Lịch sử văn hoá dòng họ phan huy ở thạch châu thạch hà hà tĩnh từ thế kỷ XVI đến nay (2005) - Pdf 32

A. Dẫn luận
1. Lý do chọn đề tài

Những tởng rằng thời gian đi qua sẽ xóa nhoà tất cả những gì thuộc về
quá khứ nhng những gì là giá trị đích thực thì vẫn mãi mãi tồn tại và thách
thức cùng tháng năm. Lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua bao thăng trầm biến
động với những cuộc thiên di đắp đổi vẫn sáng ngời những chiến tích âm
vang và đáng tự hào. Trong bản hùng ca chung ấy có cội nguồn của mỗi tên
đất, tên làng, có truyền thống của mỗi phong tục tập quán và đặc biệt có cả
lịch sử đi về của mỗi dòng họ, giống nòi.
Trong mạch nguồn văn hóa cổ truyền Việt Nam tồn đọng lâu dài và cơ
bản là ở văn hóa làng xã và văn hóa dòng họ. Trong đó văn hóa dòng họ vừa
có những nét chung của văn hóa dân tộc nhng cũng mang những nét riêng
biệt. Dòng họ cũng là một môi trờng văn hóa gìn giữ những phong tục, cúng
tế, lễ hội mang đậm những dấu ấn riêng của ngời Việt Nam. Nó tạo nên bộ
mặt riêng cho từng địa phơng dựng nên những di sản văn hóa vô giá cho văn
hóa dân tộc.
Vì vậy, việc nghiên cứu dòng họ vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc
giữ gìn, tôn vinh, phát huy và giáo dục các truyền thống lịch sử địa phơng,
trở thành nguồn tài liệu để tìm hiểu lịch sử văn hóa dân tộc, vừa giúp chúng
ta hiểu thêm về thân thế, sự nghiệp và những đóng góp của các nhân vật lịch
sử .
Từ xa nhân dân ta đã có những câu Chim có tổ, ngời có tông, Uống
nớc nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Đó là truyền thống đạo lý của
ngời Việt Nam. Do vậy nghiên cứu tìm hiểu dòng họ là góp phần củng cố
nuôi dỡng ý thức về cội nguồn, tình yêu quê hơng, đất nớc, ý thức cộng đồng
của ngời Việt Nam. Đó là bản sắc văn hóa, đó là sức mạnh của truyền thống
Việt Nam đã giúp con ngời Việt Nam qua thử thách trong lịch sử và vững bớc đi vào tơng lai.
Hiện nay một xu hớng tìm về nguồn cội đang phát triển ngày càng
mạnh mẽ và đi vào chiều sâu. Trong các dòng họ, ngời ta chắp nối gia phả,
trùng tu lại từ đờng, Lăng mộ, bia kí và một số nghề truyền thống Từ đó đã

huy truyền thống tốt đẹp, đồng thời làm sáng ngời văn hóa gia tộc trong di
sản văn hóa dân tộc, góp phần hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hóa đất nớc, đa nớc ta hiên ngang sánh vai với các cờng quốc năm châu
nh Bác Hồ mong muốn.
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Lịch sử Văn hóa dòng họ Phan Huy ở Thạch Châu - Thạch Hà - Hà Tĩnh từ thế kỷ
XVI đến nay (2005) để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Văn hóa dòng họ nằm trong khuôn khổ văn hóa làng xã, đất nớc. Nội
dung xây dựng văn hóa dòng họ thực chất là xây dựng con ngời có văn hóa
trên bớc đờng đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc theo định hớng
xã hội chủ nghiã. Chính vì vậy nghiên cứu về dòng họ là một đề tài hấp dẫn,
lý thú và thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu.
Với truyền thống uống nớc nhớ nguồn, hiện nay một số địa phơng đã
tổ chức các cuộc hội thảo về lịch sử - văn hóa dòng họ với những nhân vật
nổi tiếng, những con ngời u tú của dòng họ.
2


Dòng họ Phan Huy ở Thạch Châu - Thạch Hà - Hà Tĩnh đã có một số
tác giả, tài liệu đề cập đến dới những khía cạnh khác nhau nhng cha có một
tác phẩm nào nghiên cứu cụ thể về lịch sử văn hóa dòng họ Phan Huy. Trong
quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi đã tiếp cận đợc một số tài liệu
nh sau:
Tác giả Thái Kim Đỉnh trong Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh do Sở
Văn hóa thông tin Hà Tĩnh ấn hành đã nói đến các nhà khoa bảng của dòng
họ Phan Huy nh Phan Huy Cận, Phan Huy Ôn, Phan Huy Tùng
- Tác giả Ngô Đức Thọ trong Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 1910) cũng đã nói đến các nhà khoa bảng của dòng họ Phan Huy nh Phan
Huy Cận, Phan Huy ích, Phan Huy Ôn, Phan Huy Tùng.
- Về chính sử có lịch sử triều hiến chơng loại chí tập 1 đã đề cập đến

