giao lưu văn hóa việt – chăm tại an giang từ thế kỷ xviii đến nay - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________

Hứa Kim Oanh

GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT – CHĂM
TẠI AN GIANG TỪ THẾ KỶ XVIII
ĐẾN NAY
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THANH THANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Mục lục
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT AN GIANG ................................................ 8
1.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................................................. 8
1.2. Địa danh và địa giới tỉnh An Giang từ thế kỷ XVIII đến nay.............................. 13
1.3. Dân cư .................................................................................................................. 21
1.3.1 . Người Kinh (người Việt) ......................................................................... 21
1.3.2 . Người Hoa ............................................................................................... 22


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là đất nước có nhiều dân tộc sinh sống cùng nhau, mỗi dân tộc đều
hình thành sắc thái văn hóa riêng biệt. Nền văn hóa Việt Nam là sự dung hòa những
nền văn hóa của các dân tộc, mỗi dân tộc đều đóng góp giá trị văn hóa riêng dù
nhiều hay ít vào di sản nền văn hóa Việt Nam. Việc tìm hiểu nền văn hóa Việt Nam
luôn là điểm nổi bật, hơn thế vấn đề này được xem là một nguồn khai thác rộng mở
đáng được chú ý trong nghiên cứu của chuyên ngành lịch sử nói chung và chuyên
ngành lịch sử văn hóa nói riêng.
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Chăm là một dân tộc có
những đặc trưng riêng biệt mang dấu ấn bản sắc rất đậm nét về văn hóa. Những giá
trị văn hóa Chăm đóng góp vào nền văn hóa Việt Nam đã được ghi nhận và ngày
càng được đề cao. Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn tài liệu nghiên cứu về văn hóa
Chăm ở Trung Bộ chiếm khối lượng khá lớn, trong khi những sách vở, công trình
chuyên khảo và tiếp cận văn hóa Chăm ở Nam Bộ, tại những vùng tập trung người
Chăm cụ thể, hầu như vẫn còn ít ỏi.
Trên vùng đất Nam Bộ, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, mỗi địa
phương đều có nhiều dân tộc sống cùng nhau, chủ yếu là người Kinh, người Hoa,
người Khmer. Ở một vùng nhỏ trong thị xã Tân Châu thuộc tỉnh An Giang – nơi
người dân quen gọi vùng đất Châu Giang, ngoài ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer còn
có thêm cộng đồng dân tộc Chăm sinh sống, do đó, An Giang trở thành tỉnh có bốn
dân tộc sinh sống cùng nhau. Qua quá trình sinh sống cùng nhau trên một vùng đất
không rộng lớn, việc tiếp xúc và tiếp nhận những giá trị văn hóa lẫn nhau của bốn
dân tộc diễn ra một cách tự nhiên.Trong đó, bản sắc văn hóa của người Chăm An
Giang đáng được chú ý tìm hiểu, đóng góp giá trị văn hóa Chăm Nam Bộ vào văn
hóa Việt là một yếu tố khá quan trọng.
Tuy nhiên, việc tìm văn hóa Chăm Nam Bộ cũng như quá trình giao lưu văn

gian đến hiện nay của đề tài là thời điểm thuận lợi cho người nghiên cứu.
Về không gian nghiên cứu, cộng đồng người Chăm chủ yếu sinh sống bên bờ
sông Hậu của tỉnh An Giang. Những làng Chăm đông dân tập trung tại cù lao nhỏ
thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, vùng đất này có tên gọi khác là vùng đất


