Sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc đổi mới giáo dục và đào tạo ở việt nam hiện nay - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ GIANG

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN
DIỆN VÀO VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ HỒNG LOAN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè. Em xin bày tỏ lời cảm ơn
chân thành nhất tới TS. Trần Thị Hồng Loan- người cô đã tận tình hướng
dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục Chính trị đã
giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua.
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên đã góp ý và ủng hộ tôi hoàn thành
khóa luận này.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý
của quý thầy cô và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn.

2.2. Những hạn chế trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và nguyên nhân
của hạn chế đó ................................................................................................. 43
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐỔI MỚI GIÁO
DỤCVÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ VẬN
DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ............................................................. 53
3.1. Những định hướng chung ........................................................................ 53
3.2. Một số giải pháp đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay trên
cơ sở vận dụng quan điểm toàn diện ............................................................... 54
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 72


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
“… Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thế nước
mạnh và đi lên, nguyên khí suy thế nước yếu và đi xuống. Vì thế thánh đế
minh vương không ai không coi việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun
trồng nguyên khí là công việc hàng đầu”
(Trích văn bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3(1442)).
Ngay từ thời xa xưa, nền giáo dục đã được các nhà vua, chính quyền
hết sức quan tâm, chăm sóc và đã được đúc kết qua nhiều câu thơ, câu văn
mang tầm thời đại.
Đối với bất kì quốc gia nào và ở bất kì thời đại nào thì vấn đề tri thức
luôn là một vấn đề quan trọng, tri thức được coi là phương tiện để con người
nhận thức, khám phá và cải tạo thế giới, song tri thức không phải tự nhiên mà
có được, ngược lại đó là kết quả của một quá trình gian khổ học tập, trau dồi
kiến thức, và kỹ năng.
Năm 1945, trong bức thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường,
Bác Hồ cũng đã nhấn mạnh rằng: “…Non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp
hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang để sánh vai với các

góc độ khác nhau.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có nhiều bài viết, bài nói bàn
về vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo như tác phẩm “Về vấn đề
giáo dục”và những cây đại thụ trong làng giáo dục Việt Nam hiện đại như:
Giáo sư Văn Như Cương với bài nói trong báo Giáo dục và Thời đại,
chủ nhật số 20 năm 2008: “Giáo dục không thế phá đi rồi xây lại”.
Giáo sư Hoàng Tụy với bài viết: “Cải cách và chấn hưng giáo dục”
Hàng loạt tạp chí, các sách báo nghiên cứu về giáo dục và đào tạo Việt
Nam nói chung cũng như đề ra các giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo
2


như báo: giáo dục và thời đại, lí luận dạy học, tạp chí cộng sản….Đó là
những nguồn tư liệu quý báu cho bài khóa luận có thêm cơ sở vững chắc. Một
số công trình tiêu biểu như:
-50 năm phát triển giáo dục và đào tạo (1945-1995) của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995.
- Giáo sư Hoàng Tụy với bài viết: “Một số ý kiến về tình hình giáo dục
hiện nay” (phát triển giáo dục, 1/1997).
Nhìn tổng quát, các công trình nói trên, ở những phương diện và mức
độ khác nhau, đã có những đóng góp nhất định vào việc phát triển giáo dục và
đào tạo ở Việt Nam. Tuy nhiên, qua khảo sát tình hình nghiên cứu, tôi thấy
rằng, vấn đề đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay là một trong
những vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, phân tích
sâu sắc, toàn diện, có hệ thống, để từ đó có thể vận dụng một cách hiệu quả
vấn đề này vào thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích của khóa luận nhằm làm rõ sự vận dụng quan điểm toàn diện
vào việc đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam; từ đó, đưa ra một số giải

- Phương pháp lịch sử - cụ thể.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa….
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài chỉ rõ tính khoa học của quan điểm toàn diện và vận dụng quan
điểm đó vào sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay. Chỉ
ra thực trạng của nền giáo dục Việt Nam và đóng góp một số giải pháp cơ bản
nhằm góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương và 7 tiết.
4


