền Chiêm Thành, tức miền Quảng Nam, sử sách
Trung Quốc cũng gọi nước ấy là nước Chiêm Thành. Đến thế kỷ thứ X nhà Đường suy vong thì Chiêm
Thành khôi phục lại được đất đai ở phía Bắc Ải Vân cho đến Hoành Sơn.
Do đó, chúng ta có thể đoán rằng, từ nửa sau thế kỷ thứ IX trở đi nước Chiêm Thành giao hảo với
nhà Đường, khi nhà Đường đã bắt đầu suy yếu, C

hiêm xưng thần và xin triều cống, và cũng từ đó về sau nước Chiêm cũng suy yếu
dần.
Cuối đời Lê, nhân dân bị bóc lột và bị ức chế ngày càng nhiều, họ đã nổi dậy bạo động chống nhà
Lê. Chán ghét hành động bạo ngược của Lê Long Đỉnh (con kế vị của Lê Hoàn), Sư Vạn Hạnh từng
làm cố vấn cho Lê Hoàn đã đặt ra câu sấm đoán trước sự diệt vong của nhà Lê và sự hưng khởi của nhà

Lý để khuyên Lý Công Uẩn cướp ngôi.Với tài khéo thu được cảm tình của tất cả quân lính ở dưới tay
mình cũng như được sự kính phục của tầng lớp quan lại trong triều. Cho nên, khi Lê Long Đỉnh chết
năm 1009, Lý Công Uẩn được đăng cơ lên làm vua, mọi người đều theo.
Nhà Lý kế tục công cuộc kiến thiết đất nước để hoàn thành các thiết chế của Nhà nước phong
kiến tự chủ. Lãnh thổ m
à nhà Lý kế thừa là phần nữa về phía bắc của nước Việt Nam hiện tại : biên
giới mặt bắc thì gần đúng với biên giới Việt - Trung ngày nay, biên giới mặt nam là dãy Hoành Sơn,
tiếp giáp với nước Chiêm Thành, biên giới phía tây thì tương đương với đường phân thuỷ giữa lưu vực
sông Mê Kông và các lưu vực sông Đà, sông Cả, sông Lam, tiếp giáp với các bộ tộc Lào, biên giới
phía đông l
à biển. Nhà Lý đã từng bước xây dựng hoàn thiện các thiết chế quản lý nhà nước phong
kiến vừa mới định đô.
Để củng cố thống nhất và đặt cơ sở vững chắc cho Nhà nước phong kiến tự chủ, nhà Lý vừa dùng
chính sách nhu viễn để thu phục, vừa dùng chính sách chinh phạt để uy hiếp.Trong chính sách nhu
viễn, nhà Lý đã đem các công chúa gả cho một số tù trưởng có thanh thế nhất, lấy tinh thần gia tộc để
ràng buộc họ. Tù trưởng Động G
iáp ở Lạng Châu là Giáp Thừa Quý lấy con gái Lý Công Uẩn, rồi đổi
là họ Thân, lãnh chức Châu mục Lạng Châu. Phật Mã thì gả Kim Thành công chúa cho Châu mục
Phong Châu là Lê Thuận Tôn, người Mường, … Nhờ chính sách khôn khéo ấy, phần nhiều các bộ lạc
miền núi đã quy phục triều đình. Tuy nhiên ở phía nam, các vua Chiêm đã từng bị Lê Hoàn đánh bại
nặng nề, nhưng thỉnh thoảng các vua Chiêm vẫn cho quân sang đánh phá vùng duyên hải và miền biên
cảnh phía nam nước ta. Để bảo vệ lãnh thổ quốc gia, nhà Lý đã nhiều lần dụng binh đối với Chiêm
Thành.Thất bại, Chiêm Thành lại thần phục nhà Tống để dựa thế báo t
hù. Trong khi, nhà Tống đang

Jaya Sinhavar man IV. Ngược lại, đáp lại tình giao hảo đó, Chế Mân đã có sính lễ rất hậu của nhà t
rai
không chỉ có “vàng bạc, hương liệu mà hai châu Ô, Lý đến năm sau được sáp nhập vào bản đồ Đại
Việt đổi tên là châu Thuận, châu Hoá, hiện nay là Quảng Trị và Thừa Thiên.