3

Châu Giang. Do đó, đề tài tập trung nhiều trong việc nghiên cứu những làng người
Chăm và làng người Việt sinh sống đan xen nhau trên vùng đất Châu Giang này.
3. Lịch sử vấn đề
Đề tài này nghiên cứu về quá trình giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Việt và
Chăm trong suốt quá trình lịch sử lâu dài từ thế kỷ XVIII đến nay, trong đó liên
quan đến một phần lịch sử vùng đất An Giang cùng với quá trình sinh sống của
những cư dân trên vùng đất này.
Xét về vấn đề lịch sử vùng đất An Giang, một số nhà nghiên cứu đã có các
công trình nghiên cứu liên quan như sau:
Quyển sách được nhiều người biết đến và xem như sách dẫn chứng nhiều
nhất là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức viết vào thời vua Gia Long
(1802 – 1820). Sách là nguồn tư liệu về địa giới, khí hậu, sản vật, phong tục … của
vùng đất Nam Bộ, trong đó có những tư liệu về vùng đất An Giang, quan trọng nhất
là sự kiện cho biết thời gian vùng đất này chính thức trở thành bộ phận của lãnh thổ
Việt Nam.
Và các cuốn được xem là chuyên khảo như: Lịch sử khai phá vùng đất Nam
Bộ của Huỳnh Lứa, Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Giang, Lịch sử khẩn
hoang Nam Bộ, Lịch sử An Giang của Sơn Nam và bộ sách Nam Bộ đất và người
(tập 1,2,3) của Hội Khoa học Lịch sử Tp.HCM. Các quyển sách này nghiên cứu sâu
về lịch sử vùng đất Nam Bộ nói chung và An Giang nói riêng, cùng với việc miêu tả
quá trình cư dân Việt di dân đến đây. Tuy nhiên, các quyển sách đều chưa đề cập
đến quá trình cộng cư của những cư dân mới đến sống cùng nhau.

Nguyễn Văn Luận là Người Chăm Hồi giáo miền tây Nam phần Việt Nam được
xem như tài liệu đối chiếu với các nguồn tài liệu hiện nay.
Nhà nghiên cứu Phan Thị Yến Tuyết với hai quyển sách Văn hóa vật chất
của các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long xuất bản năm 1992 và Nhà ở, trang
phục, ăn uống của các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long xuất bản năm 1993,
cung cấp rất nhiều nguồn tư liệu về cuộc sống người Chăm ở Nam Bộ nói riêng và
các dân tộc nói chung trên vùng đồng bằng châu thổ.
Quyển sách Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long do Mạc Đường (chủ
biên) xuất bản 1993, tập hợp nhiều bài viết về đời sống của người Chăm Hồi giáo
của các nhà nghiên cứu Phan Văn Dốp, Nguyễn Việt Cường.


5

Quyển Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Ngô Văn Lệ, Nguyễn
Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu được xuất bản năm 1997, trong sách có dành một phần
đề cập đến người Chăm nói chung và người Chăm Nam Bộ nói riêng.
Một quyển sách khác đề cập đến thực trạng cuộc sống của các dân tộc riêng
biệt ở Tây Nam Bộ là quyển Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và những
vấn đề lịch sử thế kỷ XVII – XIX do Trần Văn Bính chủ biên.
Một số bài viết do chính người Chăm An Giang là Dohamide (tên tiếng Việt
là Đỗ Hải Minh) in trên tạp chí Bách Khoa trong những năm 1962 – 1963 sau này
tập hợp lại thành cuốn Bangsa Champa xuất bản tại Mỹ. Đây là nguồn tư liệu về
toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của người Chăm trong những năm 60 của thế
kỷ XX, trở thành nguồn tài liệu đối chiếu cho thấy những thay đổi của xã hội người
Chăm An Giang hiện nay với thời kỳ trước đây.
Đối với văn hóa Chăm An Giang, để tìm hiểu nguồn gốc văn hóa người
Chăm An Giang quyển Một số tập tục người Chăm An Giang của Lâm Tâm là cuốn
sách nêu rõ những phong tục, tập quán, tôn giáo của người Chăm An Giang. Tuy
nhiên chưa thấy được quá trình cộng cư giữa cư dân Việt Chăm và quá trình giao

trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.
Phương pháp logic đóng vai trò giải thích các biến cố, liên kết các sự kiện,
rút ra những bài học lịch sử trong quá trình nghiên cứu. Đồng thời, phương pháp
logic cũng là cơ sở để dự đoán về mối quan hệ của hai cộng đồng tộc người trong
tương lai, từ đó có thể xây dựng nên những chính sách cụ thể thích hợp.
Phương pháp nghiên cứu tiến hành trên quan điểm của phương pháp tiếp cận
hệ thống. Đó là xét mối quan hệ giữa tộc người Việt và người Chăm trên cơ sở
nghiên cứu toàn bộ các tộc người cấu thành nên cộng đồng dân tộc Việt Nam với
những mối quan hệ đan xen và phức tạp. Tất nhiên, trong đó người Việt luôn đứng
ở vị trí trung tâm.
Bên cạnh, phương pháp điền dã được tiến hành để xem xét và tìm ra những
điểm tương đồng, ảnh hưởng trong đời sống người Chăm và người Việt tại An
Giang để thấy được kết quả của quá trình giao lưu văn hóa ngày nay.
Một phương pháp liên ngành khác được vận dụng là kết cấu câu chuyện,
từng câu chuyện trong chuyến điền dã thực tế cùng với những câu chuyện từ những
nghiên cứu trong những tài liệu trước được đưa vào trong luận văn để diễn đạt.


