3
LỜI CẢM ƠN
Luận văn khoa học này được hoàn thành với sự cố gắng học hỏi, tìm tòi
nghiên cứu của bản thân cùng với sự tận tình giảng dạy của các thầy, cô giáo
tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội và nhiều nhà khoa
học ở các cơ quan nghiên cứu và quản lý trong ngành giáo dục.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, các cô và TS. Phạm Văn Thuần
đã tận tâm hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà
Nội, đã quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bản thân tác giả được học
tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, chuyên viên cơ quan Văn phòng Sở
Giáo dục và Đào tạo; các anh, các chị và các bạn đồng nghiệp ở các trường
Phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã động viên, cộng tác
và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập; điều tra, nghiên cứu,
kiểm chứng kết quả nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Luận văn được hoàn thành còn có sự giúp đỡ động viên của các bạn
đồng nghiệp, của những người thân trong gia đình.
Tác giả xin được tri ân mọi tấm lòng và mong muốn nhận được sự góp
ý, bổ sung để việc nghiên cứu của tác giả hoàn thiện hơn./.
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2014
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thắm
4
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
vii
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỐ THÔNG DÂN TỘC NỘI
TRÚ ĐÁP ỨNGYÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
6
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
6
1.1.1 Các nước trên thế giới
6
1.1.2. Tại Việt Nam
8
1.2. Một số khái niệm căn bản của đề tài
12
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
12
1.2.2. Giáo viên
1.4.4. Kiểm tra, đánh giá và sàng lọc đội ngũ giáo viên
30
1.4.5. Môi trường và chính sách đãi ngộ đội ngũ giáo viên
31
1.5. Yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên trường phổ thông dân tộc
nội trú đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo 31
1.5.1. Xu hướng đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT Việt Nam
31
1.5.2. Định hướng chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đến năm
2020
33
1.5.3. Phát triển đội ngũ giáo viên các trường PT DTNT bảo đảm yêu
cầu đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn về chất lượng 35
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên các
trường phổ thông dân tộc nội trú đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục
đào tạo 36
1.6.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục -
đào tạo
2.2.1. Quy mô phát triển
42
7
2.2.2. Chất lượng giáo dục
44
2.2.3. Cơ sở vật chất, thiết bị
45
2.3. Thực trạng đội ngũ giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội
trú tỉnh Điện Biên 47
2.3.1. Số lượng
47
2.3.2. Chất lượng
48
2.3.3. Về cơ cấu
55
2.4. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường phổ thông dân
tộc nội trú Tỉnh Điện Biên 57
2.4.1. Thực trạng xây dựng quy hoạch phát triển giáo viên các trường
PTDTNT tỉnh Điện Biên
Chương 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC
TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH ĐIỆN BIÊN
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
75
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
75
8
3.2. Định hướng phát triển đội ngũ giáo viên các trường PTDTNT
tỉnh Điện Biên 76
3.2.1. Định hướng phát triển đội ngũ giáo viên tỉnh Điện Biên
76
3.2.2. Phát triển đội ngũ giáo viên trường PTDTNT đảm bảo tính dân tộc
77
3.2.3. Phát triển đội ngũ CBQL trường PT DTNT đảm bảo yêu cầu
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh miền núi 78
3.3. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường phổ thông dân
tộc nội trú Tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và
đào tạo
103
1. Kết luận
103
2. Khuyến nghị
104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
108
PHỤ LỤC
111
9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Quy mô các Trường Phổ thông DTNT cấp THPT tỉnh
Điện Biên qua 05 năm thành lập và phát triển
43
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh sau 05 năm (năm
học 2008-2009 và 2013-2014) 44
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại học lực học sinh sau 05 năm
44
Bảng 2.4: Thống kê cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học năm học
2013-2014
56
Bảng 2.12: Bảng tổng hợp khảo sát về thực trạng phát triển
ĐNGV các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Điện Biên 57
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm các giải pháp phát triển đội ngũ nh
à
giáo công tác tại các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Điện Biên 100 10
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1. Tổng hợp về trình độ đào tạo của ĐNGV tính đến
tháng 05/2014 48
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ đánh giá, xếp loại giáo viên tính đến tháng 5/2014
51
Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành
Nghị quyết "Về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế", với mục tiêu tổng quát: "Tạo chuyển biến căn bản,
mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn
công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục
con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng
sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm
việc hiệu quả. Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt,
quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học
tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ
hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục
Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực".
Cũng trong Nghị quyết này, Đảng ta nhấn mạnh "Đổi mới mạnh mẽ mục
tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết
quả học tập, rèn luyện của giáo viên theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách
nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp".