Quan hệ tốt đẹp giữa Đại Việt và Chiêm Thành được củng cố và tăng cường trong những năm
chống ngoại xâm và thời gian tiếp theo, dưới hai triều Jaya Sinhavar man III, IV. Sau đó, do những tác
động của điều kiện mới quan hệ giữa hai quốc gia có những lúc trở nên phức tạp.
Khoảng năm 1360, ở Chiêm Thành xuất hiện một vị vua khác trị vì, theo Việt Sử gọi là Chế Bồng
Nga. Dù sao, sự trì vì của ông trong suốt 30 năm là những năm mà qu
an hệ giữa Chiêm Thành và Đại
Việt có những xung đột không nhỏ. Chế Bồng Nga lên ngôi đã kích động dân Chiêm Thành chống Đại
Việt. Lợi dụng sự suy yếu của nhà Trần, Chế Bồng Nga ra sức thổi bùng lên sự kỳ thị dân tộc phá vỡ
mối quan hệ hoà hiếu giữa Đại Việt và Chiêm Thành.Trong 30 năm có ít nhất 15 lần đánh lớn, có hai
lần quân Chiêm Thành đánh tận vào kinh thành Thăng Long. Hành động đá
nh phá liên tục đã dẫn đến
thực lực của mỗi quốc gia đều bị hao tổn không nhỏ. Lúc bấy giờ, nhà Trần có một vị tướng có khả
năng chỉ huy các cuộc chống cự rất có hiệu quả, đó chính là Hồ Quý Ly.
Năm Nhâm Ngọ - 1402, Hồ Quý Ly đem quân đánh Champa, quốc vương Jaya Sinhavarman Đệ
Ngũ thất trận phải dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy. Mặt khác, triều đình bấy giờ cũng tăng cường bắt
những người dâ
n không có ruộng đi vào khai khẩn những vùng đất ấy, hệ quả không ít người Chiêm
Thành bỏ đất mà đi. Năm 1403, nhà Hồ muốn lấy đất Bạt Đạt Gia, Hắc Bạch và SaLyNha về phía
Nam, những đất đã nhường năm trước, bèn sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem thuỷ bộ cả thảy 20
vạn quân sang đánh Chiêm Thành. Quân nhà Hồ vào vây thành Đồ Bà
n hơn một tháng trời mà đánh
thành không đổ. Lần này nhà Hồ không thu được kết quả như mong muốn.
Như vậy, từ thế kỷ thứ X trở đi, sau nhiều lần chiến bại trong những cuộc giao chiến với Đại
Việt, vương quốc Champa phải lùi về phía Nam. Cụ thể nhất là vào những năm :
- Năm 982, đời Lê Đại Hành, kinh thành Indrapura (thuộc Quảng Nam) của người Chăm bị tiêu
hủy. Sa

Cheychetta Đệ tứ, xin cư ngụ trên lãnh thổ Khmer [28, tr. 30].
Đến đầu thế kỷ XIX, sau khi thống nhất giang sơn, nhà Nguyễn đã áp dụng chính sách cai trị
ngày càng chặt chẽ đối với người Chăm. Đến năm 1822, Đại Việt dưới triều vua Minh Mạng, một vị
vua Chăm là P
ôChơnChan đã rời bỏ ngai vàng chạy sang Campuchia.
Đến năm 1833, khi Lê Văn Khôi nổi lên khởi nghĩa chống lại nhà Nguyễn, có nhiều người Chăm
ở đạo quân Quang Hóa (Tây Ninh) đã tham gia lực lượng nghĩa binh của Lê Văn Khôi. Bên cạnh đó,
Lê Văn Khôi còn phối hợp với các đầu mục của người Chăm ở Bình Thuận nổi dậy. Do đó, Lê Văn
Khôi đã chiếm vùng Phan Thiết, Phan Rí, Phan Rang một cách dễ dàng. Năm
1835, khởi nghĩa bị quan
quân dẹp tan, rất nhiều người Chăm sợ triều đình bắt tội nên trốn chạy vào những vùng hẻo lánh hoặc
sang Campuchia.
