Khoá luận tốt nghiệp sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc xóa đói giảm nghèo ở tỉnh ninh bình hiện nay - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁỎ DỤC CHỈNH TRỊ

===£oClo3===

TRÀN THỊ TRANG

Sự VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO VIỆC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH NINH BÌNH HIỆN
NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

• • • •

Chuyên ngành: Triết học

Nguxri hướng dẫn khoa học ThS. NGUYEN
THỊ GIANG

HÀ NỘI – 2015

LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòi cảm ơn chân thành sâu sắc đến cô giáo Th.s Nguyễn Thị Giang đã tận
tình chỉ bảo giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này. Em cũng xin cảm ơn các thầy cô trong


trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, đặc biệt là có thầy cô khoa giáo dục chính trị đã dạy dỗ và
giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Và em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện cũng như giúp đỡ em
hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Do thời gian có hạn cũng như hạn chế kiến thức của bản thân nên khóa luận không tránh
khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý , chỉ bảo của thầy cô và các bạn quan tâm

thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lóp trong xã hội.
Việt Nam là một nước đang phát triến lựa chọn đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa. Với mục tiêu phấn đấu là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn
minh. Dân có giàu thì nước mới mạnh, xã hội mới tiến bộ được.Sau gần 30 năm đổi
mới, đất nước ta đã có những thành quả vô cùng to lớn, kinh tế tăng trưởng khá
nhanh, nhìn chung đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đời sống tinh thần ngày
càng được quan tâm. vấnđề xóa đói, giảm nghèo cũng được Việt Nam hết sức coi
trọng, đầu tư rất nhiều tiền của cho các chương trình xóa đói, giảm nghèo như
chương trình 133, 135,... Các chương trình xóa đói, giảm nghèo này đã đạt được
những hiệu quả to lớn như số hộ nghèo đói giảm nhanh, người nghèo vươn lên làm
giàu ngày càng nhiều. Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá là nước vượt trội
trong xóa đói, giảm nghèo...Nhưng kết quả xóa đói, giảm nghèo thời gian qua ở
nước ta vẫn chưa thật vững chắc hiện tượng thoát nghèo lại tái nghèo vẫn diễn ra. Có
những nơi đời sống nhân dân vẫn gặp nhiều khó khăn, không chỉ ở các vùng sâu,
vùng xa mà ngay cả các tỉnh đồng bằng, hiện tượng đói nghèo vẫn diễn ra. Nó không
chỉ là thách thức cần giải quyết của các cơ quan trung ương mà còn cả các cấp chính
quyền địa phương phải quan tâm. Như vậy, giải quyết vấn đề đói nghèo là điều cấp
bách cần làm hiện nay.
Ninh Bình là một tỉnh còn khá nghèo ở miền Bắc, thu nhập bình quân đầu
người còn thấp chỉ 25 triệu đồng/người/năm (năm 2011) thấp hơn mức thu nhập bình
quân chung của đồng bằng sông Hồng. Đời sống của người dân trong tỉnh gặp khó
nhiều khó khăn, thiên tai thường xuyên xảy ra nên vấn đề đói nghèo cũng diễn ra


phức tạp trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, nhờ có sự quan tâm của các cấp chính quyền
từ trung ương đến địa phương, vấn đề xoá đói, giảm nghèo của tỉnh đã thu được
những kết quả khả quan từ 12,83% năm 2007 xuống còn 6,87% năm 2009. Song
nhìn chung vấn đề này vẫn còn rất nhiều bất cập, trong việc cụ thể hoá từ chính sách
đến thực tiễn đời sống. Nhận thức của người nhân dân vẫn còn hạn chế, xoá đói,
giảm nghèo của tỉnh cần phải được quan tâm hơn nữa. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Sự

những bài báo cáo khoa học tại hội thảo phân hóa giàu nghèo trong quá trình tăng
trưởng kinh tế ở một số nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Các báo cáo tập
trung phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phân hóa giàu nghèo, phân
tích xu hướng, nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo cũng như những chính sách
giải quyết vấn đề này nhằm từng bước cải thiện mức sống, xóa đói, giảm nghèo.
Ngoài ra còn một số bài báo, bài viết về xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình: Tạp chí cộng sản (14/6/2010), Xoả đói, giảm nghèo ở Ninh Bình, “khi chí
đã quyết, lòng đã đồng”. Bài báo nghiên cứu về thành quả xóa đói, giảm nghèo của

tỉnh ủy Ninh Bình trong giai đoạn 2006-2010.
Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo
cả về lí luận và thực tiễn. Tuy nhiên các tác giả trên chỉ nghiên cứu xóa đói, giảm
nghèo trên giác độ kinh tế, giác độ xã hội nhưng chưa có tác công trình nghiên cứu
nào đề cập đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Ninh Bình trên giác độ triết học. Vì
vậy, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài nghiên cứu xóa đói, giảm nghèo trên giác độ triết học
cụ thể là vận dụng quan điểm toàn diện vào giải quyết vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở
Ninh Bình hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đíchnghỉên cứu đề tài
Đe tài nghiên cứu sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc xóa đói, giảm
nghèo ở Ninh Bình hiện nay; từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm xóa đói, giảm
nghèo hiệu quả ở Ninh Bình.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích quan điếm toàn diện trong triết học Mác-Lênin và các quan niệm
vềxóa đói, giảm nghèo.


