BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Bé Hằng
GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT – KHMER Ở
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
(1975 – 2000)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Bé Hằng
GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT – KHMER Ở
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
(1975 – 2000)
Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VÕ XUÂN ĐÀN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Lê Thị Bé Hằng
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ ĐẦY ĐỦ
1
PGS.TS
Phó Giáo sư Tiến sĩ
2
LTBH
Lê Thị Bé Hằng
3
Nxb
Nhà xuất bản
4
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ 3
MỤC LỤC .................................................................................................................... 4
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 6
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ......................................................................................... 10
3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài ................................................................ 12
4. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................... 13
5. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu..................................................................... 13
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài ....................................................... 14
7. Bố cục của đề tài............................................................................................................ 15
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TỤ
CƯ, CỘNG CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI KHMER Ở VÙNG ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG THẾ KỈ XVII ĐẾN NAY .......................................... 16
1.1. Khái quát vài nét về yếu tố địa – lịch sử vùng đồng bằng sông Cửu Long thế kỉ
XVII đến nay .................................................................................................................... 16
1.2. Khái quát về người Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long ............................ 18
1.2.1. Lịch sử tụ cư và sự hình thành tộc người .............................................................. 18
1.2.2. Đặc điểm cư trú, sản xuất và xã hội ...................................................................... 21
1.3. Khái quát về người Việt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long ................................. 24
1.3.1. Lịch sử tụ cư .......................................................................................................... 25
1.3.2. Đặc điểm cư trú và cơ sở kinh tế của người Việt ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long nói riêng và cả vùng Nam Bộ nói chung ............................................................... 27
1.4. Đặc điểm của quá trình tụ cư và cộng cư của người Việtt và người Khmer ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long ...................................................................................... 30
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT – KHMER Ở VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (1975 – 2000) ................................................. 34
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 115
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 125
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, Tổ Quốc Việt Nam được thống nhất về mặt
lãnh thổ. Nguyện vọng của nhân dân cả nước là sớm có một nhà nước chung, một cơ
quan quyền lực chung nhằm tạo cơ sở để hoàn thành thống nhất đất nước trên các
lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội sau khi trải qua hai cuộc chiến
tranh lớn trong lịch sử chống ngoại xâm đó là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Với
những khó khăn trong giai đoạn của năm 1975, bằng những công cuộc thực hiện
đường lối đổi mới toàn diện đến năm 2000, kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, giải
quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội, tạo điều kiện cho sư giao lưu, hợp tác
trong tất cả các lĩnh vực nhất là về lĩnh vực văn hóa (sự giao lưu đó đã được thể hiện
ngay từ thời kì sơ khai, hay kể cả thời kì chiến tranh và trong thời hòa bình sẽ càng
diễn ra mạnh mẽ hơn) giữa các vùng, miền trên lãnh thổ Việt Nam, cũng như giữa
Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc ở nước ta đều có những giá trị
văn hóa đặc sắc, góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam vừa thống nhất, vừa đa
dạng. Trong quá trình khai phá vùng đất mới – vùng đất màu mỡ ở đồng bằng sông
Cửu Long, chắc chắn có công sức của nhiều tộc người thuộc các ngữ hệ Nam Á, Nam
Đảo. Chính họ đã tạo nền tảng văn hóa cho chúng ta ngày nay, nhưng phải nói rằng
từ thế kỉ XVII trở lại đây, khi người Việt, người Khmer đoàn tụ trong một đại gia
đình Việt Nam thì việc phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa ở đồng bằng sông Cửu
Long mới được đẩy mạnh. Một đặc điểm nổi bật ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Lý do thứ ba, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trên vùng đất mới Nam Bộ
nói chung cũng như sự giao lưu giá trị văn hóa của người Khmer và người Việt
(người Kinh) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, có thể diễn ra ở mọi khía
cạnh đời sống văn hóa – xã hội, chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng, đạo đức…và đều đi
liền với quan hệ tình cảm cộng đồng. Một điều mà chúng ta đã nhìn nhận rõ, trong
không gian văn hoá vùng đồng bằng sông Cửu Long là phần mở rộng của không gian
văn hoá Nam Bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, ở vùng đất mới này ngoài
7
sự chung tay khai phá với người Việt còn có các tộc người bản địa và các tộc người
di dân. Vì vậy, trên vùng đất này, ngay từ đầu văn hoá của cư dân Việt, mà trong đó
đã có sẵn yếu tố Chăm, đã giao lưu mật thiết với văn hoá của các cư dân Khmer,
Hoa...