1.1.2. Những cuộc di cư của người Chăm đến An Giang
Có thể nói, do những biến cố đó, mà từ khá sớm đã có một bộ phận người Chăm bỏ quê hương đi
tìm những vùng đất khác yên ổn hơn để sinh sống. V
ùng đất Nam Bộ tuy không phải là điểm dừng
chân duy nhất của người chăm nhưng vào đầu những năm của thế kỷ XVII, với ưu điểm của vùng đất
mới còn hoang vu đặc biệt là vùng đất Đông Nam Bộ cao, khô ráo tiện cho việc làm rẫy. Điều này, phù
hợp với thói quen trong cư trú và sinh hoạt của người Chăm. Theo tác giả Như Hiên Nguyễn Ngọc
Hiền đã khái quát đặc điểm cư trú của người Chăm như sau: “Từ sơ khởi đến t
hế kỷ XVII, vùng hiểm
địa này cũng là nơi sương lam chướng khí, ta quen gọi nơi ấy là Đàng Thổ gồm các địa danh sau này
mang tên Đồng Nai, Bà Rịa, Sài Côn, Bến Nghé, đầu tiên cũng loáng thoáng một vài sắc tộc Khmer,
Chăm”. “Người Chăm có đặc điểm dạn dĩ, ưa sống thành từng nhóm biệt lập đồng chủng mà thôi. Hẳn
thâm tâm họ đã chán cảnh đụng độ, nê
n hay lánh mình” [34, tr. 432].
Theo sách Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh : Năm 1679, khi Nặc Nôn đem quân từ Sài
Gòn về đánh Nặc Thu, một bộ phận người Chăm cũng tham gia trong đoàn quân đi đánh Nặc Thu của
Nặc Nôn. Xét quá trình di cư của người Chăm trong giai đoạn này đến vùng đất Đông Nam Bộ từ thế
kỷ XVII hoặc có thể sớm hơn là có cơ sở.

đã tan rã hoàn toàn. Lúc đó, người Chăm đã chạy lên vùng người Thượng ở Tây Nguyên, sang
Campuchia và một số sang tận Malaixia, Inđônêxia. Có lẽ, không chịu nỗi cảnh bị o ép của chính
quyền phong kiến địa p
hương, họ quay trở lại Việt Nam và sinh cơ lập nghiệp ở các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long. Do tiếp xúc buôn bán và giao lưu văn hoá, số người Chăm ở khu vực này đã chịu ảnh
hưởng của người Mã Lai về nhiều mặt, trong đó có Hồi giáo. Do vậy, tôn giáo này có điều kiện được
củng cố và phát triển trong cộng đồng Chăm. Nhiều sách báo Hồi giáo trong đó kinh Coran, sách
Sunna đã được đưa và
o Việt Nam. Trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều người Chăm đã
sang Malaixia để học về Hồi giáo và từ đó họ hướng về thánh địa Mecca. Vì thế đồng bào Chăm Hồi
giáo ở các tỉnh phía Nam lại có mối liên hệ chặt chẽ với cộng đồng Hồi giáo thế giới. Trong khi đó, số
người Chăm sống ở miền Trung trên đất Ninh - Bình Thuận không có mối liên hệ chặt chẽ với trung
tâm Hồi giáo nên ít nhiều Hồi giáo ở đây chịu ảnh hưởng của một xu hướng khác, việc thực hiện các
giáo luật Hồi giáo không quy định nghiêm ngặt như tín đồ Hồi giáo ở các tỉnh Nam Bộ. Điều này có
thể dễ hiểu hơn do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ đến mọi mặt trong đời sống người Chăm. Hơn nữa,
người Chăm Hồi giáo ở miền Tr
ung sống bên cạnh người Chăm Bàlamôn và người Việt nên trong một
chừng mực nào đó, họ cũng chịu sự ảnh hưởng của các tôn giáo này.