đến một số vấn đề về truyền thống dòng họ Phan Huy, một số đóng góp của
dòng họ Phan Huy cho lịch sử dân tộc, cũng nh đóng góp của các nhân vật
và di tích của dòng họ Phan Huy. Nhìn chung, các bài viết đó còn mang tính
khái quát lẻ tẻ hoặc chỉ tập trung vào một cá nhân (nh Phan Huy Chú hay
Phan Huy ích) chứ cha đi sâu nghiên cứu tổng thể quá trình phát triển dòng
họ và những đóng góp của dòng họ Phan Huy đối với tiến trình phát triển
của lịch sử nớc nhà.
Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Thạch Hà, từ lâu tôi mong muốn đợc
đóng góp sức mình cho sự nghiệp phát triển của quê hơng và từ thực tế trên
cùng với mong muốn đóng góp cho quê hơng đã thôi thúc tôi đi sâu nghiên
cứu một cách có hệ thống và toàn diện hơn về dòng họ Phan Huy để góp
phần giữ gìn và phát triển văn hóa địa phơng cũng nh văn hóa dân tộc.
3. Đối tợng nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
Dựa vào nguồn tài liệu hiện có và khả năng của mình, chúng tôi chỉ nghiên
cứu tìm hiểu về lịch sử văn hóa dòng họ Phan Huy trên phạm vi ở xã Thạch Châu huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh từ thế kỷ XVI đến nay (2005). Nhng trong quá trình
phát triển dòng họ Phan Huy ở Thạch Châu có sự lan tỏa đi các nơi khác do đó
trong đề tài có thể đề cập tới những không gian có liên quan.
3.2. Nhiệm vụ.
Trớc hết, chúng tôi khái quát các điều kiện tự nhiên, vị trí chiến lợc
cũng nh con ngời Thạch Hà. Tìm hiểu về nguồn gốc và quá trình phát triển
trên của dòng họ Phan Huy ở Thạch Châu, Thạch Hà.
Phần quan trọng của đề tài là truyền thống của dòng họ Phan Huy và
những đóng góp của dòng họ này cho lịch sử dân tộc (qua một số nhân vật
tiêu biểu). Chúng tôi đi trình tự qua các thế hệ để có một cái nhìn tổng quát và
hệ thống. Qua đó chúng ta có thể nhận thấy đợc sự tiếp nối những truyền thống
của dòng họ, sự phát huy cũng nh hạn chế của thế hệ sau. Đặc biệt là đánh giá
đúng những đóng góp lớn lao của dòng họ Phan Huy với quê hơng Thạch Hà,
đối với lịch sử dân tộc.

Phan Huy Lê.
4.2. Phơng pháp nghiên cứu.
4.2.1. Su tầm t liệu.
Để có đợc nguồn t liệu cần thiết phục vụ cho đề tài, chúng tôi đã tiến
hành su tầm, sao chép ở th viện tỉnh Hà Tĩnh, th viện Nghệ An nghiên cứu
thực địa, chụp ảnh các di tích, sử dụng phơng pháp phỏng vấn.
4.2.2. Xử lý t liệu.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng phơng pháp lịch sử,
phơng pháp so sánh và phơng pháp lôgíc để trình bày quá trình hình thành,
phát triển của dòng họ theo thời gian diễn biến của lịch sử. So sánh, đối
chiếu gia phả, bia ký với chính sự, từ đó phân tích đánh giá nêu lên mối quan
hệ chặt chẽ, tác động hai chiều của dòng họ Phan Huy với quê hơng đất nớc.
5. Đóng góp của đề tài.

Với sự cố gắng cao nhất của tác giả luận văn sẽ góp phần cung cấp
cho độc giả bức tranh toàn cảnh về quá trình hình thành và phát triển của
dòng họ Phan Huy ở Thạch Châu với lịch sử hơn 400 năm với 15 đời con

5


cháu. Qua đó giáo dục t tởng hớng về cội nguồn, phát huy những truyền
thống quý báu của dòng họ.
- Tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ.
- Hoàn thành đề tài nghiên cứu góp phần làm giàu thêm nguồn t liệu,
phong phú hơn cho bộ sử địa phơng.
6. Bố cục luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn đợc trình bày ở 3 chơng:

đúc nhng lại nằm trong một dải đất hẹp, độ dốc lớn nhiều sông, ngòi, kênh,
lạch, địa hình chia cắt, tầng đất canh tác kém, đất bạc màu, nhiễm mặn
nhiều.
Phía Tây liền với núi Hơng Khê là cái dải đồi núi thấp, rìa ngoài của
Trờng Sơn Bắc - kéo dài 24km từ động Sơn Mao (Thạch Ngọc), đến ngọn
Bàu Đài (Thạch Lu), ngọn Nhật Lệ (Thạch Điền).
Mé biển, phía Đông bắc huyện có núi Bờng (Bằng Sơn, 213m), rú bể
(Nam giới - Quỳnh Sơn, 373m). Hai ngọn núi này cùng các núi đồi rải rác
trong vùng Đồng Bằng (rú Sò- Nghĩa Sơn, rú Nài - Cẩm Sơn, rú Tợng - Hà
Thanh; rú Đòi - Đội Sơn, hòn Mốc - Hữu Nam Giới) đều là những hòn đảo
trong vũng biển thủa trớc.
Đồng bằng Thạch Hà rộng khoảng 29.000 ha, trong đó khoảng 12.000
ha là đất thịt và khoảng 10.000 ha đất pha cát. Do cấu tạo bằng phà sa núi và
cát biển, đồn điền tơng đối bằng phẳng, nhng ít màu mỡ. Ven biển có
khoảng 6000 ha (12,5% diện tích) trong đó có khoảng 1000 ha là núi đá, còn
lại là cát biển.
Thạch Hà có mạng lới sông ngòi dày đặc, với tổng lu vực hứng nớc
còn là gần 800 km2. Bờ biển Thạch Hà dài 27 km, với tổng diện tích vùng
đặc quyền kinh tế là 3.310 km2. Cửa Sót là một cửa biển lớn ở Hà Tĩnh, nằm
trên 18,2754 độ vĩ bắc và 105,5530 độ kinh đông. Lu lợng nớc đổ qua đây
7