Nghiên cứu thực trạngđói nghèo ở tỉnh Ninh Bình và rút ra nguyên nhân dẫn
đến đói, nghèo của tỉnh.


l.l.lNội dung của moi liên hệ phố biến


Thế giới được tạo ra từ những sự vật, hiện tượng, những quá trình khác nhau.
Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại với nhau ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn
tại tách rời, biệt lập nhau? Neu chúng tồn tại trong sự liên hệ qua lại, thì nhân tố gì
quyết định sự liên hệ đó.
Trả lời cho câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng
các sự vật, hiện tượng, tồn tại một cách tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái
kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không có sự rằng buộc lẫn nhau, có chăng
chỉ là những mối liên hệ hời hợt bên ngoài mang tính ngẫu nhiên.Ngược lại, những
người theo quan điếm biện chứng coi thế giới như một chỉnh thế thống nhất. Các sự
vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự
liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau.
Khi trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm tìm cơ sở của
sự liên hệ, tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng của các lực lượng tự nhiên
hay ở ý thức, ở cảm giác của con người.Những người theo quan điểm duy vật biện
chứng thì khẳng định rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng là
tính thống nhất vật chất của thế giới. Theo quan điếm này, các sự vật, hiện tượng trên
thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là
dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả tư
tưởng, ý thức của con người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của
một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của chúng cũng chỉ là
kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan.Theo quan điểm duy vật biện
chứng, mối liên hệ tồn tại một cách phổ biến cả tự nhiên, xã hội và tư duy. Mối liên
hệ phổ biến mang tính chất bao quát, nó tồn tại thông qua những mối liên hệ đặc thù
của sự vật, nó phản ánh tính đa dạng và tính thống nhất của thế giới.
1.1.2Tính chất của mối liên hệ phổ biến
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất

không gian và thời gian cụ thể.
1.1.3 Các quan điểm rút ra từ mối liên hệ phổ biến
1.1.3.1 Nguyên tắc quan điếm toàn diện theo chủ nghĩa Mác - Lênỉn


Từ việc nguyên cứu nguyên lí về mối liên hệ phố biến các sự vật và hiện
tượng chúng ta rút ra quan điếm toàn diện trong việc nhận thức, xem xét các sự vật,
hiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn.Với tư cách là một nguyên tắc
phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật và hiện tượng, quan điểm toàn
diện đòi hỏi để có nhận thức đúng về sự vật, chúng ta phải xem xét nó:
Một là, trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc

tính khác nhau của sự vật đó.
Hai là, trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác (kế cả trực tiếp

hay gián tiếp), cần tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một hoặc
một vài mối liên hệ đã vội vàng đi đến những kết luận về bản chất của sự vật.
Đe cập hai nội dung vừa nêu trong phương pháp về nhận thức sự vật, Lênin
viết: “Đe thực sự hiểu được sự vật, cần phải bao quát và nghiên cứu các mặt, tất cả
các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”[19, tr.364].Hơn thế nữa, quan
điểm toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong
mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người.ứng với mỗi con người, mỗi thời
đại, mỗi hoàn cảnh cụ thể nhất định con người bao giờ cũng chỉ phản ánh một số
lượng hữu hạn những mối liên hệ. Bởi vậy tri thức đạt về sự vật cũng chỉ là tương
đối, không đầy đủ, không trọn vẹn.Ý thức được điều đó chúng ta sẽ tránh được việc
tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng và trách xem đó là những
chân lí bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển. Đe nhận thức
được sự vật, chúng ta “cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng
ta khỏi phạm sai lầm và cứng nhắc” [19, tr.364].
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, không chỉ ở chỗ nó

“đánh tráo” có dụng ý biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, không bản chất thành
bản chất hoặc ngược lại, phản ánh sai lệch, xuyên tạc sự vật, hiện tượng. Cả chủ
nghĩa chiết trung lẫn thuật ngụy biện đều là những biếu hiện khác nhau của phương


pháp luận sai lẩm trong việc xem xét các sự vật và hiện tượng. Vì vậy, quan điểm
toàn diện cũng đòi hỏi tránh rơi vào sai lầm của chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy
biện.
1.1.3.2 Nguyên tắc lịch sử cụ thế Quan
điểm lịch sử - cụ thể có 3 yêu cầu:
Thứ nhất, khi phân tích xem xét, cải biến sự vật phải đặt nó trong điều kiện

không gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tích xem những điều kiện không
gian ấy có ảnh hưởng như thế nào đến tính chất, đặc điểm của sự vật. phải phân tích
cụ thế mọi tình hình ảnh hưởng đến sự vật.
Thứ hai, khi nghiên cứu một lí luận, một luận điểm khoa học nào đó cần phân

tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lí luận đó. Có như vậy mới đánh giá
đúng giá trị và hạn chế của lí luận đó.
Thứ ba, khi vận dụng một lí luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến điều kiện

cụ thể của nơi được vận dụng.
1.2 Các quan niệm về đói nghèo và tiêu chuẩn xác định đói nghèo