Trở lại vấn đề hình thành cộng đồng người Chăm ở An Giang, chúng ta có thể khẳng định, từ thời
cổ trung đại, trên dãy đất miền Trung Việt Nam
ngày nay chính là địa bàn cư trú của người Chăm, họ
đã từng xây dựng nên một quốc gia hùng mạnh - Vương quốc Champa (Chiêm Thành) vẫn còn lưu
trong sử sách cho đến ngày hôm nay. Cũng như các quốc gia khác trên thế giới thời cổ trung đại,
Vương quốc Champa trải qua nhiều biến cố, người Champa phải lưu tán nhiều nơi trên lãnh thổ Việt
Nam ngày nay và cả những quốc gia khác trong khu vực.
Điều này đã lí giải được phần nào sự hiện diện của người Chăm ở những vùng rất xa chính quốc
của họ như ở đảo Hải Nam, MaLaixia, Thái Lan, Campuchia đi tìm vùng đất
khác yên ổn hơn để sinh
cơ lập nghiệp. Vậy người Chăm đã di cư đến sinh sống ở An Giang vào thời điểm nào ?
Có 2 nguồn di dân được xác định:

Man đánh người Man cũng là đắc sách”[34, tr.343]. Như vậy, cho đến thời điểm này, đã có một bộ
phận khá đông người Chăm về với Chúa N
guyễn, được định cư ở vùng đất mới Nam Bộ, dân số người
Chăm không ngừng tăng trong thời gian tiếp sau đó để thực hiện chủ trương của Chúa Nguyễn như đã
nêu.
Vào năm 1841, Nam Bộ có cuộc khởi nghĩa Lâm Sâm ở Trà Vinh, lúc bấy giờ vua Thiệu Trị
xuống chiếu Trương Minh Giảng đang ở Chân Lạp (Campuchia) rút quân về. Những người Chăm và
người Mã Lai được tuyển vào quân đội triều Nguyễn cùng gia quyến của họ đã rút theo đoàn quân của
Trương Mi
nh Giảng, Khâm sai đại thần Lê Văn Đức, phó khâm sai Doãn Uẩn của triều Nguyễn cũng
theo về. Sau đó, họ cư trú cùng gia đình dọc sông Hậu và Khánh Bình (An Phú) cho đến ngày nay.
Năm 1858 ở Chân Lạp, Tuôn Sết It lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống lại triều đình phong kiến.
Cuộc khởi nghĩa đã thu hút khá đông người Chăm, người Mã Lai tham gia. Đến khi c
uộc khởi nghĩa
thất bại, rất nhiều người Chăm, người Mã Lai chạy về Nam Bộ để lánh nạn và tìm sự che chở dưới
triều Nguyễn.Tất cả đều được thu nhận và cho định cư sinh sống ở vùng đất An Giang, phân bố cư trú
trong bảy làng : Châu Giang, Katambong, Phũm Soài, La Ma, Koh Koi, Koh Kia và Sa Bâu. Đây được
xem là đợt di dân đông đảo nhất của người Chăm từ Campuchia về An Giang.
