TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYÊN THỊ HẢO
•
Sự VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
•
•
V
•
VÀO VIỆC BẢO VỆ KHU DI TÍCH LỊCH sử
VĂN HÓA CÔN SƠN - KIÉP BẠC Ở HẢI DƯƠNG
HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học Người hướng dẫn khoa học ThS. NGUYỄN THỊ
GIANG
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo - Th.s Nguyễn Thị Giang đã tận
tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa giáo dục chính trị cùng các
thầy cô giáo trong trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt
khóa luận tốt nghiệp của bản thân.
1.
2.
1
3. MỞ ĐÀU
1. Tính cấp thiết của đề tài
4.Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn. Sức hút
của Việt Nam không chỉ là vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên mà còn do nguồn tài
nguyên nhân văn vô cùng phong phú và đa dạng. Đó chính là các lễ hội truyền
thống, phong tục tập quán, các di tích lịch sử văn hóa.
5.Ngày nay khi cuộc sống của con người ngày càng được cải thiện, hiện đại
hóa hơn thì nhu cầu trở về cội nguồn, tìm hiểu về những nét đẹp văn hóa đã trở
thành một nhu cầu tất yếu chính vì vậy lượng khách du lịch đến với các khu di
tích lịch sử văn hóa ngày càng tăng. Đen đó khách sẽ được thỏa mãn nhu cầu
hiều biết về những nét đẹp văn hóa, những giá trị lịch sử lâu đời, những danh
nhân văn hóa của mọi thời đại mỗi quốc gia, dân tộc nơi du khách đặt chân đến.
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, có tới hàng
trăm di tích lịch sử văn hóa đánh dấu những chặng đường phát triển của lịch sử
văn hóa dân tộc. Nen văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc chính là
sự kết tinh và tóa sáng từ các di tíc lịch sử văn hóa này khi nhắc đến những di
tích lịch sử văn hóa chúng ta không thể không nhắc tới khu di tích lịch sử văn
hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc thuộc địa bàn thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương.
6.Côn Sơn - Kiếp Bạc là khu di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng của đất nước
với hình sông thế núi hùng vĩ, linh thiêng... là vùng đất nối tiếng của danh sơn
huyền thoại, thiên nhiên kì thú, những công trình kiến trúc độc đáo, những lễ hội
đậm màu sắc dân gian, những địa danh lam lịch sử gắn với những chiến công
oanh liệt trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Điếm nối bật trong
khu di tích lịch sử văn hóa là chùa Côn Sơn Và Đen Kiếp Bạc. Hay nơi đây còn
Xuất phát từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “5«’ vận
dụng quan điếm toàn diện vào việc bảo vệ khu di tích lịch sử văn hóa Côn Sơn Kiếp Bạc ở Hải Dương hiện nay ”. Làm bài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cún
11.
Xuất phát từ những giá trị vô cùng to lớn của những di tích lịch sử
văn hóa mang lại đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, việc bảo vệ những di
tích, khu di tích lịch sử văn hóa đã trở thành vấn đề chung không chỉ đối với từng
địa phương, từng quốc gia mà đó là vấn đề chung của quốc tế. Vì vậy UNESCO
đã đưa ra khuyến cảo quốc tế về việc bảo vệ di sản văn hóa. Hội nghị toàn thể
khóa họp thứ XIX của UNESCO tại Nairobi ngày 26 -10 -1976 đã nêu rõ: Tài
sản văn hóa là yếu tố căn bản của nền văn minh và văn hóa các dân tộc.
12.
Trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu
vấn đề công tác bảo vệ di tích như:
13.
Trong Pháp lệnh “ Bảo vệ và phát huy tác dụng di tích LSVH và
danh lam thắng cảnh ”, Nxb văn hóa thể thao, Hà Nội, 1986. Đã chỉ ra để bảo vệ
và sử dụng danh lam thắng cảnh đạt được mục đích giáo dục truyền thống dựng
nước và giữ nước của dân tộc, giáo dục tinh thần yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội
phục như: Việc tranh chấp quản lý di tích, quản lý đất đai, việc phân cấp hoạch
định không gian di tích chưa có, chưa có bản đồ phân vùng quy hoạch khu di
tích. Cuối cùng tác giả đã đưa ra những biện pháp giải quyết trước mắt là: Hoàn
thành việc xây dựng quy hoạch tổng thể để đảm bảo cho công tác bảo vệ và phát
huy tác dụng di tích, phân cấp và quản lý di tích từ tỉnh - huyện - xã và các đơn
vị liên quan khác, tập chung giải quyết đồng bộ các giải pháp nhằm không ngừng
nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát huy tác dụng di tích.