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tỉnh Điện Biên đã
có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những thành quả to lớn. Hệ thống
trường, lớp các cấp học liên tục được mở mới và phủ khắp toàn tỉnh. Quy mô
học sinh, giáo viên không ngừng tăng qua các năm. Chất lượng giáo dục từng
bước ổn định và nâng cao. Thực hiện nghiêm túc đổi mới chương trình giáo
dục phổ thông, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, phân luồng
học sinh sau THCS và THPT đạt hiệu quả. Ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong dạy học từng bước được đẩy mạnh. Tỷ lệ học sinh thi đỗ
12
vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp tăng hàng năm,
đạt từ 12 - 15% và có xu hướng tăng cao.
đất Điện Biên Phủ anh hùng. Không những thế, mỗi thầy cô giáo còn có trách
nhiệm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng và tham gia
rộng rãi các hoạt động ngoài nhà trường.
Tuy nhiên, chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên ở các trường
Phổ thông dân tộc nội trú Điện Biên không đồng đều, giáo viên ở vùng thấp,
vùng có điều kiện thuận lợi chất lượng chuyên môn tốt; Ở vùng sâu, vùng xa,
vùng khó khăn tuy đã có nhiều cố gắng để đáp ứng yêu cầu về chất lượng
nhưng vẫn còn một bộ phận giáo viên đào tạo không chính quy và một số giáo
viên mới ra trường chất lượng còn hạn chế. Phương pháp giảng dạy, nội dung
và quy trình kiểm tra đánh giá chưa phù hợp với đối tượng, chưa đáp ứng
được yêu cầu đổi mới giáo dục. Sự hiểu biết về văn hóa vùng miền, dân tộc
còn hạn chế. Một bộ phận giáo viên do sức ép của yêu cầu nâng cao chất
lượng giáo dục và những biến động của xã hội đã có biểu hiện suy giảm lòng
yêu nghề, tinh thần trách nhiệm và có mong muốn chuyển ngành.
Để đáp ứng yêu cầu giáo dục trong tình hình mới, đội ngũ giáo viên các
trường phổ thông DTNT cần phải được đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực giáo dục, năng lực sư phạm
Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài "Phát triển đội ngũ giáo viên các trường
phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục và đào tạo" mong muốn góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên các trường
phổ thông dân tộc nội trú nói riêng, Tỉnh Điện Biên nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường phổ
thông dân tộc nội trú Tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và
đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân
tộc nội trú nói riêng và chất lượng giáo dục toàn Tỉnh Điện Biên nói chung.
14
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên
7.
Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các lý luận về quản lý giáo dục; Chỉ thị, Nghị quyết của
Đảng, Nhà nước, Ngành giáo dục và các tài liệu khoa học có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích thực trạng phát triển đội
ngũ giáo viên đang công tác tại các trường Phổ thông dân tộc nội trú trên địa
bàn Tỉnh Điện Biên.
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo Sở, điều tra bằng phiếu
hỏi đối với Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên các trường Phổ thông dân
tộc nội trú trên địa bàn Tỉnh Điện Biên.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia về công tác tổ
chức cán bộ và các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục bậc phổ thông.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu:
Dùng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và
các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên các trường phổ
thông dân tộc nội trú trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường phổ thông
dân tộc nội trú Tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường phổ thông
dân tộc nội trú Tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
tranh” đã tạo lên một Singapore phát triển thành một nước có cơ sở hạ tầng và
một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới như:
cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến
và lắp ráp máy móc. Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính
điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển
17
quá cảnh hàng đầu ở châu Á và là quốc gia rất thành công trong việc xây
dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và là một trong những quốc gia có
hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu Châu Á nơi thu hút hàng ngàn du học
sinh quốc tế đến học tập mỗi năm.
Nhật Bản là cường quốc ở châu Á, là quốc gia đã tạo nên hiện tượng
phát triển thần kỳ về kinh tế từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX, nay là quốc
gia đứng hàng thứ 3 thế giới về tiềm lực kinh tế, đất nước này đã coi giáo dục
như là biện pháp chiến lược hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội. Họ đề ra
“bộ ba chiến lược”: Giáo dục - Khoa học - Chính sách mở cửa, mà mục tiêu
rất quan trọng là phấn đấu trở thành một cường quốc xuất khẩu hàng gia công
có hàm lượng chất xám cao.