7

5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm :
Phần mở đầu
Phần nội dung : 3 chương
Chương 1 : Khái quát vùng đất An Giang, một cách nhìn tổng thể về
điều kiện tự nhiên, địa giới và những cư dân sinh sống trên
vùng đất này hiện nay.
Chương 2: Quá trình định cư của cư dân Việt – Chăm trên vùng đất
Châu Giang (An Giang từ thế kỷ XVIII đến trước thời kỳ đổi
mới (1986).

(vùng Tri Tôn, Tịnh Biên), vùng bán sơn địa, có nhiều cồn, cù lao (vùng An Phú,
Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới nằm giữa 2 sông Tiền và sông Hậu).
Địa hình An Giang thấp dần từ hướng bắc đến hướng nam và từ đông sang
tây. Hai dạng địa hình quan trọng là đồng bằng (nằm chủ yếu ở ven sông Tiền, tả và
hữu ngạn sông Hậu) và vùng đồi núi (chủ yếu là ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và
Thoại Sơn).
Với địa hình đồng bằng, xét về nguồn gốc, An Giang có đồng bằng phù sa và


9

đồng bằng ven núi. Đồng bằng phù sa có nguồn gốc trầm tích lâu dài của phù sa
sông Mekong, do môi trường và điều kiện trầm tích khác nhau mà hình thành nên
các cánh đồng lũ hở, lũ kín, cồn bãi, gòm gờ, đê sông, đầm lầy… rất phức tạp.
Vùng đồng bằng này được khai thác thành những cánh đồng lúa với hệ thống
kênh đào, hệ thống đê bao, các tuyến giao thông và khu dân cư tập trung đông đúc.
Đồng bằng ven núi phân thành hai kiểu: kiểu Deluvi (sườn tích) và kiểu đồng bằng
phù sa cổ. Đồng bằng ven núi kiểu Deluvi (sườn tích) hình thành trong quá trình
phong hóa và xâm thực từ các núi đá, sau đó được mưa bào mòn và rửa trôi, rồi
được dòng chảy lũ theo các khe suối chuyển tải xuống chân núi, tích tụ lâu dài mà
thành; kiểu đồng bằng này tập trung quanh các chân núi Cô Tô, núi Dài và núi Cấm.
Đồng bằng ven núi kiểu phù sa cổ có nguồn gốc từ phù sa sông trong thời kỳ
Pleistocene với đặc tính là có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau. Trên
những bậc thang khá bằng phẳng không có độ nghiêng, chênh lệch giữa các bậc
thang không lớn. Kiểu đồng bằng này ở An Giang không nhiều, tập trung chủ yếu ở
xã An Cư và Vĩnh Trung huyện Tịnh Biên. Hiện nay, các cánh đồng ven núi được
khai phá hết để phát triển nông nghiệp với hệ thống thủy nông ngày càng nhiều hơn.
Những canhs đồng xanh thẳm vào lúc lúa mới lên cây và thay màu vàng hực dước
ánh nắng chói chang vào lúc lúa vừa chín vàng.
Ở An Giang, đồng bằng được bồi đắp bởi hai sông chính: sông Tiền và sông

Nguyễn Du tại thành phố Long Xuyên, hồ Búng Bình Thiên lớn, hồ Búng Bình
Thiên nhỏ thuộc ba xã Khánh An, Khánh Bình và Nhơn Hội của huyện An Phú. Hồ
nhân tạo được xây dựng ở vùng đồi núi nhằm mục đích cung cấp nước sinh hoạt
cho nhân dân và góp phần cải tạo môi trường sinh thái trên vùng đất vốn dĩ thường
xuyên xảy ra hạn kiệt như hồ Soài So, hồ Ô Tức Xa, hồ Cây Đuốc thuộc huyện Tri
Tôn và Tịnh Biên, hồ An Hảo, Thủy Liêm thuộc vùng núi Cấm huyện Tri Tôn và
Tịnh Biên.
Trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, An Giang được phủ lên một mạng
lưới sông rạch và kênh đào dày đặc. An Giang có mạng lưới kênh đào chằng chịt
nối liền các sông với nhau, hoặc nối các dòng tạo hệ thống giao thông rất thuận lợi
trong khắp vùng đến nỗi người dân thường nói ngày xưa có thể ngồi thuyền đi khắp
nơi mà không phải đặt chân lên đất liền. Tuy nhiên, khó khăn cũng từ đây, vào mùa
mưa, nước từ thượng nguồn đổ về gây ngập lụt nhiều nơi trong tỉnh. Vì độ dốc thấp,