16.
Trong cuốn “Côn Sơn - Kiếp Bạc di tích và danh thẳng ” của Đặng
Việt Cường, Sở văn hóa thông tin tỉnh Hải Dương, 2010. Tác giả đã đưa ra những
lưu bút của lãnh đạo Đảng, Nhà Nước với di tích danh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc
như: Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Đỗ Mười, Đại Tướng Võ Nguyên
Giáp... Sau đó tác giả đã tống quan về khu di tích LSVH Côn Sơn - Kiếp Bạc,
giới thiệu những danh nhân thờ tại Côn Sơn - Kiếp Bạc như: Trần Hưng Đạo,
Nguyên Từ Quốc Mầu, Phạm Ngũ Lão, Nguyên Thanh Công Chứa, Trần Nguyên
Đán, Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Huyền Quang. Cuối cùng tác giả đã giới
thiệu một số lễ hội truyền thống như: Lễ dâng văn tế Đức Thánh Trần, lễ ban ấn,
lễ rước bộ và hội quân trên sông Lục Đầu, lễ cầu an - hội hoa đăng, lễ hầu thánh
ngoài ra có một số trò chơi dân gian hội vật, múa hứng dừa, hội thi múa rối.
17.
Các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến các khía cạnh khác
nhau của di tích LSVH vấn đề vảo tồn, bảo vệ, phát huy các giá trị tại khu di tích.
Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập tới việc vận dụng quan
điếm toàn diện vào việc bảo vệ khu di tích LSVH Côn Sơn - Kiếp Bạc ở Hải
Đe ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sự vận dụng quan điếm
toàn diện vào việc bảo vệ khu di tích lịch sử văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc hiện
nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cún
21.
Đối tượng:
22.
Khóa luận tập trung nghiên cứu sự vận dụng quan điểm toàn diện
vào việc bảo vệ khu di tích lịch sử văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc ở Hải Dương
hiện nay.
23.
Phạm vi:
24.
Nghiên cứu về công tác bảo vệ khu di tích lịch sử văn hóa Côn
Sơn - Kiếp Bạc ở Hải Dương hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cún
25.
Đe tài vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, phương
phác, phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm.
30.
Thời cổ đại - phép biện chứng chất phác, do trình độ tư duy phát
triển chưa cao, khoa học chưa phát triển nên các nhà triết học lẫn phương Đông
và phương Tây chỉ dựa vào những quan sát trực tiếp để khái quát bức tranh
chung của thế giới. Ở phương Đông, nó được thể hiện rõ trong “thuyết âm dương
- ngũ hành”. Ở phương Tây dưới con mắt của Hêraclit, với câu nói nổi tiếng của
mình “Chúng ta không thế tắm hai lần trên cùng một dòng sông” [13, tr.49]. Song
phép biện chứng này thiếu đi những căn cứ khoa học. Vì thế nó đã bị phép siêu
hình xuất hiện và thay thế từ nửa cuối thế kỉ XV.
31.
Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn
thiện nhất trong triết học Hêghen một đại biểu xuất sắc của triết học cố điển Đức
ở cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX.Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của
ông thế hiện ở chỗ: Ông coi “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành vận động của giới tự
nhiên và xã hội cuối cùng trở về với chính mình trong tinh thần thế giới. Thực
chất phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen là phép biện chứng của ý
niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật. Phép biện chứng cố điển Đức cũng có
những đóng góp to lớn vào sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại,
thúc đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao. Nhưng với những hạn chế duy
tâm nó chưa trở thành cơ sở lý luận cho thế giới quan khoa học.
32.
Ke thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà triết học trước
của xã hội loài người và của tư duy ” [15, tr.201]. Trong hệ thống đó nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát
nhất trong phép biện chứng duy vật. Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận này
chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu về mối liên hệ phổ biến.
1.1.2.
Nguyên lý về mối liên hệ phố biến
* Khái niệm về môi liên hệ phố biển
34.
Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới cũng như câu hỏi được đặt
ra là: Các sự vật, hiện tượng và quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ
qua lại tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau?
Neu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định những mối liên hệ đó?.
35.
Trả lời cho câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu
hình cho rằng: Các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn
tại bên cạnh cái kia, giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc, quy định và
chuyến hóa lẫn nhau. Neu có chỉ là những liên hệ có tính ngẫu nhiên, bề ngoài.
Hạn chế của quan điểm siêu hình là sai lầm về thế giới quan triết học, dựng lên
ranh giới giữa các sự vật, hiện tượng. Hạn chế này có nguồn gốc từ phương pháp
tư duy siêu hình, nghiên cứu tách rời các lĩnh vực, bộ phận riêng rẽ của thế giới
gắn với trình độ tư duy khoa học còn ở giai đơạn sưu tập tài liệu phương pháp đó
phương pháp đó không có khả năng phát hiện ra cái chung, cái bản chất quy luật
của sự tồn tại vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới.
36.
39.
Các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan biểu hiện sự tồn
tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau. Bản chất tính
quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại
giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng với các sự vật hiện
tượng khác. Chúng ta chỉ có thế đánh giá sự tồn tại cũng như bản chất của một
con người cụ thế thông qua những mối liên hệ, sự tác động của con người đó đối
với người khác, đối với xã hội, tự nhiên, thông qua hoạt động của chính người ấy.
Ngay tri thức của con người cũng chỉ có giá trị khi chúng được con người vận
dụng vào hoạt động cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và cải biến chính con
người.
* Các tính chất của moi liên hệ
40.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, mối liên hệ phố biến có các
tính chất: Quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng mối liên hệ có ba
tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.
41.
Tính khách quan: Có thể khẳng định, mối liên hệ giữa các sự vật
hiện tượng là khách quan, vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của
thế giới. Biểu hiện trong tất cả các quá trình: Tự nhiên xã hội và tư duy sự vật,
hiện tượng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng khác.
Ngay cả sự thật vô chi, vô giác cũng đang hằng ngày, hằng giờ chịu sự tác động
Tỉnh đa dạng: Có thể phân chia các mối liên hệ đa dạng thành từng
loại tùy theo tính chất: Đơn giản hay phức tạp, phạm vi rộng hay hẹp, độ nông
hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp. Mà có thể khái quát thành những mối liên
hệ khác nhau tuỳ theo từng cặp: Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ hên ngoài,
mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ
không bản chất, mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên, mối liên hệ
chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ riêng bao quát một lĩnh vực hoặc
một số lĩnh vực của thế giới.. .Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận
động và phát triển của bản thân sự vật và hiện tượng quy định tính đa dạng của
mối liên hệ. Các mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới, được khái
quát trong các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng:
46. Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng.
47. Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên.
48. Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả.
49. Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng.
50. Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức.
51. Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực.
52.
Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây có vai trò khác nhau đối với
sự vận động và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại,
sự quy định, chuyển hóa lẫn nhau, giữa các yếu tố, các thuộc tính của các mặt sự
vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các mối liên
hệ khác nhau cũng có mối quan hệ biện chứng như mối liên hệ biện chứng của
các cặp mối liên hệ đã nêu trên.
53.
Từ việc nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ
phổ biến và về sự phát triển rút ra phương pháp luận khoa học đế nhận thức và
cải tạo hiện thực. Vì bất kì sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đề tồn tại trong
mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong
phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn
diện, tránh quan điếm phiến diện chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên
hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng. Trên cơ sở
quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn, quan
điểm toàn diện đặt ra yêu cầu cơ bản sau:
56.
Thứ nhất, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự
vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của
chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác kể cả
mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thế nhận
thức đúng về sự vật.
57.
Thứ hai, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt
từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất,
mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, ... đế hiếu rõ bản chất của sự vật và có
phương pháp tác động phù họp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động
của bản thân. Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng ta cần lưu ý tói
sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện xác định.
62.
Bản thân nguyên tắc lịch sử - cụ thể đòi hỏi trước hết chúng ta phải
xem xét phương pháp tư duy là tính lịch sử. Những phương pháp cơ bản của tư
duy biện chứng là kết quả của lịch sử quá trình nhận thức, của tư duy, đã thế hiện
ở việc con người đi sâu nhận thức thế giới và vận dụng phép biện chứng vào quá
trình tư duy của con người.