Do tác động của điều kiện lịch sử diễn ra từ nửa sau thế kỷ XVII
I, tạo nên những đợt di dân của
người Chăm sau bao năm phiêu bạt đã trở về vùng đất Nam Bộ Việt Nam cư trú. Như vậy, chúng ta có
thể nhận thấy chiến tranh không phải lý do duy nhất dẫn đến người Chăm phải ly hương, mà còn vì
tiếng gọi khẩn hoang của nhà Nguyễn (triều Nguyễn), mà một bộ phận người C
hăm ở miền Trung đã
đi vào Nam. Thật vậy, sau khi Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn lập phủ Gia Định (1698) đã
chiêu mộ dân ở các địa phương miền Trung Việt Nam cho vào đây khai phá ruộng đất. Cũng vấn đề
này trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có ghi như sau : “…loạn lạc mãi, dân sự đói khổ,
ruộng đất bỏ hoang, lương thực không đủ ”[36, tr.434], nên nhà Nguyễn đã cử Trịnh Hoài Đức, Lê
Qua
ng Định, Ngô Tùng Châu, …cả thảy 12 người làm Điền tuần quan, mộ dân ở các nơi đến làm

đầu sống ở Kohkoi (Cồn Quan Thuế) ở xã Nhơn Hội (An Phú), sau mới chuyển về cư trú ở Châu
Giang (Phú Tân) đến nay.
The
o cụ Du Số (82 tuổi), phó cả thánh đường MuBaRak ở Châu Giang cũng cho biết, số người về
sớm nhất ở Châu Giang có bốn gia đình, trong đó có ông tổ của cụ tên : Ad Doromal (đời 1), Ad Doloh
(đời 2), Sam Su (đời 3), Ma Nơ (đời 4), Du Số (đời 5, tức đời ông ta), Mariam (đời 6), Halimal (đời 7).
Cụ tổ ông cùng với cụ Haji Abmed đến Châu Giang cùng một lượt với nhau. Và theo Hồi giáo, khi nào
có từ ba hộ gia đình trở lên có thể cất thánh đường nhỏ để làm lễ.
Cũng theo ông Ha
kêm Haji Musa ở Katambong, xã Khánh Hoà ( Châu Phú) cho biết, số người về
sớm ở địa phương trên đây có khoảng 20 gia đình, tính đến nay cũng được năm, sáu đời. Như gia đình
của ông Cô Cô Sêm (đời 1), Haji Issahak (đời 2), Hakêm Mách, Haji Tumal (đời 3), Katia, Kho Tiyah (đời
4), Haji Salès (đời 5), …
Có thể nói, do những biến cố mà từ khá sớm đã có một bộ phận người Chăm bỏ quê hương đi tìm
vùng đất khác yên ổn hơn để sinh sống. Riêng vùng đất Nam Bộ, tiếp giáp với vương quốc Champa
vào đầu thế kỷ XVII còn là vùng đất hoa
ng vu, nên một số người Chăm đã đến đây cư ngụ để lánh nạn
chiến tranh, hoặc theo tiếng gọi khẩn hoang của nhà Nguyễn. Như vậy, cư dân Chăm ở Nam Bộ nói
chung và ở An Giang nói riêng được hình thành từ hai nguồn chủ yếu, từ Trung Bộ chuyển cư thẳng
vào vùng đất phía Nam và phần đông khác từ Chân Lạp trở về. Buổi đầu họ tập trung cư trú rất đông ở
An Giang, Tây Ninh, và rải rác ở các địa phương thuộc Nam Bộ. Tuy nhiên, do yêu cầu lập nghiệp và
ảnh hưởng của chiến t
ranh, bom đạn dưới thời kỳ Pháp thuộc và ách thống trị của chủ nghĩa thực dân
mới ở miền Nam, nhiều nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có khá đông người
Chăm nhất là người Chăm ở An Giang đã bỏ quê lên Sài Gòn hy vọng tìm nơi có cuộc sống yên ổn
hơn hoặc đi phá hoang, sống về nghề ruộng rẫy ở tỉnh Bà Rịa, Đồng Nai, rải rác cũng có một số ít sống
trong các thị trấn, thị xã.
Do điều kiện lịch sử, người Chăm ở An Gia
ng có mối quan hệ với Hồi giáo MaLaixia, Indônêxia,
… Từ đó, mở rộng quan hệ với cộng đồng Hồi giáo trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Chính vì

- Tên Chà Và Ku: Trong 8 ấp Chăm, 4 ấp có người Chăm (Chà Và Cu) đồng nhất là ở Châu
Giang với Chòm Soài trên, Chòm Soài dưới có 269 hộ. Ở Châu Phong, Đa Phước, Katambong có
khoảng 38 hộ.