11

nên trừ mấy tháng mưa nước đổ mạnh thì trong cả năm dòng nước chỉ xuôi êm, do
đó thủy triều có ảnh hưởng rất lớn đối với đồng bằng châu thổ. Thủy triều ở bờ biển
phía đông Nam bộ thuộc chế độ bán nhật triều, hàng ngày lên xuống hai lần, với
biên độ lớn.
Do tác động của thủy triều biển Đông, trên đồng bằng châu thổ, nước trong
sông rạch cũng lên xuống hai lần trong ngày, có con nước lên, con nước ròng, khi
chảy xuôi, khi chảy ngược. Sóng triều tác động rất sâu vào bên trong đất liền. Trên
sông Tiền và sông Hậu, ở gần Phnom Penh vẫn thấy được hiện tượng nước lên
xuống. Chu kỳ của thủy triều ảnh hưởng lớn đến việc lưu thông đường thủy, cũng
như việc sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân trong vùng.
Dọc theo sông Tiền, sông Hậu còn có những sống đất hay những gờ đất do
phù sa bồi đắp nên trong những lần nước lũ – loại phù sa to hạt nên dễ thoát thủy.
Các sống đất ven sông khá cao ở phía thượng lưu (tại Châu Đốc cao khoảng 4m) và

có 2 loài cá có giá trị khoa học và đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng là cá
còm và cá trê trắng.
Không chỉ phong phú về động vật, rừng còn là nơi tụ họp của các loài thực
vật thuộc. Một số loài cây dân dã thường dùng, như rau cóc, rau đắng, đọt sen…
mang đặc trưng ở rừng tràm. Đặc biệt, loại cỏ bắc dùng nấu nước uống giúp cơ thể
giải nhiệt, có thể chế biến thành sản phẩm du lịch.
Ngoài ý nghĩa về mặt bảo tồn và giá trị kinh tế, rừng tràm Trà Sư còn chứa
đựng những yếu tố văn hóa độc đáo do các cư dân sống ven rừng tạo nên. Quanh
khu rừng tràm Trà Sư có khá nhiều đồng bào Khơ-me và người Kinh sinh sống với
ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như dệt thổ cẩm, nấu đường thốt nốt,
chưng cất tinh dầu tràm, gây nuôi ong mật…
Rừng đang được đưa vào khai thác một phần để làm khu du lịch sinh thái,
đem lại nguồn lợi kinh tế cho cư dân vùng biên giới. Điểm nổi bật của rừng tràm là
vào mùa nước nổi, khoảng tháng chín, tháng mười âm lịch, toàn khu rừng ngập sâu
từ 2 đến 3 mét, đi xuồng len lỏi vào các sân chim, xem dơi quạ rộng hàng chục hécta, thấy con lớn đến cả ký treo dày trên ngọn tràm. Phía trên là màu xanh của ngọn
tràm, bên dưới mương nước thỉnh thoảng nghe tiếng cá vẫy đuôi tạo nên những âm
thanh là lạ.
Về khí hậu, An Giang thuộc vùng đất Nam Bộ nằm trong những vĩ tuyến