63.
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự
vật và tác động vào sự vật phải chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thế, môi
trường cụ thể, trong đó sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại và phát triển. Một luận
điểm nào đó trong điều kiện này là luận điểm khoa học nhưng sẽ không phải luận
điểm khoa học trong điều kiện khác. Trong lịch sử triết học khi xem xét các hệ
thống triết học bao giờ ta cũng phải xem xét hoàn cảnh ra đời và sự phát triển của
hệ thống đó.
64.
Đe xác định đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng,
của từng thời kì xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ
thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn
và từng thời kì lịch sử đó. Dĩ nhiên, trong khi thực hiện đường lối, chủ trương,
Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ
thể.
65.
Tích: Tàn tích, dấu vết
70.
Di tích là tàn tích dấu vết còn lại của quá khứ
71.
Theo từ điển tiếng việt thì di tích được định nghĩa như sau: “Lứ dấu
tích, dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lồng đất hoặc mặt đất, cỏ ỷ nghĩa về
mặt lịch sử, văn hóa” [20, tr. 22].
72.
Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
73.
Được gọi là di tích LSVH vì chúng được tạo ra bởi con người hoạt
động sáng tạo ra lịch sử, con người hoạt động văn hóa mà hình thành nên. Văn
hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
74.
Riêng về tên gọi, từ xa xưa nhiều nước trên thế giới đều đặt chung
cho di tích lịch sử văn hóa là dấu tích, dấu vết còn lại. Trong hiến chương Vonido
- Italia năm 1964 đưa ra khái niệm di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công
trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn là bằng chứng
của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến
cao đòi hỏi người khai thác phải có trình độ chuyên môn nhất định, cần đặc biệt
chú ý tới các hoạt động lễ hội ở khu di tích, “Việt Nam là nước có nhiều lê hội
mang ỷ nghĩa lịch sử truyền thống tốt đẹp hàng ngàn năm của nhân dân lao
động” [11, tr.7].
1.2.2.
Tiêu chí để xếp hạng di tích
78.
Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau:
79.
Thứ nhất: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với các sự kiện lịch
sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. Các di tích thuộc loại này
như: Đen Hùng, Thành cổ Loa, cố Đô Hoa Lư, Chùa Thiên Mụ...
80.
Thứ hai: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự
nghiệp anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước. Các di tích thuộc loại này như:
Khu di tích Kim Liên, khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Đen Đồng Nhân...
81.
Thứ ba: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu
biểu của các thời kì cách mạng kháng chiến. Các di tích thuộc loại này như: Khu
di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch sử cách mạng
Pác Bó...
Bó, quần thể di tích cố Đô Huế, Thánh điện Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long, ngày
10 tháng 5 năm 2012 khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đã được chính phủ công
nhận là di tích quốc gia đặc biệt. Đó là tiền đề để tiến tới lập hồ sơ đề nghị
UNESCO công nhận di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc là di sản văn hóa thế giới.
1.3.
Nội dung sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc bảo vệ khu di
88.
•
89.
1.3.1.
о•
•
•Öж
•
•
•
tích lịch sử văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc hiện nay
Bảo vệ khu di tích trong công tác quản lý, bảo tằn, tôn tạo và xây
dựng cơ sở hạ tầng
đồng... với giá trị lên tới hàng chục tỷ đồng.
1.1.3.2. Xây dụng cơ sở hạ tầng
90.