Lý do thứ tư, trong thời cận đại và hiện đại, suốt một thời gian dài vùng đất này
lại chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp rồi tiếp đó là văn hoá Mỹ. Vì vậy, Nam Bộ nói
chung cũng như vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là một vùng đất mà giao
lưu, tiếp biến văn hoá đã và đang diễn ra với tốc độ rất nhanh. Hệ quả là hầu như
không có hiện tượng văn hoá nào ở nơi đây còn nguyên chất thuần Việt mà luôn có
bóng dáng của những nền văn hoá khác. Cho nên, có thể nói, giao lưu văn hoá chính
là một trong những bản sắc của văn hoá đồng bằng sông Cửu Long. Nó khiến cho văn
hoá Nam Bộ vừa tương đồng, lại vừa khác biệt với cội nguồn của nó là văn hoá Việt
ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ. Tuy nhiên, trong quá trình giao lưu văn hoá, cư
dân Việt hay cộng đồng Khmer nơi đây đã không tiếp thu trọn gói các nền văn hoá
khác mà chỉ những yếu tố đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần để bổ sung vào
hành trang văn hoá mang theo. Vì vậy, các yếu tố văn hoá nơi đây không tự đánh mất
mình mà chỉ tái tạo các giá trị văn hoá mà vùng đất này thu nạp được theo hướng làm
cho nó thích ứng với nhu cầu của cộng đồng người Việt cũng như người Khmer, sự
tái tạo các giá trị văn hoá đó cũng là một bản sắc của văn hoá nơi đây. Bên cạnh sự
tiếp biến văn hoá đó đã làm cho Nam Bộ mang rõ đặc trưng văn hóa của vùng đồng
thiểu số trong điều kiện cụ thể hiện nay). Đồng thời, các công trình nghiên cứu cũng chỉ
ra những khó khăn, những hạn chế cần được khắc phục để các tộc người thiểu số có thể
xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam.
Vấn đề phát triển và phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế là một trong những vấn đề nóng bỏng, mà các nhà hoạch định chính sách,
các nhà khoa học đang tìm lời giải. Các nước, nhất là những nước đang phát triển có
xuất phát điểm thấp như Việt Nam, tuy có kinh nghiệm của các nước đi trước, nhưng
không phải mô hình nào cũng có thể vận dụng được. Trên bình diện cả nước, vấn đề
phát triển và phát triển bền vững như là những thách đố, mà dân tộc Việt Nam đang nỗ
9
lực để có thể vượt qua. Còn các tộc người thiểu số, ngoài những đặc điểm chung của
một nước đang phát triển như Việt Nam, liệu còn có vấn đề gì mang tính đặc thù cần
được quan tâm nghiên cứu, để các tộc người thiểu số có thể phát triển và phát triển bền
vững trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Càng nghiên cứu sâu vào những giá trị văn hóa của cộng đồng người Việt và
người Khmer trên vùng đất mới – đồng bằng sông Cửu Long, cũng như sự tiếp biến
giao lưu văn hóa của hai tộc người này, càng cho ta thấy được những nét riêng biệt về
bản sắc văn hóa “sông nước miệt vườn” so với các vùng văn hóa khác, ít nhiều đã
góp phần làm phong phú thêm nền lịch sử văn hóa của dân tộc Việt Nam, vừa mang
tính nhân văn vừa mang tính xã hội sâu sắc và đó cũng là một trong những hướng
phát triển du lịch Việt Nam đưa văn hoá Việt Nam ra bên ngoài mà ta đã thấy. Và với
những lý do trên, nên tác giả chọn và muốn đi sâu tìm hiểu về “Giao lưu văn hóa
Việt – Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (1975 - 2000)” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu có liên đến vùng đất
mới Nam Bộ nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng như: “Gia Định
thành thông chí” (của Trịnh Hoài Đức, 1972); “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”
hiếu nghĩa của người Việt ở Nam Bộ (1867 – 1975) (NXB Trẻ Tp. HCM, 1999)…
Nhiều công trình về mặt lý luận và phương pháp luận giúp nghiên cứu giao lưu
văn hóa như: “Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam” (NXB
Chính trị Quốc Gia Hà Nội, 2012); “Mấy vấn đề văn hóa cần nghiên cứu” của Trần