lúc lớn nhất (đĩnh lũ) lên tới 3800 m3/giây và lúc thấp nhất là 6 đến
7/m3/giây. Cách đây trên 200 năm, cửa biển còn đổ ra vùng Dơng Luật
(Thạch Bàn - Thạch Hải), phía Nam núi Nam giới, về sau bị bồi lấp, dòng
chảy mới vùng lên phía Bắc, đi qua Kim Đôi (Thạch Kim) nh hiện nay.
Về khí hậu:
Thạch Hà là nơi chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu Bắc Nam nên có
ma lớn, lợng ma trung bình là 2544 mm/năm và độ ẩm rất cao 77% đến



nay là xã Mỹ Lộc, Thái Hà nay là xã Sơn Lộc). Toàn huyện còn lại 79 đơn vị
xã, thôn cũ.
Sau cách mạng tháng tám năm 1945, phủ Thạch Hà lại đổi làm huyện
và huyện lỵ lại đổi dời về xã Thạch Thợng. Số đơn vị hành chính dới huyện
là xã.
Sau nhiều năm tiếp theo Thạch Hà lại có sự thay đổi về xã thôn. Cho
đến năm 1985, Thạch Hà lập thêm xã Bắc Sơn. Và thu lập thị trấn Càyhuyện lỵ. Đến lúc này, cả huyện có 49 đơn vị gồm 47 xã và hai thị trấn. Năm
1990, cắt 6 xã (Thạch Trung, Thạch Quỳ, Thạch Linh, Thạch Phú, Thạch
Hòa, Thạch Yên) chuyển về xã thị xã Hà Tĩnh. Nh vậy Thạch Hà hiện có 41
xã.
1.1.2. Truyền thống văn hóa, lịch sử.
Thạch Hà là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa, truyền thống
yêu nớc và cách mạng, rất đáng trân trọng và tự hào.
Trên đất Thạch Hà, cuộc sống con ngời đã bắt đầu khá sớm. Các di chỉ
khảo cổ học cồn sò điệp Thạch Lạc, phía Nam Thạch Lâm, cồn lồi mốt
(Thạch Vĩnh, Thạch Đài) thuộc văn hóa hậu kỳ thời đại đồ đá mới, chứng
minh rằng ngời tiền sử đã từng sống trên đất Thạch Hà từ trên 4000 năm trớc. Những truyền thuyết về thời các Vua Hùng (Chử Đồng Tử tu tiên ở
Quỳnh Viên, Nam Giới, Vua Hùng đến rú Bồng trong truyện Trầu cau),
truyền thuyết về dân Mai Phụ làm nghề nấu muối (trong truyện vua Mai), và
những việc ghi chép trong sử sách (Lê Đại Hành sai Đỗ Tử An mở đờng bộ
từ Nam giới vào châu địa lý năm 992, Lý Thái Tôn sai lập chùa, dựng tháp
Cửu Diện ở núi Nghèn Khoảng 1031-1044, núi Nghèn lúc đó là đất Thạch
Hà) đều là chứng cứ của sự phát triển c dân vùng này.
Tuy nhiên, suốt trong đời cổ đại, c dân ở đây vẫn còn tha thớt. Hơn
nữa, Thạch Hà nằm trong miền biên viễn, chiến tranh, giặc giã, trộm cớp,
thiên tai, đói kém xảy ra triền miên, nên c dân phân tán, bị xáo trộn rất
mạnh. Những lớp ngời đầu tiên không để lại mấy dấu vết. Theo gia phả các
dòng họ lớn thì tổ tiên lớp ngời hiện nay đến đây sớm nhất là từ cuối Trần,

viên đạo thần.
Sau ngày thất thủ kinh đô Huế, quân Pháp kéo ra Nghệ Tĩnh
(1885). bá hộ Nguyễn Huy Thuận (ở Nguỵ Dơng) cử nhân Nguyễn Cao Đôn
(ở Phất Não) đứng lên tổ chức các đội nghĩa quân chống Pháp đợc đông đảo
sĩ phu (trong đó có các ấm sinh, con phó bảng Bùi Thế ở Phong Phú) và nhân
dân trong huyện hởng ứng. Các đội quân này phối hợp với đội quân Lê Minh
(Đức Thọ) đánh hạ thành Hà Tỉnh, rồi ra nhập nghĩa quân Đình Phùng và trở
thành lực lợng khá hùng mạnh của quân thứ Thạch Hà (Thạch Thứ).
Tinh thần yêu nớc, ý chí đấu tranh chống áp bức, chống xâm lợc liên
tục trong quá trình lịch sử cũng là điểm nổi bật của đất Thạch Hà.
Thạch Hà còn là một vùng văn hóa có nét riêng của Hà Tĩnh. Có thể
đây là địa bàn phát sinh điệu hát giặm và là một trong những vùng hát giặm
phổ biến ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với hàng loạt nghệ nhân xuất
sắc: Sợi Đờng, Tri Lơng, Nhiêu Ngọ, Nguyên Hạnh, Dái Kình, o Tộ , dì Tơng, chị Chơng, tin Hào