Cùng với việc tu bổ, tôn tạo các di tích, tôn tạo các công trình kiến
trúc văn hóa dân tộc, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng không gian di
tích đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện gần đây có 5km đường dải nhựa thuộc
nội bộ di tích Côn Sơn, các bãi đỗ xe, các công trình cấp nước sạch, công trình
đường điện sinh hoạt, nhà vệ sinh... ở Kiếp Bạc đã xây dựng hoàn chỉnh công
trình trạm bơm tiêu úng, trạm biến áp 180KVA và gần 10km đường dây tải điện
35kv, 2 bãi đỗ xe rộng. Nhiều công trình như khu trung tâm thương mại, hệ thông
khách sạn, nhà hàng có quy mô lớn, kiến trúc đẹp đã được xây dựng. Đen nay đã
có 6 đô thị mới với tổng diện tích gần 300ha, khu đô thị thị trấn Sao Đỏ với diện
tích 17,8 ha đã được xây dựng hoàn chỉnh. Các công trình nhà ở, khu dịch vụ
công cộng, khu trung tâm thương mại với cơ sở hạ tầng, kĩ thuật đồng bộ, bên
cạnh đó là du lịch, dịch vụ. Đặc biệt là bên quốc lộ 37 trên đường vào khu di tích
Côn Sơn - Kiếp Bạc là trung tâm văn hóa, thể thao, thương mại với diện tích hơn
66ha đã và đang được đầu tư xây dựng. Cùng với đầu tư xây dựng các khu đô thị
mới, hệ thống công trình hành chính và công trình công cộng, các công trình
phục vụ dân sinh như nhà văn hóa, sân vận động, khu vui chơi giải trí đều được
xây dựng, tạo ra mô hình kiến trúc khang trang và hiện đại. Hệ thống giao thông,
thông tin liên lạc, hệ thống điện, nước, hệ thống thoát nước. Đen nay 100% các
xã đều được cấp điện lưới ổn định. Hệ thống bưu điện được chú ý đầu tư xây
dựng trên địa bàn huyện, hệ thống truyền thanh, truyền hình, điện thoại phủ sóng
trên toàn huyện, hệ thống truyền thanh được tổ chức đến từng làng, xã, truyền
hình đã có 1 trạm thu phát kênh truyền hình Trung Ương. Hệ thống giáo dục
ngày càng được quan tâm, chất lượng giáo dục của huyện ngày càng cao, đầu tư
truyền bằng hệ thống băng zôn, khẩu hiệu, không chỉ vậy ban quản lý khu di tích
còn lập các trang điện tử để cung cấp những thông tin cho những ai quan tâm đến
di tích có thể tìm hiểu. Ban quản lý di tích đã phối hợp với các xã tại đây xây
dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt,
tổ chức thực hiện tổ chức cho công Đoàn thanh niên kết họp với Ban, kết hợp với
địa phương tuyên truyền, phát động các phong trào thi đua, bảo vệ, giữ gìn vệ
sinh, xây dựng nếp sống văn hóa tại di tích, tổ chức giao lưu, sinh hoạt văn hóa,
văn nghệ với các nhà trường, đoàn thể của địa phương... Nhờ đó mà ý thức, trách
nhiệm về việc bảo vệ và phát huy tác dụng di tích của người dân ngày càng được
nâng cao.
13.2.2. về văn hóa
92.
Cùng với phong cảnh kì thú, với các công trình có giá trị, khu di
tích LSVH Côn Sơn - Kiếp Bạc còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa phi vật thể rất
quý. Trong số đó trước hết phải kể đến các lễ hội truyền thống. Hằng năm, theo
lệ cổ vào ngày mất của Đức Thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương tức ngày 20 -8 âm
lịch, ngày viên tịch của Thiền Sư Huyền Quang tức ngày 22 tháng giêng âm lịch
nhân dân và phật tử gần xa đều nô nức hành hương về chay hội Côn Sơn - Kiếp
Bạc để tưởng niệm các bậc vĩ nhân. Nhiều hình thái văn hóa phi vật thể được bảo
lưu, trình diễn đặc sắc và hấp dẫn như: Te, rước bộ, hội quân, lễ cầu an, nhiều
hình thức sinh hoạt tín ngưỡng đáp ứng nhu cầu tâm linh: Cầu duyên, cầu tự, cầu
sinh con, cầu bình an, sức khỏe, cầu danh, cầu tài... mong được thần, Phật chứng
cho thỏa nguyện. Đó là thuần phong, mỹ tục lâu đời góp phần làm nên bản sắc
văn hóa đa dạng của cư dân đồng bằng Bắc bộ. Ban tổ chức lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc tiến hành tổ chức phục dựng thành công các nghi lễ diễn xướng truyền
thống như: Lễ rước nước, lễ mộc dục, lễ cúng đàn Mông Sơn, lễ ban ấn, lễ cầu an
- hội thả hoa đăng trên sông Lục Đầu, lễ hầu thánh... Lễ hội thả hoa đăng là một