Chà Và có nghĩa “người Chăm”, “Ku” là danh từ của người Chăm gọi người Khmer. Chà Và Ku
có nghĩa là đàn ông Chăm lấy vợ là người Khmer.Thực tế, người đà
n ông Chăm không chỉ có vợ là
người Khmer mà còn có vợ là người dân tộc khác như : Mã Lai, Inđônêxia, …
- Tên Mã Lai: người Mã Lai và người Inđônêxia trước kia cũng thường tới lui làm ăn, buôn bán
với người Chăm ở Châu Giang, Châu Phong một thời gian rồi đi. Thực tế qua mấy đợt điều tra dân số
ở nước ta, trong tỉnh An Giang không có người Mã Lai, Inđônêxia, JaVa nào đăng ký cả. Cũng có thể
thấy những người này sống trong thôn xóm Chăm, mặc xà rông, đội nón Kapeak giống người Chăm,
nên có người nhầm gọi họ là người Chăm. Sau 1975, miền Nam
được hoàn toàn giải phóng, một số
người Chăm đã tự xưng gốc người Mã Lai, xin xuất cảnh về quê hương để làm ăn. Mặc dù có nhiều
người Chăm biết tiếng Mã Lai do học, lên lớp cao cũng học chữ Mã Lai. Với số ít có nguồn gốc lâu
đời, nhưng xét không đủ bằng chứng nên chính quyền đã bác đơn.

- Tên Chiêm Thành: Thường các cụ Hán nho hay một số viết sách báo gọi người Chăm ở Nam
Trung Bộ là Chiêm Thành, có nghĩa là người dân của nước Chiêm Thành xưa.
- Tên Khmer Islam: có nghĩa là người Khmer theo Hồi giáo. Trong giấy tờ hành chính, vương
quốc Campuchia đều dùng tên này, còn trong nhân dân, vẫn thường gọi Chăm hay Chàm.
Tóm lại, đồng bào Chăm đều thống nhất, tự gọi mình là Chăm, dân tộc Chăm, kể cả những người
mang tên gọi Chiêm Thành, cũng như những người theo đạo Bà La Môn giáo. Trong các tên gọi trên,
đồng bà
o Chăm thành kiến nhất là tên gọi Chà hoặc Chà Và.
Trong tự điển Chăm - Việt - Pháp của Trung tâm văn hóa Chăm ở Phan Rang xuất bản năm
1971, giải thích danh từ Chăm là Chàm, Champa là Chiêm Thành, đồng thời cũng là tên của loài hoa
Sứ.
Dù tên gọi là Chăm, dân tộc Chăm hay Chàm hoặc Chiêm Thành đều bắt nguồn từ một loài hoa
rừng, đẹp về màu sắc, ngát về hương của núi rừng Trung Bộ: “Hoa Sứ”. Hoa này cũng đư

cái nhìn toàn diện hơn trong việc tìm hiểu và tiếp xúc với văn hoá và cộng đồng của người Chăm ở
từng vùng miền cũng như cộng đồng người Chăm ở Việt Nam.
Theo quyết định của Tổng Cục Thống Kê do ông Tổng Cục trưởng Hoàng Trình ký tại Hà Nội
ngày 2 tháng 3 năm 1979, thì “tất cả những tên gọi: Chàm, Chiêm Thành, Chăm Hroi… ở Thuận Hải,
An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Nghĩa Bình, Phú Khánh đều thống nhất gọi là Chăm”[63, tr. 315].
1.1.4. Dân số và sự phân bố dân cư của Cộng
đồng người Chăm ở An Giang
1.1.4.1. Tình hình dân số của Cộng đồng
người Chăm ở An Giang
Tỉnh An Giang nằm về phía Tây Nam Tổ quốc ta nơi con sông Mê Kông đổ vào đồng bằng
Nam Bộ bằng hai dòng sông Tiền và sông Hậu - với tên gọi chung là sông Cửu Long.