13

thấp trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng ít nhiều khí hậu xích
đạo, nên có nhiệt độ và độ ẩm cao đều trong năm. Mỗi năm có hai mùa rõ rệt, mùa
mưa thường xảy ra lụt lội ở những vùng đất thấp, thời gian lụt lội từ giữa tháng tám
đến giữa tháng mười một. Đây cũng là thời điểm, các sông ngòi đem về lượng phù
sa lớn và nguồn thủy sản lớn cho người dân.
Với nguồn phù sa do địa hình đem tới, nguồn tài nguyên chính ở An Giang là
lúa gạo. Tại đây, đất nông nghiệp là đất trồng lúa có độ màu mỡ cao, mỗi năm,
người dân canh tác từ hai đến ba vụ lúa. Ngoài lúa gạo, thủy - hải sản cũng chiếm

tiến hành sắp xếp lại các đơn vị hành chính ở Gia Định. Nhà vua cho lập Châu Đốc
Tân cương, đặt chức quản đạo để cai trị, thuộc Dinh Long Hồ. Nơi mà trước đó, vào
năm 1789, Nguyễn Ánh cho xây đồn thủ Đông Xuyên (là một đồn nhỏ tại vàm sông
Tam Khê, sau đổi thành sông Đông Xuyên, nay là sông Long Xuyên) làm tiền đồn
chống Tây Sơn và để giữ vùng đất đứng chân buổi đầu của lực lượng họ Nguyễn.
Đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832), trong cuộc cải cách quy mô lớn về hành
chính, triều đình Huế lấy đất Tầm Phong Long (cùng với huyện Vĩnh An thuộc
Vĩnh Long) đặt làm phủ Tuy Biên và Tân Thành; lập tỉnh An Giang kiêm quản bốn
huyện là Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên, Vĩnh An. Từ đây, tỉnh An Giang,
một trong 6 tỉnh của Nam Kỳ, được thành lập, gồm có 2 phủ, 4 huyện. Nhà Nguyễn
đặt chức An Hà Tổng đốc, thống lãnh hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, lại đặt hai ty
Bố chánh, án sát quản việc. Lỵ sở của tỉnh đặt tại Châu Đốc.
Như vậy, địa danh An Giang chính thức được ra đời vào năm 1832. Diện địa
ban đầu An Giang tương ứng với huyện Vĩnh An thuộc phủ Tân Thành.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiệp, huyện Vĩnh An trước đây là tổng,
sau đó đổi thành huyện, bao gồm hai tổng: Vĩnh Trinh và Vĩnh Trung. Phía đông
giáp huyện Vĩnh Bình (sau thuộc Vĩnh Long), lấy từ ngư câu ngang với tiểu câu Đồ
Bà, rồi đến cửa sông cái Bồn làm giới hạn; phía tây giáp phủ Nam Vang (Cao
Miên), lấy cửa sông Tiền ngang đến thượng khẩu sông Hậu xuống đến cửa sông
Cái Bồn làm giới hạn; phía bắc lấy thượng khẩu sông Tiền bao cả những cù lao Cái
Dừng, Bãi Tê, Bãi Tân, Bãi Ngưu, Bãi Long Ẩn, Cai Nga, Tân Phụng, Vĩnh Tòng
đến bờ phía nam cửa sông Cái làm giới hạn. [48: 60]
Từ năm 1832 đến 1850, địa giới An Giang được mở rộng về phía tây theo
hướng Hà Tiên. Vùng đất An Giang xưa rộng hơn ngày nay rất nhiều, tính từ phía
bắc giáp biên giới Cao Miên đến phía nam giáp biển giáp biển Đông, bao gồm địa
giới tỉnh Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng ngày nay.
Đến thời vua Minh Mạng, trong thời gian này, nhà vua tiến hành mở rộng
vùng đất An Giang.
Năm thứ 16 (1835), nhà Nguyễn lấy thêm đất Ba Thắc sáp nhập vào An


Ôn, Sóc Trăng, Rạch Giá (hạt Sa Đéc thuộc về khu vực Vĩnh Long). Như vậy, An
Giang ngày nay nằm trên 2 hạt Châu Đốc và Long Xuyên.