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở triết học của quan điểm
toàn diện
1.1.1. Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
*) Khái quát về phép biện chứng duy vật:
Ăngghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng: “phép biện chứng
chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động
và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ phổ biến đối với sự
vật, hiện tượng khác. Phép biện chứng được manh nha từ thời cổ đại và từng
bước hoàn thiện trong quá trình phát triển của lịch sử triết học, phép biện
chứng có ba hình thức cơ bản là: phép biện chứng chất phác, phép biện chứng
duy tâm và phép biện chứng duy vật.
Thời cổ đại, trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển
nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính trực quan
cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới. Phép biện chứng chất phác
thể hiện rõ rệt trong “thuyết Âm - Dương”, “thuyết Ngũ hành” của triết học

khác phương pháp biện chứng của Hêghen về cơ bản, mà nó còn đối lập hẳn
với phương pháp ấy nữa. Theo Hêghen thì sự vận động của tư duy mà ông đặt
cho cái tên là ý niệm và biến nó thành một chủ thể độc lập, chính là chúa
sáng tạo ra giới hiện thực và giới hiện thực này chẳng qua chỉ là hiện tượng
bên ngoài của ý niệm mà thôi. Trái lại, theo tôi thì sự vận động của tư duy là
sự phản ánh sự vận động hiện thực,di chuyển và biến hình trong đầu óc con
người” [ 13; 27]. Nhờ đó, mà chủ nghĩa Mác mang giá trị to lớn đó là tính
phê phán đối với mọi quan điểm sai lầm, những quan điểm siêu hình, chủ
6


trương phản động. Một trong những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác là Đuyrinh Giáo sư môn cơ học người Đức, nhà triết học và kinh tế học. Ăngghen đã
phản đối và kịch liệt phê phán quan niệm của Đuyrinh trong cuốn sách :
“Chống Đuyrinh” chính trong tác phẩm này Ăngghen đã đưa ra định nghĩa
hoàn chỉnh về phép biện chứng “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa
học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên,
của xã hội và của tư duy” [1;29]
Sau này, cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ XX Lênin dã phát triển thêm
học thuyết của Mác - Ăngghen về phép biện chứng và chỉ rõ : “Có thể định
nghĩa vắn tắt phép biện chứng là sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế
người ta sẽ nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi
phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm” [11; 240]
Như vậy, đến Mác, Ăngghen, Lênin thế giới quan duy vật biện chứng
và phương pháp luận duy vật biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau trong
phép biện chứng ấy. Chính vì vậy nó đã khắc phục được những hạn chế của
phép biện chứng chất phác thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện
chứng duy tấm khách quan thời cận đại. Nó đã khái quát những quy luật cơ
bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới. Phép biện chứng
duy vât trở thành một khoa học và là hình thức phát triển cao nhất, hoàn bị
nhất trong lịch sử phép biện chứng.

con người riêng lẻ tạo thành xã hội đứng yên không vận động” [3; 208].
Ngược lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng: các sự
vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác
động qua lại. Chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ như vấn đề bảo vệ môi trường
không chỉ là việc làm của một quốc gia mà đó là việc làm chung của toàn
nhân loại vì tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay gây ảnh hưởng đến tất cả
mọi người.
8


Thứ hai: nếu chúng có mối quan hệ qua lại thì cái gì quy định mối quan
hệ đó?
Những người theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm
khách quan cho rằng: cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau,
giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu nhiên hay ở ý thức, cảm giác
của con người. Đứng trên quan điểm duy tâm khách quan chỉ ra rằng “Ý niệm
tuyệt đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng.
Những người theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng
định: tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giứa các sự
vật hiện tượng. Các sự vât hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng,
phong phú, có khác nhau bao nhiêu song chúng cũng chỉ khác nhau của một
thế giới duy nhất, thống nhất - thế giới vật chất. Do tính thống nhất nên chúng
không thể tồn tại biệt lập nhau mà trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn
nhau. Chẳng hạn: “Giới vô cơ và giới hữu cơ không có mối liên hệ gì với
nhau, tồn tại độc lập, không thâm nhập lẫn nhau, tổng số đơn giản của những
con người riêng lẻ tạo thành những quan hệ xác định”.Trên cơ sở đó, triết
học duy vật biện chứng khẳng định: mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để
chịu sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật,
hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới biểu hiện sự tồn tại của mình

tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân. Không chỉ chịu sự tác
động của tự nhiên như các sự vật khác, con người còn tiếp nhận sự tác động
của xã hội, của những người khác. Chính con người và chỉ có con người mới
tiếp nhận vô vàn quan hệ, mối liên hệ chằng chịt. Vấn đề là con người phải
hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình giải quyết
các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của xã hội và bản
thân con người.
10