Hai nhánh sông Cửu Long từ miền biên giới Việt - Miên chảy xuống đến thành Châu Đốc hợp lại
thành dòng Hậu Giang. Đứng bên bờ thị xã Châu Đốc, nhìn bên kia bờ, người ta có thể thấy đằng sau
những hàng cây xanh, những căn nhà sàn ngói đỏ cất sa
n sát vào nhau, căn nào cũng có chiếc thang cây,
nằm gần kề bên đường.
Đó là xã Châu Giang gồm toàn người Chăm. Từ đó, đi ven theo tả ngạn Hậu Giang cách chừng 4
cây số, có một con rạch nhỏ tẻ vào người trong bờ đất gọi là Katambong, tên một thôn ấp nằm trong xã
Khánh Hoà, cũng toàn người Chăm.
Ngược dòng Cửu Long về miền biên giới, người ta sẽ thấy ở hai đầu bờ kênh Vĩnh An, thôn
Phũm Soài thuộc xã Châu Phong, trở ngược lên các xã biên giới có người Chăm cư trú như Vĩnh
Trường, Khánh An, Khánh Bình, Hà Bao, là những xóm nhà người Chăm thường tập trung ven bờ
sông hoặc các con rạch.
Là một tỉnh nông nghiệp vừa có đồng bằng vừa có núi non cùng với hệ thống kênh rạch khá
chằng chịt. An Giang có bốn dân tộc: người Kinh chiếm đại bộ phận, người Khmer tập trung ở Bảy
Núi, người Hoa ở rải rác các thị xã, thị trấn, người Chăm tập trung ở các huyện cù lao An Phú, Phú
Tân, Châu Phú, …
Dân cư ở An Giang sống thành tuyến dọc theo kê
nh, rạch, bờ sông, đường lộ. Người Chăm ở An
Giang chiếm số lượng cao nhất trong cả cộng đồng người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long.

Tóm lại, tình hình dân số người Chăm ở An Giang có những biến động lớn ở thời kỳ trước 1975.
Sau 1975 nhìn chung dân tộc người Chăm ở An Giang có sự ổn định hơn. Tuy nhiê
n tỷ lệ trong cơ cấu
dân số của người Chăm ở An Giang hiện nay là 54% so với năm 1976 là 52, 51%, năm 1979 là 53,
75%.
1.1.4.2. Tình hình phân bố dân cư của Cộng
đồng người Chăm ở An Giang
- Ấp Đồng Cô Ky (Xã Quốc Thái, An Phú):
Tiếng Chăm gọi “KohKôKia”, có nghĩa “Cồn Cây Sao”. Sau này, kết hợp với ấp Đồng Đức thành
xã Đồng Cô Ky (thời Pháp) dưới chế độ ta mới đổi tên lại thành xã Quốc Thái. Còn ấp Đồng Đức cắt
về xã Phú Hữu. Ở đây có khoảng 137 hộ với 876 nhân khẩu nam 464, nữ 412, đồng bào Chăm ở Quốc
Thái chủ yếu làm
nông nghiệp và buôn bán.
- Ấp La Ma hay Cù Lao Ba (thuộc xã Vĩnh Trường, huyện An Phú):
Tiếng Chăm gọi “Koh plao ba” có nghĩa là “Ba Cù Lao”. Vùng này trước kia có thể do người
Kinh về cư trú trước, người Chăm đến sau, nên phiên âm Cù Lao Ba ra Koh plao ba. Vì “Cù lao” theo
tiếng Kinh có nghĩa là “Cồn”, “Ba” chỉ số lượng là 3 cái tức 3 cái Cồn. Cộng đồng Chăm ở Vĩnh
Trường khoảng 472 hộ, 2.037 nhân khẩu, 797 nam, 1.240 nữ. Nghề nghiệp trước đây của cư dân Chăm
vùng này đánh cá là chủ yếu, hiện na
y họ nghỉ đánh cá và chuyển sang buôn bán lẻ.