17

Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Pháp ra Nghị định bãi bỏ các hạt đổi thành tỉnh,
toàn bộ Nam Kỳ có 19 tỉnh. Tỉnh An Giang tách thành tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long
Xuyên, địa danh An Giang không còn sử dụng nữa, địa giới cũng bị thu hẹp hơn,
phía nam không còn giáp biển mà giáp tỉnh Trà Ôn.
Năm 1917, tỉnh Châu Đốc có 4 quận: Châu Thành, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri
Tôn và tỉnh Long Xuyên có 3 quận: Châu Thành, Thốt Nốt, Chợ Mới.
Năm 1930, tỉnh Châu Đốc nhận thêm quận Hồng Ngự, tỉnh Long Xuyên vẫn
như cũ. Từ 1930 – 1945, tỉnh Châu Đốc vẫn gồm 5 quận và tỉnh Long Xuyên vẫn
gồm 3 quận, không có sự thay đổi nào khác. An Giang ngày nay bao gồm 2 tỉnh
Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên xưa. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Pháp duy
trì đơn vị hành chính như cũ. Địa giới tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên vẫn
không có thay đổi.
Đêm 22 tháng 9 năm 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ được
thành lập và cuộc Kháng chiến Nam Bộ bắt đầu. Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập
các Chiến khu. Tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên thuộc chiến khu 9. Để thuận lợi cho
việc lãnh chỉ đạo kháng chiến, ngày 12 tháng 9 năm 1947, Ủy ban kháng chiến
Hành chính Nam Bộ ra chỉ thị số 50/CT chia lại địa giới 2 tỉnh Long Xuyên và
Châu Đốc thành 2 tỉnh mới là Long Châu Tiền thuộc chiến khu 8 và Long Châu
Hậu thuộc chiến khu 9.
Tỉnh Long Châu Tiền có 5 quận: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú
B và Lấp Vò. Tỉnh Long Châu Hậu có 6 quận: Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại
Sơn, Châu Phú A và Châu Thành (bao gồm 2 tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc).
Ngày 7 tháng 2 năm 1949, tỉnh Long Châu Hậu giao quận Thốt Nốt về tỉnh
Cần Thơ và ngày 14 tháng 5 năm 1949, tỉnh Long Châu Tiền giao quận Lấp Vò về

Năm 1955, tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh
Biên, Hồng Ngự với 70 xã. Tỉnh Long Xuyên có 5 quận: Châu Thành, Chợ Mới,
Núi Sập, Thốt Nốt, Lấp Vò.
Về phía chính quyền Sài Gòn, ngày 22 tháng 10 năm 1956, Ngô Đình Diệm
ra sắc lệnh 143/VN: địa phận Nam Việt Nam gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh.
Trong đó, tỉnh An Giang (tỉnh lỵ Long Xuyên) gồm tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long
Xuyên cũ, với 8 quận: Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh
Biên, Tri Tôn, Núi Sập.


19

Ngày 8 tháng 9 năm 1964, theo sắc lệnh 264/VN của chính quyền Sài Gòn,
tỉnh An Giang tách thành 2 tỉnh: Châu Đốc (5 quận, 10 tổng, 57 xã) và An Giang (4
quận, 6 tổng, 38 xã). Tỉnh Long Xuyên được đặt tên lại là tỉnh An Giang cho đến
năm 1975.
Về phía chính quyền cách mạng, tháng 10 năm 1954, Xứ ủy Nam Bộ lập lại
2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc. Tỉnh Long Xuyên gồm các quận: Châu Thành,
Chợ Mới, Lấp Vò, Thốt Nốt, Phong Thạnh Thượng. Tỉnh Châu Đốc gồm các quận:
Tân Châu, Hồng Ngự, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú.
Giữa năm 1957, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo hợp nhất 2 tỉnh Long Xuyên, Châu
Đốc lại thành tỉnh An Giang, gồm 9 quận: Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu
Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn. Giao quận Hồng Ngự về
tỉnh Kiến Phong và giao quận Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc.
Năm 1963, tỉnh An Giang giao Thốt Nốt về tỉnh Cần Thơ và nhận huyện Hà
Tiên của tỉnh Kiên Giang.
Tháng 12 năm 1965, giao Chợ Mới về tỉnh Kiến Phong và năm 1967 trả Hà
Tiên về Kiên Giang.
Tháng 8 năm 1971, thực hiện yêu cầu thành lập tỉnh mới để giữ vai trò đầu
cầu hành lang từ trung ương về miền Tây Nam Bộ, An Giang chia thành 2 tỉnh An