- Tính phổ biến.
Không chỉ mang tính khách quan, mối liên hệ còn mang tính phổ biến.
Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
Thứ nhất: bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với các sự vật,
hiện tượng khác, không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.
Trong thời đại ngày nay, không có một quốc gia nào không có quan hệ, không
có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội. Chính vì thế,
hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa
mọi mặt đời sống xã hội. Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu
như: đói nghèo, bệnh tật, chất lượng giáo dục….
Thứ hai: mọi liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể
tùy theo điều kiện nhất định. Song dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ là
biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất. Những hình thức liên hệ
riêng rẽ, cụ thể được các nhà khoa học cụ thể nghiên cứu. Phép biện chứng
duy vật chỉ nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất,bao quát nhất của thế
giới. Bởi thế, Ph.Ăngghen đã viết: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên
hệ phổ biến” [1; 455]. Cùng với những lý do trên, triết học gọi mối liên hệ đó
là mối liên hệ phổ biến. Nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện
tượng trong thế giới còn thấy rõ tính đa dạng, nhiều vẻ của nó.
Trái lại những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng: các sự

động và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự
quy định chuyển hóa lẫn nhau, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của
một sự vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là
các cặp mối liên hệ khác nhau cũng có quan hệ biện chứng giống như mối
liên hệ biện chứng của các cặp mối liên hệ đã nêu trên. Mối liên hệ này nói
chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển

12


của sự vật, hiện tượng. Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới
có thể tác động đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng. .
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối. Vì mỗi loại
mối liên hệ chỉ là một hình thứ, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ.
Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể nghiên cứu chuyển hóa lẫn nhau
tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên sự phân chia đó lại rất cần thiết bởi vì
mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn, khi xem xét bốn lĩnh vực như đức,
trí, thể , mỹ là những lĩnh vực khác nhau thì mối liên hệ qua lại giữa chúng
với nhau là mối liên hệ bên ngoài. Nhưng nếu chúng ta coi chúng là bốn lĩnh
vực cơ bản của công tác giáo dục trong nhà trường nhằm hình thành và phát
triển cho người học nhân cách, đạo đức, xây dựng con người mới thì những
mối liên hệ giữa chúng với nhau lại trở thành mối liên hệ bên trong. Con
người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp,
nhằm đưa ra kết quả cao nhất trong hoạt động của bản thân.
Tuy sự phân chia thành các mối liên hệ chỉ mang tính chất tương đối
nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, vì mỗi loại mối liên hệ lại có những
vị trí và vai trò khác nhau trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện
tượng. Con người phải biết nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có những cách

Mối liên hệ biểu hiện dưới nhiều hình thức riêng biệt cụ thể tùy theo
những điều kiện nhất định. Song dù dưới hình thức nào thì cũng chỉ là biểu
hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất những hình thức liên hệ riêng
rẽ, cụ thể được các nhà khoa học nghiên cứu phép biện chứng duy vật. Những
mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới được Ăngghen viết: “Phép
biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”. Mặt khác, triết học gọi mối
liên hệ đó là mối liên hệ phổ biến. Nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của
14


các sự vật, hiện tượng trong thế giới cần nhận thức rõ về tính đa dạng, nhiều
vẻ của nó.
Trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi hoạt động nhận
thức và thực tiễn, quan điểm toàn ra đặt ra các yêu cầu cụ thể như sau:
Một là: Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật, hiện
tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các mặt của
chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật
khác. Cần tránh quan điểm phiến diện, chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một
hay một vài mối liên hệ đã vội vàng đi đến kết luận về bản chất sự vật, như
Lênin từng nói: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần nhìn bao quát và nghiên
cứu tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”[11; 26]. Chỉ
trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
Hai là: quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng
mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất,
mối liên hệ chủ yếu … để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác
động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân
mình. Chúng ta phải xem xét thấu đáo và phân biệt từng mối liên hệ, trách
cách xem xét lan man, liệt kê dẫn đến sự đánh đồng ngang nhau những thuộc
tính, những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng khác nhau được
thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó, cần phải đi từ tri thức nhiều,

tư duy biện chứng là kết quả của quá trình lịch sử nhận thức, lịch sử tư duy,
đã thế hiện ở việc con người đi sâu nhận thức thế giới và vận dụng phép biện
chứng vào quá trình tư duy của con người. Phương pháp tư duy là sản phẩm
của thời đại lịch sử nó được hình thành và phát triển trong những điều kiện
lịch sử nhất định. Khoa học về tư duy cũng như các khoa học khác là khoa
học về sự phát triển lịch sử của tư duy. Phương pháp tư duy của con người đã
trải qua một quá trình phát sinh và phát triển, trải qua một quá trình từ thấp
16


đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Có thể phân chia sự phát triển phương
pháp tư duy của con người thành bốn giai đoạn sau:
Phương pháp tư duy nguyên thủy.
Phương pháp biện chứng chất phác thời cổ đại.
Phương pháp tư duy cận đại.
Phương pháp biện chứng hiện đại.
Những phương pháp đó, tạo thành một hệ thống phương pháp dựa vào
nhau và phân biệt với nhau. Tính lịch sử, tính thời đại của phương pháp tư
duy của con người chứng tỏ không có tư duy lý luận vĩnh hằng, không có
phương pháp tư duy cứng nhắc không thay đổi. Trong lịch sử nhận thức, lịch
sử tư duy của con người phương pháp tư duy mới được hình thành trên cơ sở
khắc phục những mâu thuẫn của phương pháp tư duy cũ.
Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi:
Thứ nhất: khi phân tích, xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong
điều kiện không gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tích xem những
điều kiện không gian ấy có ảnh hưởng như thế nào đến tính chất, đặc điểm
của sự vật, hiện tượng.
Thứ hai, khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa học nào đó
cần phải phân tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lý luận đó.
Thứ ba, khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến

thủ công là chính sang lao động tự động hóa. Chẳng hạn, trước kia công nhân
làm trong một nhà xưởng trước kia phải sử dụng lao động chân tay là chính
nhưng hiện nay công nghệ phát triển chỉ cần một người có thể điều khiển cả
một dây chuyền sản xuất. Và như một hệ quả tất yếu, khoa học - công nghệ
phát triển đã tác động không nhỏ đến giáo dục và đào tạo. Cùng với những

18


giờ học truyền thống “phấn trắng bảng đen” thì người học dần được làm quen
với những giờ học thú vị với những minh họa sinh động trên máy chiếu.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển,
vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợi
của mỗi quốc gia, dân tộc. Cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt,
việc này đòi hỏi mỗi nước phải đổi mới khoa học - công nghệ để làm tăng
năng suất lao động, phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi quốc gia, dân tộc dều xem
sự phát triển của giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của sự phát triển
kinh tế - xã hội, ưu tiên cho phát triển giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh cải cách
giáo dục và đào tạo nhằm dành được ưu thế cạnh tranh trong khu vực và trên
thế giới. Đồng thời, quá trìh toàn cầu hóa cũng chứa đựng nguy cơ chảy máu
chất xám ở các nước đang phát triển khi mà các nhân lực ưu tú có nhiều khả
năng bị thu hút sang các nước phát triển. Do đó cùng với những thời cơ do
quá trình hợp tác đem lại cuộc cạnh tranh trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã
đặt các nước chậm phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam phải
đứng trước những thách thức đòi hỏi Việt Nam phải vươn lên để khẳng định
mình với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Bước sang thập kỉ đầu thế kỷ XXI, nhân loại đang phải đối mặt với rất
nhiều mâu thuẫn, thử thách: vừa hội nhập phụ thuộc lẫn nhau, vừa đấu tranh
để giữ gìn độc lập dân tộc và bản sắc văn hóa của dân tộc. tình trạng bùng nổ
dân số, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên… đang đe dọa tới mục tiêu

điểm xa xôi, cách trở và khó tiếp cận hoặc chỉ giới hạn với một số người.
Giáo dục từ xa đã trở thành một thế mạnh của thời đại, tạo nên một nền giáo
dục mở, thích ứng với nhu cầu học của từng người. Đây là hình thức giáo dục
ở mọi lúc, mọi nơi và cho mọi người, trở thành giải pháp hiệu quả nhất để đáp
ứng các yêu cầu ngày càng tăng của giáo dục. Sự phát triển của các phương
tiện truyền thông, mạng viễn thông, công nghệ tin học tao thuận lợi cho việc
20


giao lưu và hội nhập văn hóa, nhưng cũng tạo điều kiện cho sự du nhập những
giá trị của các nước, ở mỗi quốc gia đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để
bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và ngăn chặn những yếu tố có ảnh hưởng đến
an ninh quốc gia, dân tộc.
Nhìn chung, xu thế của thời đại ngày nay là xu thế đi lên, tiếp cận dần
với mục tiêu giải phóng con người, làm cho mọi năng lực của con người có
điều kiện phát triển tối đa nhưng nó phải khắc phục, vượt xa xu thế độc tôn,
độc quyền sở hữu trí tuệ, sở hữu năng lực người phải nhân văn và tiến bộ.
Như vậy,bối cảnh thế giới vừa tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển và hoàn thiện dần của nền giáo dục và đào tạo Việt Nam. Mặt khác,
cũng tạo ra những thách thức không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
nước ta. Điều quan trọng là chúng ta phải có cái nhìn đúng đắn, đề ra những
chủ trương, chiến lược, sách lược phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam
hiện nay và thích ứng với xu thế của nhân loại.
1.2.2. Tình hình trong nước
Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, chúng ta đang mở rộng cánh cửa để hợp tác và hội nhập với
các nước trong khu vực và trên thế giới về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta cần đổi mới toàn diện
về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…để dần đưa nước ta thoát khỏi nghèo
nàn và rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status