Tại Mêhicô - một nước công nghiệp mới (NIC), trong bản thỏa thuận
quốc gia về hiện đại hóa nền giáo dục đã viết: “Giáo dục là lĩnh vực quyết
định đối với tương lai của một quốc gia. Hoạt động giáo dục của Chính phủ và
xã hội là một trong những ưu tiên lớn nhất của chúng ta…” [32].
Thực tế đã có rất nhiều quốc gia trên thế giới coi phát triển giáo dục là
vấn đề trọng tâm và việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề được đặt lên
hàng đầu
Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada … đã thành
lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo
viên tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ.
Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên, cán bộ
để thực hiện được sứ mệnh đó, Giáo dục - Đào tạo phải nhanh chóng thoát
khỏi tình trạng lạc hậu, yếu kém hiện nay; phải theo kịp với trình độ, xu thế
phát triển, hội nhập của khu vực và thế giới, nhất là phải đáp ứng được nhu
cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
19
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ nhiệm vụ “đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo” nước ta, nhằm mục tiêu xây dựng
một nền giáo dục phát triển cao năng lực con người, thể hiện ở những thành
tựu về khoa học - công nghệ thông tin - truyền thông, sự phát triển tri thức và
xu thế toàn cầu hóa sâu rộng.
Thực tiễn và lý luận giáo dục đã khẳng định rằng: Một trong những giải
pháp quan trọng bậc nhất để nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là để đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục nước ta là công tác xây dựng đội ngũ giáo viên.
“Công tác xây dựng đội ngũ giáo viên phải được xem là giải pháp cốt lõi,
quan trọng nhất vì chính đội ngũ này quyết định sự thành bại của việc đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục” [4].
Các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục - đào tạo đã
được thể hiện trong Hiến pháp 1992, Luật Giáo dục 2005, các Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Kết luận hội
nghị Trung ương 6 (khóa IX) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX, X, XI.
Nói về đội ngũ giáo viên, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định:
- Từ lâu, nghề dạy học đã được đánh giá là một trong những nghề cao
quý nhất và giáo viên luôn được xã hội tôn vinh. Giáo viên và cán bộ quản lý
là lực lượng có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên là nhiệm vụ của các cấp
116/2010/NĐ-CP về chế độ chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo
dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn, tại các văn bản trên đã đề ra những chế độ chính sách như: chế độ phụ
cấp thu hút, phụ cấp nước sạch, hỗ trợ chi phí học tập những chính sách này đã
phần nào giúp các giáo viên nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định kinh tế để
chuyên tâm vào công việc giảng dạy và giáo dục.
Bên cạnh đó, ngành giáo dục và đào tạo Điện Biên cũng đã có những
giải pháp tích cực để nâng cao và phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản
21
lý giáo dục như: Chương trình phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Điện Biên
giai đoạn 2010-2020, Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Điện Biên, giai đoạn 2013-2020”
Tuy nhiên tất cả những chính sách hỗ trợ hay Chương trình, Đề án trên
mới chỉ để cập đến đội ngũ giáo viên nói chung mà chưa có bất kỳ một chế độ
chính sách nào giành riêng cho việc phát triển đội ngũ giáo viên công tác tại
các trường phổ thông dân tộc nội trú - một môi trường giáo dục đặc thù - hoàn
toàn khác biệt với các trường phổ thông nói chung.
Tại một số trường Đại học, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan
đến chuyên ngành QLGD mà tiêu biểu là Luận án tiến sỹ “Những biện pháp
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở các tỉnh Tây Nguyên
đáp ứng mục tiêu phổ cập GD trung học cơ sở” của tác giả Nguyễn Sỹ Thư
(2005). Tại luận án này, tác giả đã làm phong phú thêm cơ sở lý luận về chất
lượng đội ngũ giáo viên, phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên cấp THCS ở
Tây Nguyên theo các nhiệm vụ của phổ cập GD cấp THCS qua đó đã đề
xuất các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cấp THCS ở Tây
Nguyên đáp ứng yêu cầu phổ cập GD cấp THCS.
Bên cạnh đó còn có một số luận văn thạc sỹ của các học viên đã đề cập
đến vấn đề phát triển đổi ngũ giáo viên các trường THPT như: “Phát triển đội
ngũ giáo viên ở trường THPT chuyên tỉnh Vĩnh Phúc” (Vũ Thị Kim Tuyến –
dân tộc nội trú Tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào
tạo" nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên công tác tại các trường
PTDTNT nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục toàn ngành nói chung
đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1. Quản lý
Quản lý: Trong từ điển tiếng Việt “quản lý” là tổ chức điều khiển hoạt
động của một số đơn vị, một cơ quan [41].
Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xưa cho đến nay, có 3 yếu tố
cơ bản là: nền tảng tri thức, sức lao động và quản lý. Trong đó, quản lý là sự
23
kết hợp giữa tri thức với sức lao động. Khái niệm quản lý đã xuất hiện từ lâu
và ngày càng hoàn thiện cùng với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội
loài người.
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “quản lý”. Dưới đây là một
số quan niệm chủ yếu.
Theo Henri Fayol (1841-1925), người Pháp, ông là người đặt nền móng
cho lý luận tổ chức cổ điển cho rằng: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức,
chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Đây là khái niệm mang tính khái quát về chức
năng quản lý.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ
chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [36].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [8].
Rất nhiều tác giả với nhiều định nghĩa về quản lý tùy theo cách tiếp cận
dưới các góc độ khác nhau như: góc độ tổ chức, quản lý, hành động…
phát triển không ngừng. Để đạt được mục đích đó, quản lý được coi là nhân tố
tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên.
Ở cấp vĩ mô (quản lý một nền giáo dục): “Quản lý giáo dục được hiểu là
những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp
quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao
nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và
hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho
ngành Giáo dục” [26].
Khái niệm này cũng có nghĩa tương ứng với khái niệm quản lý một nền
giáo dục (hệ thống quản lý giáo dục), ở cấp độ này nó là một hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân
nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực thực hiện mục
tiêu phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu kinh tế, xã hội của quốc gia.
25
Ở cấp độ vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem
đồng nghĩa với quản lý nhà trường: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống
những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục,
đến con người (Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực
(cơ sở vật chất, tài chính, thông tin v.v…), đến các ảnh hưởng ngoài nhà
trường một cách hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật kinh tế, quy luật giáo
dục, quy luật tâm lý, quy luật xã hội v.v…) nhằm thực hiện có chất lượng và
hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [24].
Quản lý giáo dục bao gồm 4 yếu tố, đó là: chủ thể quản lý (trên cơ sở
phương pháp và công cụ), đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý),
khách thể quản lý và mục tiêu quản lý.
Trong thực tiễn, các yếu tố nêu trên không tách rời nhau mà ngược lại
chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau. Chủ thể quản lý tạo ra những tác
nhân thông qua các phương pháp và các công cụ tác động lên đối tượng quản
lý, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý
ổn định và phát triển lâu dài, vì mục tiêu và lợi ích của hệ thống.
Đặc trưng cơ bản của quản lý là tính tác động có chủ định và khả năng
làm tăng tính ổn định, tính tổ chức của hệ thống.
Qua các định nghĩa của các tác giả trong nước, ngoài nước chúng ta thấy
thuật ngữ “quản lý” (từ Việt gốc Hán) có thể hiểu: bao gồm hai quá trình tích hợp
vào nhau: quá trình “quản” và quá trình “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc,
giữ gìn để duy trì hệ (tổ chức) ở trạng thái ổn định. Quá trình “lý” gồm sự sắp xếp,
sửa sang, đổi mới để đưa hệ vào thế phát triển. Nếu người điều hành tổ chức chỉ lo
coi sóc giữ gìn (quản) thì hệ sẽ trì trệ; nếu chỉ quan tâm đến việc sắp xếp tổ chức,
đổi mới (lý) mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của hệ sẽ
không bền vững. Người đứng đầu phải luôn luôn chú ý: trong “quản” phải có “lý”,
trong “lý” phải có “quản” để tổ chức vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả
trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.
27
Tóm lại, từ những khái niệm nêu trên về quản lý giáo dục cho ta thấy bản
chất đặc thù của hoạt động quản lý giáo dục chính là sự hoạt động có mục
đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo
những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo
dục đạt tới kết quả mong muốn.
1.2.2. Giáo viên
Theo quan niệm thông thường: trong cuộc sống, nhiều người dùng cụm
từ “giáo viên”, “thầy giáo”, “thầy”… với cùng một nghĩa để chỉ những người
dạy văn hoá, truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho một người khác.
Câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” có từ xa xưa và vẫn truyền đến ngày nay là
theo nghĩa này. Cách nói này thể hiện sự tôn trọng với những người đem lại
kiến thức, kỹ năng mới cho người khác (dù ít, dù nhiều).
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, 2002) thì “Giáo viên là người
làm nghề dạy học”. Trong từ “Giáo viên” thì từ “giáo” có nghĩa là dạy, chỉ
bảo; từ “nhà” được hiểu là người chuyên làm một nghề, một lĩnh vực hoạt