Đệ; “Văn hóa, truyền thống và cách tân” của Đinh Gia Khánh; “ Giao tiếp văn hóa và
vai trò của nó đối với qui luật đổi mới cái “truyền thống” trong văn hóa các dân tộc ở
Việt Nam và Đông Nam Á” của Ngô Đức Thịnh; “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của
Trần Ngọc Thêm v.v…
Tóm lại, hầu hết các công trình nghiên cứu văn hóa đồng bằng sông Cửu Long trong
giai đoạn từ thế kỉ XVII đến nay khá phong phú và có thể kế thừa trong việc nghiên
cứu. Nhìn chung giá trị khoa học của các tài liệu có mức độ khác nhau về mặt tư liệu
11
cũng như phương pháp. Tác giả luận văn có kế thừa những kết quả nghiên cứu trên
sự phân tích, thẩm định của bản thân qua nghiên cứu thực tiễn. Phần lớn tài liệu được
sử dụng trong luận văn này là kết quả thu thập, nghiên cứu của tác giả sau các đợt
điền giã ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà một phần đã được công bố trong các
công trình nghiên cứu về văn hóa của các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long.
3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài chủ yếu tìm hiểu trong phạm vi vùng đồng bằng sông Cửu Long, giới
hạn trong khoảng thời gian từ 1975 đến năm 2000. Vì vùng này là nơi tụ cư lâu đời
của đông đảo cộng đồng người Việt cũng như người Khmer, bên cạnh đó với việc tìm
hiểu văn hóa Việt – Khmer từ năm 1975 - 2000, đây là giai đoạn có những dấu ấn
cũng như những biểu hiện rất rõ nét trong sự giao lưu văn hóa, góp phần làm phong
phú thêm lịch sử văn hóa Việt Nam.
Đề tài luận văn tìm hiểu một số vấn đề lý luận về giao lưu văn hóa, trong phần
này tác giả sẽ nêu một số khái niệm liên quan về giao lưu văn hóa như: khái niệm văn
hóa, giao lưu văn hóa, giao lưu tiếp biến văn hóa. Để thấy được, giao lưu văn hóa
luôn có tính qui luật, là một tất yếu trong sự phát triển văn hóa dân tộc, là hiện tượng
trước năm 1975 và giai đoạn hiện nay để so sánh.
5. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Nhận thức được những điều trên và để giải quyết các vấn đề đặt ra, luận văn sử
dụng những phương pháp sau: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp
thống kê, phương pháp quan sát. Ngoài ra trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tác
giả còn vận dụng nhiều phương pháp khác như: phương pháp thu thập và xử lý dữ
liệu, phương pháp so sánh, đối chiếu… các nội dung tham khảo với các tài liệu có
liên quan đến đề tài. Bên cạnh đó, với nội dung trình bày trong đề tài, ít nhiều cũng
sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành như văn hóa học liên ngành với nhân
học, xã hội học, dân tộc học…đồng thời, tác giả cũng đã tìm hiểu và vận dụng khai
thác đối chiếu trong một số khái niệm để làm rõ nội dung đề tài.
13
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long là một trong 54 dân tộc ở
nước ta, có nền văn hóa đặc sắc, thể hiện trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt văn hóa
Khmer hòa quyện chặt chẽ với tôn giáo (Phật giáo tiểu thừa) và chính điều đó làm
ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ đời sống (cả vật chất lẫn tinh thần). Người Khmer ở
đồng bằng sông Cửu Long đã có những đóng góp nhất định vào kho tàng văn hóa
chung của người Việt – Nam Bộ nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói
riêng, những sắc thái được tiếp nhận làm phong phú thêm nét bản sắc văn hóa người
Việt. Đồng thời, người Khmer cũng tự tiếp nhận vào nền văn hóa truyền thống của
mình không ít yếu tố văn hóa của người Việt, từ cung cách ăn mặc, nhà ở đến tập
quán, lối sống…để tạo nên sự khác biệt giữa đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với
người Khmer ở Campuchia, là dân tộc đã có mối quan hệ chủng tộc với họ, vốn sẵn
có những nét văn hóa chung lâu đời từ quan hệ chủng tộc.