10


Về việc học ở Thạch Hà, ngời khai khoa là Hoàng Giáp Nguyễn Hộc,
ngời xã Cổ Kênh, đỗ khoa Nhâm Tuất (1442). Từ đó việc học ngày càng
thịnh đạt, ngời đỗ khoa hội, khoa hơng ngày càng đông. Tính trên địa bàn
Thạch Hà hiện nay thì đời Lê, Nguyễn có 24 ngời đỗ đại khoa (đời Lê 15 ngời) có hai Hoàng Giáp, 13 tiến sĩ không tính Nguyễn Tất Bột, ngời Tôn Lỗ,
nay thuộc Thạch Linh), đời Nguyễn chín ngời, có một thám hoa, năm tiến sĩ,
ba phó bảng.
ở Trờng Hơng, hàng chục sĩ tử Thạch Hà đỗ hơng cống (đời Lê) và 29
ngời đỗ cử nhân (đời Nguyễn). Ngoài ra, còn có nhiều ngời trúng sinh đỗ tú
tài.
Thạch Hà cũng là vùng có nhiều di tích thắng cảnh, tiêu tiểu là chùa
Nghĩa Sơn, Cảm Sơn, nổi bật là vùng danh làm thắng Quỳnh Viên với đền
Chiêu Trng, đến thành mẫu Nam Sơn và cửa biển Nam Giới, khi nớc ngọt

Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà,
tĩnh Hà Tĩnh) . Thạch Châu nguyên xa là thuộc làng chi Bồng xã Thu Hoạch
tổng Canh Hoạch huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang. Nơi đây là một
miền đất khai phá từ lâu. Đến năm Khải Định thứ 6 (1021) chia tổng đoàn
vào huyện Can Lộc và huyện ấy lại tách hai tổng Vĩnh Luật và Canh Hoạch
về Thạch Hà cho đến đời thứ 10 trong dòng họ Phan có ngời là Trùm huyện
là chức sắc trong giáo phờng, một tổ chức của hát ca từ thời phong kiến ở nớc ta.
Từ Ngọc Điền chuyển về thôn chi Bồng tức Hữu Phơng, vào đời thứ
bảy, họ Phan phân làm hai chi phái: Đại Tôn ở thôn Gia Thiệu và Tiểu Tôn ở
Hữu Phơng, nay đều thuộc xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Với lịch sử hơn 400 năm qua 15 thế hệ con cháu (tính từ cụ tổ) Dòng
họ Phan Huy ở Thạch Châu Thạch Hà - Hà Tĩnh đã lan tỏa ra nhiều huyện
trên đất Hà Tĩnh, nhiều tỉnh thành trong cả nớc và thậm chí đang có số ít
sinh sống ở nớc ngoài. Đến đời cụ Phan Huy Cận dòng họ Phan Huy có một
nhánh ra dòng họ Thuỵ Khê (Hà Tây). Riêng ở Thạch Châu, Thạch Hà, Hà
Tĩnh dòng họ Phan Huy đã rất phát triển.
Theo cuốn Phan Gia công phả cả phần dịch và chữ Hán dày 308
trang do Nguyễn Ngọc Nhuận dịch và giáo s Phan Huy Lê hiệu đính, từ thế
kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX trải qua 13 đời nh sau:
Đời 1: Tiên tổ khảo, tên Thụy là Đôn Dụ phủ quan.
Đời trớc có nói rằng: Cao cao tổ tên là ông Trằm, Cao cao tổ tên là mụ
Trằm (vào mùa thu năm Mậu Thân niên hiệu Bảo Thái đời Lê (1728), tăng
quận công cùng các vị Quý Tần về bản quán có đặt đàn, bày lễ, truy tiến các
vị gia tiên đã ghi nh vậy).
Đời 2: Phan Lệnh Công tên Thuỵ là trang chiêu phủ quân, tên huý là
Phan Văn Lâu.
Đời 3: Phan Lệnh Công, tên thuỵ là thuần mục phủ quân tên, huý là
Phan Văn Đài .
Đời 4: Phan Văn Nguyên: Ông là con trởng của cụ Thuần Mục Công,
vào năm Nguyên Hòa đời vua Lê Trang Tông (1533 - 1548) lúc đầu đi theo

Bá Phan Quý Công, tên tự là Nh Phơng, tên Thuỵ là Thanh Trực. Con trởng
cụ Phan Văn Canh, sinh năm Quý Dậu (1693), thọ 68 tuổi.
Sinh hạ đợc 6 con trai là: (Châu, Điền, Tuyên, Gia, Điền).
Đời thứ 9: Phan Huy Châu: Là chánh ngũ phẩm giữ chức thiên sự tại
thiên sự viện là con trởng của Côn Thọ Bá. Ông sinh năm Nhâm Thìn (1712),
thọ 59 tuổi.
Sinh hạ 4 con trai (trởng Bĩnh, thứ hai là Quan, thứ ba là Điền, thứ t là
Tôn).
Đời thứ 10: Phan Văn Bỉnh là con trởng của cụ thu lộc hầu Phan Văn
Châu, sinh năm Kỷ mão (1959), thọ 60 tuổi. Ông là quan viên tử kiêm trùm
huyện tức là ngời đứng đầu ty giáo phờng cấp huyện.
13