nhiều lần, địa giới An Giang rất rộng so với ngày nay. Từ năm 1975 đến nay, địa
giới An Giang được thu hẹp lại do các sự phân tách và thành lập nhiều tỉnh mới ở
Nam Bộ.
Địa giới ban đầu của vùng đất An Giang rất rộng, phía bắc giáp biên giới
Campuchia trải dài đến phía nam giáp biển Đông. Địa giới có sự thay đổi qua nhiều
thời kỳ, có sự sáp nhập và phân tách nhiều lần, do đó tùy theo từng thời kỳ mà xác
định địa giới và cư dân trên vùng đất An Giang.
Với việc xác định được địa giới ban đầu giải thích quá trình di cư của những
lưu dân từ thế kỷ XVIII diễn ra trong điều kiện tự nhiên thuận lợi. Vùng đồng bằng
rộng, khá bằng phẳng, hệ thống sông ngòi là nguồn nước thuận lợi cho điều kiện
sinh sống, sản xuất, các lưu dân dần dần tụ cư đông đúc và đi lên thượng nguồn
dòng sông để định cư. Những cư dân mới do những hoàn cảnh khác nhau nhưng
cùng mục đích ổn định cuộc sống đã cộng cư cùng nhau không có sự phân biệt về
dân tộc, văn hóa.


21

1.3. Dân cư
Dân cư ở An Giang phân bố theo đặc thù dân cư vùng đồng bằng sông Cửu
Long. Đồng bằng sông Cửu Long được xem là vùng cư trú hỗn hợp nhiều thành
phần cư dân, các cư dân này có nguồn gốc từ các địa phương khác nhau được tụ họp
lại do những cuộc di dân lớn diễn ra hàng thế kỷ. Nhiều cư dân cùng sống trên một
vùng, do đó trong một vùng có nhiều tôn giáo và nhiều hình thức tín ngưỡng cùng
tồn tại trong nhân dân, có nhiều hệ thống tập quán, phong tục khác nhau. Do những
biến cố lớn về mặt kinh tế và xã hội, sự qui tụ và khuếch tán dân cư đã diễn ra một
cách thường xuyên và có thể xem đó như là một đặc điểm của biến động dân cư ở
vùng đồng bằng này. Nhiều lớp dân cư đã từ đồng bằng Bắc Bộ, từ các tỉnh duyên
hải miền Trung đến lập làng xóm, khai thác đất đai, phát triển nông nghiệp mà chủ
yếu là xây dựng nên những cánh đồng lúa. Cũng từ đồng bằng sông Cửu Long đã có

lao Giêng (Chợ Mới), nghề gạch ngói và đồ gốm ở Châu Thành, Châu Phú; nghề vẽ
tranh trên kiếng ở Chợ Mới….
Người Việt sống rải rác khắp tỉnh An Giang, sống xen kẽ với cả 3 tộc người
Khmer, Hoa, Chăm. Người Việt cư trú ở trong những làng xóm mở, nơi không có
luỹ tre, cánh cổng làng như ở miền Bắc; nhà cửa không tụ lại mà tản ra dọc theo
những con kênh, con lộ (đường) để tiện làm ăn. Theo địa hình sông nước, trước
đây, đa số người Việt xây dựng nhà sàn để tránh lũ... Ngày nay, người Việt không
xây nhà sàn mà ở nhà gạch (nhà tường), những ngôi nhà sàn cũ vẫn còn ở các vùng
quê.
Về tín ngưỡng, trong đời sống người Việt vẫn lưu giữ nhiều tín ngưỡng như
thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ mẫu thần... Bên cạnh, người Việt tiếp nhận và dung hòa
các tôn giáo như: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài. An Giang
chính là nơi phát sinh ra đạo Hòa Hảo mà thường gọi là Phật giáo Hòa Hảo.
Người Việt sinh sống trên vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như tại An
Giang đã thích nghi với hoàn cảnh nơi đây tạo nên tính cách người Việt Nam Bộ,
tính cách người Nam Bộ là cơ sở cho việc tiếp nhận văn hóa của các tộc người
chung sống cùng nhau, tạo nên nét văn hóa của người Việt tại đây.
1.3.2. Người Hoa
Ở An Giang, người Hoa định cư xen kẽ lẫn với người Kinh và người Khơme, tuy nhiên dần dần họ có xu hướng sống thành từng nhóm địa phương theo các


Trích đoạn Những làng chăm đầu tiên (thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX) Cuộc sống của người Chăm Muslim (Hồi giáo) từ khi lập làng đến Các làng Chăm Hồi giáo ở AnGiang ngày nay Cuộc sống trong những làng Chăm ngày nay dưới góc nhìn của Những nét mới trong văn hóa Chăm Hồi giáo AnGiang
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status