Những giá trị văn hóa do dân tộc Khmer cũng như những giá trị văn hóa của
người Việt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử vô
15
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC
ĐIỂM TỤ CƯ, CỘNG CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ NGƯỜI KHMER
Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THẾ KỈ XVII ĐẾN NAY
1.1. Khái quát vài nét về yếu tố địa – lịch sử vùng đồng bằng sông Cửu Long thế
kỉ XVII đến nay
Về mặt địa lý – tự nhiên, đồng bằng sông Cửu Long nằm ở hạ lưu sông Mê
Công, phía Bắc giáp Campuchia, phía Đông giáp sông Vàm Cỏ, phía Nam giáp biển
Đông và phía Tây giáp vịnh Thái Lan.
Trong lịch sử hành chính trước thế kỉ XIX, đồng bằng sông Cửu Long được gọi là
“Nam Kì lục tỉnh” hoặc “các tỉnh miền Tây Nam Bộ”. Hiện nay, khu vực đồng bằng
sông Cửu Long bao gồm địa phận của một thành phố (Cần Thơ) và 12 tỉnh (Long An,
Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, An Giang, Đồng Tháp, Kiên
Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau).
Nam Bộ nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, là vùng đất
mới đối với lịch sử lâu đời của đất nước. Đó là vùng đất hoang vu, nhiều thú dữ, thiên
tai, hạn hán, lụt lội ở vùng nhiệt đới gió mùa, lại có nhiều cá sấu,…gây không ít khó
khăn cho cuộc sống. Tuy nhiên, bên cạnh mặt hoang vu, thú dữ và sự khắc nghiệt của
thiên nhiên, vùng đất Nam Bộ lại là vùng đất “cò bay thẳng cánh”, bát ngát ruộng
đồng màu mỡ, phì nhiêu. “Đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, với hệ thống
kinh rạch chằng chịt được bồi đắp bởi phù sa sông Tiền, sông Hậu và phù sa của biển,
một vùng khí hậu ổn định, trong năm phân ra hai mùa mưa nắng rõ rệt, cảnh vật thơ
mộng lại vừa mang vẻ kỳ bí, hấp dẫn, lôi cuốn tâm hồn con người muốn khai phá, tìm
tòi, “mời gọi” cư dân từ các nơi đến sinh sống” [89, 12].
Tài nguyên thiên nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long rất phong phú. Ngoài tài
nguyên về đất và nước, đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều tài nguyên khoáng sản
như nguyên liệu hóa chất, phân bón, đá voi làm vật liệu xây dựng. Đáng chú ý là rừng
tự nhiên còn khoảng 260.000 ha, chiếm 6,8% diện tích đồng bằng sông Cửu Long,
có từ lâu đời, liên tục từ thời tiền sử cho đến nay, nơi đã từng diễn ra những sự tiếp
xúc của nhiều lớp, nhiều tầng văn hóa vùng Đông Nam Á, nhưng với lịch sử nước ta
thì đó là vùng đất mới khai phá, vùng ngoại biên đã bị các thế lực phản động phong
17
kiến và đế quốc chia cắt nhiều lần. Và chỉ đến năm 1975, sau Đại thắng mùa Xuân,
khi chúng ta giải phóng miền Nam, vùng đất đồng bằng sông Cửu Long này mới thật
sự được sống lại trong độc lập và thống nhất, và một vận hội mới đã đến với đồng
bào dân tộc Việt, Khmer…nơi đây. Trong bối cảnh đất nước hòa bình, độc lập và
đang trên con đường giao lưu, hội nhập về văn hóa khi đất nước bước vào thế kỉ XXI
không chỉ dân tộc trong vùng mà còn giao lưu với các dân tộc anh em khác cũng như
trên thế giới để khẳng định những giá trị truyền thống tốt đẹp mà nhân dân sáng tạo,
làm phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc, để đi vào con đường đổi mới
trong nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, triệt để khắc phục những hậu quả của chủ nghĩa
thực dân cũ và mới trên tất cả các lĩnh vực, mà trước hết là trên lĩnh vực tư tưởng,
văn hóa.