Sinh hạ đợc 4 con trai là: Xán, án, Đồng, Lơng.
Đời thứ 11: Phan Văn Xán là con trởng cụ trùm huyện Phan Văn
Bỉnh, ông sinh năm Kỷ Mão, thọ 60 tuổi. Ông là quan viên tôn kiêm tớng sĩ
lang giữ chức tri sự thừa hoa điện.
Sinh hạ đợc 2 con trai con trởng là Vĩ, con thứ là Minh.
Đời thứ 12: Phan Văn Vĩ tên chữ là Mân, là con trởng cụ tri sự Phan
Văn Xán, ông thọ 70 tuổi.
Sinh hạ đợc 3 ngời con trai: Con trởng là Lãng, con thứ hai là Phổ, con
thứ ba là Tiến.
Đời thứ 13: Ông trởng là Phan Văn Lãng. Sinh hạ đợc một con trai,
mất sớm.
Ông thứ hai là Phan Văn Phổ. Sinh hạ đợc một con trai.
Ông thứ ba là Phan Văn Tiến.
Tiểu tôn:
Đời 7: Phan Văn Tĩnh sinh năm Tân Hợi niên hiệu Cảnh Trị thời Lê
(1671), con thứ cụ Phan Văn Kính và bà á thất là Phạm Đặng lệnh nhân. Vào

Trân, Uyển, Toại.
- Phan Huy Vị con thứ 7 cụ Quận Công Phan Văn Tĩnh.
- Phan Huy Kiêm con thứ 8 cụ Phan Văn Tĩnh.
- Phan Huy Trì con thứ 9 cụ Phan Văn Tĩnh.
Đời thứ 9: Lấy con của Phan Huy Cận làm đại diện.
- Phan Huy ích :Ông sinh giờ thìn, ngày 12 tháng 12 năm Canh Ngọ, niên
hiệu Cảnh Hng thứ 11 (1750), là con đầu cụ Bình Chơng (Phan Huy Cận),
lúc nhỏ rất thông minh dĩnh ngộ.
Khoa Tân Mão (1771) ông thi Hơng đậu giải nguyên, khi đó ông 22
tuổi. Năm Nhâm Thìn (1772), khảo khoa 4 kỳ đều u cả, đến mùa đông năm
đó thi Hội 4 trờng đều có phân số. Năm Quý Tỵ (1773) đợc nghị thởng một
bậc, cho làm Thừa Ty Sơn Nam, không bao lâu ông xin về. Năm Giáp Ngọ
(1774) phụng mệnh khảo hạch tuyển chọn học trò huyện Đông Quan. Khoa
thi hội năm ất Mùi (1775), ông đỗ hội nguyên, đợc ban cho là Thiếu Tuấn
khoa đồng Tiến sĩ đệ thất. Tháng 2 mùa xuân, ông lên kinh ứng khảo, đặc
phê ứng chế đệ nhất, đợc thởng 10 quan thanh tiền, đợc trao chức Hàn Lâm
hiệu Thảo, sau đó giữ chức Thị giám sát Ngự Sử tỉnh Thanh Hoá. Ông đã
có nhiều đóng góp cho triều Tây Sơn, ông mất vào giờ Tuất ngày 20 tháng 3
năm Nhâm Ngọ (1822) niên hiệu Minh Mệnh, thọ 73 tuổi.
Sinh hạ 6 con trai là: Quỳnh, Thực, Chú,Thanh, Ly, Mãn; 8 ngời con
gái là: Bích, Ngôn, Điền, Xuân, Thiều, Quán, Đại, Lơng.
- Phan Huy Thự: Là con thứ hai cụ Bình Chơng (Phan Huy Cận), sinh
năm Quy Dậu niên hiệu Cảnh Hng thời Lê (1753). Khoa Tân Mão (1771)
đậu hơng cống, lúc đó 19 tuổi, năm Kỷ Hợi (1779) thi hội trúng tam trờng.
Lúc đầu ông giữ chức tự thừa, đến năm Đinh Mùi (1787) đợc cử làm Hiến
sát phó sứ. Mùa hạ năm Tân Hợi (1791) thời Tây Sơn ông về trú xã Bảo
Triện Kinh Bắc, bị kẻ cớp giết hại (ông mất lúc 39 tuổi).
Sinh hạ đợc hai con trai là: Phái, Điền; hai con gai là: ái, Tuyên.

15

thứ 3 cụ Phan Huy ích. Khoa Đinh Mão (1807) Kỷ Mão (1819) đời Gia
Long đều đậu tú tài, tháng giêng năm 2 niên hiệu vua Minh Mạng (1821)
ông đợc bổ. Hàn lâm viện biên tu, rồi làm phủ Thừa Thiên, Hiệp Trấn tĩnh
Quảng Nam. Hai lần phụng mệnh đi sứ phơng Bắc, sau đó bị khiển trách,
đến năm 15 (1834) đợc phục hồi làm công bộ t vụ, bị đau chân xin về nghỉ
hu, dạy học. Sau phụng mệnh đi sứ, thăng thị giảng sung sứ bộ. Ông mất
năm Minh Mạng thứ 21 (1840), thọ 59 tuổi. Có 5 ngời con trai là: Uyên,
Chuẩn, Triệt, Hàm, Nhuận, một con gái là Cơ.