- Ấp Phước Thành (thuộc xã Đa Phước huyện An Phú):
Tiếng Chăm gọi “KohKapoak” có nghĩa là “Cồn tơ tằm”. Cộng đồng Chăm ở đây khoảng 278 hộ
với 1.652 nhân khẩu, 592 nam, 613 nữ. Cộng đồng Chăm ở đây chủ yếu làm nông nghiệp và buôn bán.
- Ấp Phũm Soài (thuộc xã Châu Phong huyện Phú Châu):
Tiếng Chăm gọi “Puk Pa ok” có nghĩa là ấp Chòm Soài hay Hàng Soài. Nay vì dân số phát triển
nên c
hia ra xóm Hàng Soài Trên và xóm Hàng Soài Dưới (Puk Pa ngok, Puk Pa ok là).
Ấp Phũm Soài là nơi sinh sống từ xa xưa của dân tộc Chăm. Dân số hiện nay của toàn ấp là 434
hộ với 2.270 nhân khẩu chiếm 12, 34% số hộ và 13, 42% nhân khẩu của toàn xã. Trong số các hộ dân
tộc Chăm ở đây có 40% sống bằng nghề dệt thủ công truyền thống, 30% buôn bán nhỏ, 20% sống bằng

- Ấp KaKôi (thuộc xã Nhơn Hội huyện An Phú):
Tiếng Chăm gọi “KohKôi” có nghĩa “Cồn Quan Thuế” (Cồn có trạm thu thuế). Có khoảng 137
hộ với 1.200 nhân khẩu Chăm sống ở Nhơn Hội, nam 665, nữ 535. Người Chăm có nghề nghiệp làm
ruộng và buôn bán nhỏ.
Ngoài ra, cũng có một số người Chăm ở xã Khánh Bình và xã Nhơn Hội huyện An P
hú di cư đến
xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành (An Giang) từ năm 1979 sống về nghề ruộng rẫy và buôn bán nhỏ.
Dân số cư trú ở địa phương tính đến nay đã được trên dưới một trăm hộ và gần 800 nhân khẩu, 403
nam và 392 nữ.
Bên cạnh đó ở thành phố Long Xuyên có khoảng 20 hộ và 120 nhân khẩu của người Chăm sinh
sống, nam có 48 người và nữ khoảng 72, với nghề dịch vụ và buôn bán.
Thời chế độ Sài G
òn, người Chăm ở Châu Giang và Phũm Soài có di cư lên Sài Gòn trên bốn
ngàn người sinh sống bằng nghề buôn bán hàng rong hay làm thuê. Trong khoảng thời gian này, cũng
có trên dưới ba ngàn người ở địa phương trên đi phá hoang, sống bằng nghề làm ruộng rẫy ở tỉnh Bà
Rịa, Đồng Nai rải rác cũng có một số ít sống trong các thị xã và thị trấn.
1.1.5. Truyền thống đấu tranh cách mạng của Cộng đồng người Chăm ở An Gian
g trong
lịch sử kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Trong truyền thống lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam nói chung, dân tộc Chăm cũng là một
dân tộc có truyền thống đấu tranh từ ngàn xưa khi quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta, người
Chăm đã cùng người Việt sát cánh cùng các dân tộc khác đứng bên bảo vệ bờ cõi. Lúc bấy giờ ngoài
nhân dân lao động Chăm, còn có thái tử Harifit - sau là vua SimhaVarman III tức Chế Man cũng góp
sức đấu tranh. Ở vùng Trị Thiê
n xưa kia dân tộc Chăm đã tổ chức kháng chiến đánh bại quân Toa Đô.

Trích đoạn Tập tục hơn nhân, gia đình Văn hố, văn nghệ Những khuynh hướng biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hốc ủa cộng đồng người Chăm ở An Giang Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao đời sống kinh tế, xã hội, văn hốc ủa cộng đồng người Chăm ở An Giang TÌM HIỂU TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ GIA ĐÌNH CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM Ở AN GIANG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status