1.2. Khái quát về người Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là nơi tụ cư đông đảo của của người Khmer Việt
Nam, theo số liệu điều tra từ nguồn tuyên giáo tỉnh Sóc Trăng vào năm 1999 dân số
người Khmer có hơn một triệu người, chiếm tỷ lệ 6,4% dân số toàn vùng. Người
Khmer có mặt khá sớm ở Nam Bộ, nhiều ngôi chùa của người Khmer ở Trà Vinh,
Sóc Trăng được xây dựng từ bốn, năm thế kỷ về trước. Người Khmer là cư dân nông
nghiệp, hoạt động chủ yếu là trồng lúa nước và một ít loại hoa màu. Buổi đầu người
Khmer sống thành các phum, sóc (như các xóm, ấp của người Việt) trên các giồng
đất cao. Đó là các gò phù sa cổ, có nguồn nước ngọt, cao ráo, khí hậu thoáng mát,
tránh được nước ngập vào mùa lũ của sông Cửu Long. Người Khmer ở đồng bằng
sông Cửu Long có mối quan hệ về mặt lịch sử và văn hóa dân tộc khá mật thiết với
người Khmer ở Campuchia. Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long là một dân
tộc ít người trong cộng đồng các dân tộc Việt, là công dân của nước Cộng Hòa Xã
vùng đất Nam Bộ đã nằm dưới quyền kiểm soát của người Java. Đến cuối thế kỉ VIII,
văn hóa Óc Eo cũng bắt đầu suy tàn và trong nhiều thế kỉ tiếp theo, vùng đồng bằng
sông Cửu Long trở nên hoang vu.
“Từ thế kỉ X trở đi do biển rút dần, những vùng ven biển nổi lên những giồng
đất, giồng cát màu mỡ, thu hút cư dân đến cư trú. Từ thế kỉ XII, những người nông
dân Khmer nghèo, trốn chạy sự bốc lột hà khắc, nạn lao dịch nặng nề của giai cấp
phong kiến và các triều đại Ăngco, đã tìm cách di cư đến vùng đồng bằng sông Cửu
19
Long. Từ thế kỉ XV, khi đế chế Ăngco sụp đổ, người dân thuộc đế chế này càng rơi
vào cảnh đói nghèo và bị đàn áp nặng nề bởi bọn phong kiến ngoại tộc, người Khmer
(kể cả quan lại, sư sãi và trí thức Khmer đương thời) đã tìm đến đồng bằng sông Cửu
Long này ngày một đông” [81, 12].
Về sự hình thành tộc người: Có nhiều người nói người Khmer là người có mặt
rất sớm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng người Khmer từ đâu đến và đến từ
bao giờ thì lại chưa được giải thích một cách khoa học. Và đó cũng là một trong
những vấn đề quan trọng cần được quan tâm, nghiên cứu, giải đáp.
Một thành tựu khoa học đã công bố trên tạp chí “Science et Vie” xuất bản ở Pháp
vào tháng 10 năm 1974, số 685, trang 84 – 87, để xác định nguồn gốc của tộc người
Khmer đồng bằng sông Cửu Long. Trong bài viết của mình, ông Pierre Rossion đã
giới thiệu thành tựu của khoa huyết chủng học, nghiên cứu về tính chất di truyền của
máu huyết. Nhờ đó mà giáo sư Ruffié đã khám phá ra lịch sử của những sắc dân còn
nằm trong nghi vấn phức tạp bởi thiếu cứ liệu, chứng tích lịch sử. Từ đó, ông thành
lập bản đồ chủng loại máu này. Bằng cách xác định sự phân phối và tỷ lệ của nó,
người ta đã tìm lại được những biên giới của đế quốc xa xưa để chiếm cứ Lào ở thế kỉ
XII, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai và hạ Miến Điện. Người ta ghi nhận rằng huyết cầu
này đã hiện diện ở miền Nam Việt Nam nhiều hơn ở miền Bắc Việt Nam. Chứng
minh khoa học này cho phép ta xác định “tộc người Khmer ở vùng đồng bằng sông
Cửu Long gốc vốn là tộc người Văh Năh (Phù Nam) mà từ cuối thế kỉ VI trở đi đã bị
Việt Nam, người Khmer Nam Bộ là dân tộc thiểu số, danh tộc “Khmer”, thuộc nhóm
chủng tộc “Môn - Khmer”, cùng nhóm chủng tộc với người Campuchia; Hai là, xét
trong cộng đồng miền của người Việt Nam, họ là người Nam Bộ” [66, 9].