16


- Phan Huy Thanh con thứ 4 cụ Phan Huy ích. Ông sinh giờ Dần ngày
15 tháng 9 năm Bính Ngọ (1786), mất ngày 22 tháng 4, thọ 54 tuổi. Có 3 con
trai là : Trạm, Tiệm, Thúc; 3 con gái là: Thành, Hoàn, C.
- Phan Huy Lý con thứ 5 cụ Dụ Am Phan Huy ích, ông sinh năm Tân
Dậu (1801), sinh hạ đợc 2 con trai là: Nghi, Đàm; 2 con gái.
- Phan Huy Mãn: Ông sinh năm Nhâm Tuất (1802), là con thứ 6 cụ
Phan Huy ích theo thợng th Khuê nhạc công( Phan Huy Thực) đi sứ sang
Trung Quốc, làm quan đến thông phán, mất ngày 19 tháng 8 năm Minh
Mạng thứ 17 (1836) lúc đó ông 35 tuổi, có 1 con trai là Diên.
Đời thứ 11:
Lấy con của Phan Huy Thực làm đại diện gồm 2 ngời con trai nhng
nổi bật lên là Phan Huy Vịnh.
Phan Huy Vịnh sinh giờ hợi, ngày 25 tháng Giêng năm Tân Dậu, niên
hiệu Cảnh Thịnh (1801). Ông đậu cử nhân khoa Mậu Tý năm thứ 9 niên hiệu
Minh Mạng (1828), năm Tự Đức thứ 6 (1853) đợc bổ thị Lang, làm chánh sứ
sang Thanh, vì đờng khó đi phải ở lại 3 năm, đến lúc về đợc thăng Hữu tham
tri bộ hình và ban cho 8 bài Ngự thi (1 bài thất ngôn, 7 bài ngũ ngôn), một
kim khánh (có 4 chữ Cần Lao Khả Lục nghĩa là: chuyên cần lao động đáng

- Phan Huy Kỳ là con thứ 3 cụ Phan Huy Vịnh, sinh năm Kỷ Mùi
(1859), đợc tặng nghi nhân hàmTòng ngũ phẩm. Mất ngày 14 tháng 3, thọ
27 tuổi. Có 1 con trai là Cầm.
- Phan Huy Trăn là con thứ 6 cụ Phan Huy Vịnh, sinh năm Canh Ngọ
(1870). Năm Nhâm Thìn niên hiệu Thành Thái (1892) đợc ấm lệ vào học
Quốc Tử Giám, khoa Giáp Ngọ niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894), ông đỗ
cử nhân xếp thứ 14. Năm ất Mùi (1895) theo khâm phái đợc binh bổ đi hậu
bố tỉnh Nghệ An, năm Giáp Thìn (1904) đợc bổ thụ tri huyện Nghi Lộc, năm
ất Tỵ (1905) đợc thăng thụ tri phủ phủ Quỳ Châu. Sau đó ông bị giáng rồi đợc bổ dụng làm đến T vu Binh bộ Ty, kinh lịch thông phán tỉnh Khánh Hoà.
Khi về hu đợc trao thị giảng học sĩ, hu trí vào năm Khải Định thứ 9 (1924).
Nhân tiết mừng thọ nhà vua vừa 40 tuổi, ông đợc cải thụ Quang Lộc tự thiếu
khanh. Có 2 con trai là Thung, Đăng; 3 con gái là: Thị Cúc, Thị Liên, Thị
Quỳ.
- Phan Huy Tấu là con thứ 7 cụ Phan Huy Vịnh, sinh năm ất Mùi (1871).
Từ đời 13 đến nay tất cả các chi họ đều phát triển mạnh sinh sống ở
nhiều tỉnh trong cả nớc và cả ở nớc ngoài, con cháu học rộng, tài cao và ngày
càng có nhiều cống hiến quan trọng cho đất nớc.
Trải qua hơn 400 năm lịch sử, kể từ đời cụ tổ nhập tịch vào phía Tây xứ
Trằm Vịt thôn Chi Bồng (sao đổi là Hữu Phơng) xã thu hoạch, huyện Thiêu
Lộc nay Thạch Châu- Thạch Hà- Hà Tĩnh , dòng họ Phan Huy đã trở thành
một dòng họ lớn có truyền thống hiếu học, yêu nớc và con cháu dòng họ
đang ngày càng tô điểm thêm truyền thống văn hoá tốt đẹp đó của cha ông.