1.2.2. Đặc điểm cư trú, sản xuất và xã hội
Địa bàn cư trú của đồng bào Khmer thường là vùng có điều kiện sinh thái khắc
nghiệt, vùng nông thôn nghèo và chậm phát triển. Trên những địa bàn cư trú của
người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long dọc theo miền duyên hải ở hai tỉnh Sóc
Trăng, Trà Vinh và trên tuyến đường biển, vùng cận biên giới thuộc các tỉnh biên giới
phía tây nam, vốn là những khu căn cứ địa cách mạng của Đảng ta trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
21
Theo nhiều nguồn tài liệu lịch sử biết được, từ 200 – 300 năm trước Công
nguyên, người Khmer đồng bằng sông Cửu Long đã sống tập trung thành phum,
không còn du canh du cư. Họ đã có tiếng nói, sống trong những ngôi nhà nhỏ, lợp
bằng lá dừa nước, dùng búa để đốn gỗ, dùng đá mài cọ lửa, dùng hũ đựng lúa, dùng
chậu đựng nước và rượu.
Phum, sóc là những đơn vị cư trú trong tổ chức xã hội cổ truyền của đồng bào
dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt nhà nước, xã, ấp là những
đơn vị quản lý hành chính ở cơ sở, còn phum, sóc là những đơn vị xã hội cổ truyền,
ràng buộc nhau bởi các phong tục, lễ nghi mà ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt văn
hóa.
“Trong đời sống của các dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, phum
là đơn vị cư trú, bao gồm một số gia đình Khmer sống quây quần trong một khoảnh
đất nhất định, trên những dải đất cao (được gọi là những “giồng đất, giồng cát”).
Phum có từ thời Vương quốc Phù Nam còn lưu truyền cho đến bây giờ. Khi lập
phum, người dân thường chọn nơi đất tốt, cao ráo. Xung quanh phum thường trồng
tre gai (loài tre có gai) bao quanh thay cho việc làm tường bao để bảo vệ các gia đình
Về căn bản, sinh hoạt sinh tế của người Khmer sống chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp. “Cùng với nghề làm ruộng rẫy trên những giồng đất cao mà từ lâu họ đã chọn
làm địa bàn cư trú, người Khmer còn biết khai thác những vùng trũng bao quanh để
trồng lúa nước từ rất sớm. Ngoài việc trồng lúa, trồng rẫy, người Khmer còn trồng
cây ăn trái như: dừa, chuối, …; nuôi thêm gia súc như: trâu, bò, ngựa để kéo cày, kéo
xe. Nếu ở gần sông rạch, người Khmer lợi dụng thủy triều lên mà đưa nước vào
ruộng, rồi đắp đập nhỏ giữ nước để rửa phèn cho ruộng. Đến kỳ hạn, khi sắp lên dòng
thì phá đập ra, xổ phèn, lại nhân thủy triều lên mà đặp lại một lần nữa để chứa nước
sông ăm ắp phù sa. Ở xa sông rạch, người Khmer đắp bờ thành ô để giữ nước mưa,
khi cần thì tát nước vào ô bằng gầu dai, gầu sông. Khi người Việt mới từ miền Trung
đặt chân đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, họ chưa có sẵn trong tay những biện
pháp thủy lợi kể trên, đặc biệt là ý thức lợi dụng thủy triều để rửa phèn và đưa nước
vào ruộng. Đây là phát minh độc đáo của người Khmer xưa dựa trên cơ sở những
điều kiện địa lý cụ thể của đồng bằng sông Cửu Long. Người Khmer sống ven sông
hay ven biển còn làm nghề đánh cá, bắt tôm, gần rừng thì đốn củi, đốt than; một số
23