18


19


Chơng 2: Văn hoá truyền thống của dòng họ

Về sau trong các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
rất đông đảo các con em họ Phan Huy đã tham gia quân đội, nhiều ngời anh
dũng hy sinh nh liệt sĩ Phan Huy Chinh, Phan Huy Dần, Phan Huy Đệ, Phan
Huy Tấn. Có nhiều gia đình có hai liệt sỹ.
Có đợc kết quả đó ngoài truyền thống chung của dân tộc, sự giáo dục
lãnh đạo của Đảng thì dòng họ đã có tác động rất lớn cho con em đó là:
20


- Luôn giữ gìn, trân trọng các chiến phẩm của dòng họ nh mũ tớng, các
đạo sắc của vua phong thởng đợc để ở vị trí trang trọng trong nhà thờ (hiện
nay dòng họ Phan Huy con giữ đợc nguyên vẹn 21 đạo sắc ) đến việc lập
các bia tởng niệm.
- Luôn động viên những thành viên trong dòng họ phát huy tinh thần
yêu nớc và luôn giữ vững ý chí chiến đấu.
Để có một lịch sử hào hùng nh dân tộc ta trong việc chiến đấu giữ nớc
chống giặc giữ nớc, có lẽ nét tiêu biểu của nhiều dòng họ, gia đình địa phơng
là giáo dục con cháu lòng yêu nớc, chí căm thù giặc, dám xả thân hy sinh vì
nghĩa nớc. Tuy vậy cách làm của mỗi nơi lại khác. Việc nghiên cứu tổng hợp
vấn đề này sẽ rút ra đợc nhiều điều bổ ích.
Một nét gia phong đáng qúy và trân trọng của dòng họ Phan Huy là
truyền thống hiếu học, coi trọng mục đích và hiệu quả sự học hành.
Có lẽ từ những đời trớc, các bậc tiền bối đã thấy rõ ý nghĩa vai trò của
sự học, của kiến thức nên đã quan tâm đến việc học hành của con em trong
dòng họ.Vì vậy, tuy một chi họ nhỏ nhng từ xa đến nay dòng họ Phan Huy
luôn đi đầu trong việc chăm lo học hành, trau dồi học vấn, lấy sự học làm
trọng. Kết quả đó thể hiện qua các thời kỳ.
Thời kỳ phong kiến Việt Nam nhiều con em dòng họ Phan Huy nổ lực
cao trong học tập và dành đợc nhiều vị trí về khoa bảng. Có nhiều ngời đậu
tiến sĩ, cử nhân, tú tài, tam tớng. Tiêu biểu là Phan Huy Cận cùng với hai con

Thị Hoè, con gái thứ cụ tú tài song khoa Lê Trọng Thuy thôn Vĩnh Hoà. Bà
sinh năm ất Mùi niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), mới 8 tuổi về hầu ông
Phần Khê phả quận, 19 tuổi chồng mất bà trinh tâm tiết hạnh, dạy con làm
nên (là tiến sĩ Mộng Đình Phan Huy Tùng). Năm thứ 16 niên hiệu Thành
Thái (1904) gặp lễ mừng thọ Hoàng Thái Hậu 50 tuổi có thông lục trong
ngoài ai là hiếu tử, thuận tôn, nghĩa phụ, tiết phụ, cho phép quan địa phơng
tâu lên để xem xét biểu dơng, lúc đó thừa lệnh quan Tỉnh tâu đầy đủ lên,
trong bản tâu ghi: thuỷ chung thủ tiết nuôi con học hành đỗ đạt (lúc đó tiến
sĩ Mộng Đình mới trúng tú tài). Đến tháng giêng năm ất Tỵ (1905) phục
chuẩn khâm từ ban cho tấm biển tiên khắc:"Sắc từ tiết hạnh khả phong"
(nghĩa là tiết hạnh đáng giá gơng mẫu) đợc sơn son thiếp vàng, lại phong cho
là: "Tòng tử phẩm nhân cung". Năm Canh Ngọ niên hiệu Bảo Đại thứ 5
(1930) lại đợc chuẩn thởng tấm kim bôi hạnh nhì (một bên khắc "Quỳnh
giao vĩnh bảo ", một bên khắc "Bảo đại niên tạo"(nghĩa là Ngọc Quỳnh giao
mãi mãi tốt đẹp và làm năm Bảo Đại) và đợc treo bức thuỷ anh huyền bội,
nội dung ghi "Quả c trợ tử hiền hạnh khả gia"(nghĩa là: ở vậy nuôi con, đức
hạnh đáng đợc thởng. Để khuyến khích đức hạnh tốt đẹp).
Từ việc tìm hiểu gia phong của dòng họ Phan Huy ở Thạch Châu
chúng ta nhận thấy rằng cha ông ngày xa rất công phu, có bài bản trong việc
xây dựng, bảo tồn và phát huy gia phong cũng nh bản sắc văn hoá gia tộc,
trong đó có nhiều trờng hợp đã đợc thao tác hoá, hành động hoá. Do vậy, dẫu
"qua nhiều cuộc bể dâu" nhng dòng họ Phan Huy vẫn giữ cho mình đợc một
bản sắc riêng. Tuy nhiên họ cũng có nhiều đổi mới để phù hợp với yêu cầu
mới, song vẫn giữ vững những gì có ý nghĩa vĩnh hằng nh sống trọng tình
nghĩa, sống có đạo lý , yêu nớc, hiếu học.
2.2. Dòng họ Phan Huy với truyền thống khoa bảng.

22



quán, trớc sau ông làm việc ở triều hơn 30 năm.
Phan Huy Cận là thân phụ của Phan Huy ích và Phan Huy Ôn cũng là
những ngời đậu đạt, kế tục sự nghiệp của cha mình.
Phan Huy ích là con trai trởng cụ Bình Chơng hiệu là Dụ Am, sinh
ngày 12/12 năm Canh Ngọ (1750). Khi còn học ở quê nhà Phan Huy ích nổi
tiếng thông minh. Ông thi hơng đỗ Giải nguyên, 26 tuổi đỗ Hội nguyên, Đệ
23


tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa ất Mùi niên hiệu cảnh hng 36 (1775)
đời Lê Thiển Tông. Sau khi đỗ đợc bổ chức Hàn Lâm thừa chỉ, về sau đợc
điều đi giữ chức tham chính xứ Sơn Nam. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc, ông đến
yết kiến, đợc Nguyễn Huệ tin dùng, trao chức Tả thị lang bộ binh, tớc thuỵ
Nham Hầu. Năm 1790, ông đợc cử làm chánh sứ đa Giã Vơng sang nhà
Thanh. Năm 1792, đợc thăng chức Thị trung ngự sử. Triều Tây Sơn thất bại,
ông và nhiều nhân vật khác bị bắt, sau đó đợc tha về, ông về quê dạy học.
Sau khi Phan Huy ích đậu tiến sĩ một năm thì em ông là Phan Huy ôn
(1755 1786) cũng đậu tiến sĩ năm Canh Tý (1780). Trớc đó ông thi hơng
đỗ giải nguyên. Sau khi thi đỗ đợc bổ chức đốc đồng Sơn Tây, thăng hàn lâm
thị chế, tham đồng đê lĩnh, thiên sai tri công phiên, tớc mỹ xuyên bá. Sau khi
mất đợc tặng chức hàn lâm thị giảng, tớc Mỹ xuyên hầu.
Phan Huy Thự là con thứ hai cụ Bình Chơng (Phan Huy Cận) khoa
Tân Mão (1771) đậu Hơng cống, lúc đó ông mới 19 tuổi (đỗ cùng ngời anh
trai cả), năm Kỷ Hợi (1779) thi hội trúng Tam trờng.
Phan Huy Sảng là con thứ t cụ Phan Huy Cận khoa thi hội (1779) đậu
Hơng cống lúc 16 tuổi, thi hội nhiều lần trúng Tam trờng.
Ngoài các nhân vật đó trong dòng họ Phan Huy còn có nhiều bậc danh
tài kế tục nh Phan Huy Chú, Phan Huy Vịnh, Phạm Huy Thực, Phan Huy
Dũng, Phan Huy Tùng làm rạng rỡ thêm cho dòng dõi tổ tiên ông cha.
Trong những ngời này phải kể đến Phan Huy Chú, ông là con trai thứ ba

cháu của dòng họ Phan Huy đã ngày càng vun đắp thêm, tô thắm truyền
thống khoa bảng hiển vinh của ông cha để lại cũng nh làm rạng rỡ thêm
truyền thống khoa bảng của dân tộc Việt Nam.
2.3. Sự nghiệp trớc tác của dòng họ Phan Huy.

Mỗi tác phẩm, mỗi công trình nghiên cứu chính là sản phẩm tinh thần,
là kết tinh sức lao động của trí tuệ, trái tim những con ngời sáng tạo ra nó.
Đó là di sản thiêng liêng, là cầu nối giữa hiện tại và tơng lai. Từ những tác
phẩm ấy ta hiểu hơn tâm hồn của những con ngời và thời đại họ sống, ta
thêm hiểu bề dày tri thức của ông cha tích luỹ qua từng chặng đờng lịch sử,
ta thêm hiểu, thêm trân trọng những ớc vọng của cha ông để sống tốt hơn,
đẹp hơn với cuộc sống xung quanh mình.
2.3.1. Sự nghiệp thơ văn của dòng họ.
Nếu nh dòng họ Võ Tá xã Hà Hoàng lừng danh về võ, với nhiều quân
công, tạo sĩ (tiến sĩ võ) đời Lê thì dòng họ Phan Huy lại để lại dấu tích chói
ngời trong những sự nghiệp văn chơng kỳ tài tiếp tiếp từ thế hệ này sang thế
hệ khác, từ đời này sang đời khác. Những di phẩm kiệt xuất mà lớp lớp dòng
họ này để lại đã góp một phần vào tiếng nói hào hùng của hồn thiêng sông
núi, làm rạng rỡ diện mạo văn hoá dân tộc.
Dòng họ Phan Huy sáu đời đầu chủ yếu là quan võ, phải đến đời thứ
bảy mới phát văn. Từ đời thứ 8, Phan Huy Cận theo gia phả của dòng họ ghi
chép: lúc bấy giờ các văn thân đều xu nịnh hót, chỉ có ông không khuất phục
cho nên bị phu gian bãi chức ở nhà 8 năm, ông đã mở trờng dạy học và làm
thơ. Tuy nhiên những tác phẩm đó không thấy các tài liệu nhắc đến.
Đến Phan Huy ích là ngời mở đầu cho dòng văn chơng nổi tiếng của
dòng họ Phan Huy. Ông viết nhiều, để lại một khối lợng tác phẩm đặc biệt là
về thơ ca, ông có các tập nh Nam Trình Tạp Vịnh, Vân Sơn Khiển Hng, Cẩm
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status