1.2.1

Quan niệm về đói nghèo trên thế giới

Đói nghèo luôn luôn là nỗi ám ảnh thường trực của loài người. Nó đáng sợ
hơn cả thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh. Bởi vì các cuộc chiến tranh dù tàn khốc đến

Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu
tối thiểu.
Sự nghèo khổ cực độ nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thoả
mãn những nhu cầu tối thiếu.
Sự nghèo khố chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định
như sự không có khả năng những nhu cầu lương thực và phí lương thực chủ yếu,
những nhu cầu này đòi hỏi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác.
Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tố chức tại Băng Cốc Thái
Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: “Đói nghèo là tình


trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của
con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và
phong tục tập quán của địa phương”. Theo định nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở
các nước khác nhau là khác nhau. Theo số liệu của ngân hàng thế giới thì hiện nay
có khoảng 1,3 tỷ người trên thế giới sống dưới mức độ nghèo đói, trong đó chủ yếu
là phụ nữ và trẻ em.
1.2.2 Tiêu chỉ xác định nghèo đói của các tố chức trên thế giới
Tiêu chí đánh giá mức độ nghèo đói của các quốc gia được ngân hàng thế giới
đưa ra như sau:
Thứ nhất, dựa trên mức thu nhập quốc gia (GDP) tính theo đầu người sẽ có 6

loại nước giàu nghèo khác nhau (theo thu nhập 1990)
Loại thứ nhất là các nước cực giàu trên 25000 USD/ năm Loại thứ
hai là các nước giàu từ 20000 đến 25000 USD/năm Loại thứ ba là
các nước khá giàu từ 10000 đến 20000 USD/năm Loại thứ tư là
các nước trung bình từ 2500 đến 10000 USD/ năm Loại thứ năm là
các nước nghèo từ 500 đến 2500 USD/ năm Loại thứ sáu là các
nước cực nghèo dưới 500 USD/năm
Tại đại hội lần 2 của uỷ ban nghèo khổ khu vực ESCAP họp tại Băng Cốc

quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể
của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội
cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Khái niệm về hộ đói:YỈỘ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối

thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác
đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và
thiếu khả năng trả nợ.
Khái niệm về hộ nghèo:HỘ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả

mãn một phần nhu cầu tối thiếu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống
trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
1.2.4

Tiêu chí xác định đói nghèo ở Việt Nam
Ngoài cách xác định theo mức hưởng thụ calo do bữa ăn mang lại hàng ngày

qui đổi ra thu nhập của Ngân hàng thế giới thì các nhà nghiên cứu và các cơ quan


quản lí nhà nước có liên hoan đã nêu ra các mức xác định chuấn mực đói nghèo khác
nhau, điển hình là cách xác định của Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội.
Năm 1993 theo Tổng cục Thống kê lấy mức tiêu dùng là 2100 calo nếu quy
đối tương đương với lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm theo giá phù họp với
từng thời điểm, từng địa phương thì người dân Việt Nam phải có mức thu nhập bình
quân tối thiểu là 50000 đồng/người/tháng ở vùng nông thôn và 70000 đồng đối với
khu vực thành thị, để làm ranh giới xác định giữa người giàu và người nghèo.
Theo cách tính này thì mức thu nhập bình quân đầu người ở các hộ khu vực nông
thôn như sau:

Miền núi phía Bắc

923,3

34,1

Đồng bằng sông Hồng

482,1

14

Bắc trung bộ

833,8

38,6

Duyên hải miền Trung

555,7

31,9

Tây Nguyên

257,5

36,1


(giảm 1,8% so với cuối năm 2012), tỷ lệ hộ cận nghèo 6,32% (giảm 0,25% so với
cuối năm 2012) [31, tr. 21].
1.3 Quan niệm về xóa đói, giám nghèo ở Việt Nam

Nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ mà Đảng ta hết sức coi trọng vì
nó không chỉ là vấn đề mang tính cấp bách về kinh tế mà còn mang tính xã hội,
chính trị sâu sắc. Muốn xóa đói, giảm nghèo thì phải ổn định về chính trị vì có ổn
định về chính trị thì mới có điều kiện phát triển kinh tế, mới xóa đói và giảm được
nghèo. Đảng ta xác định xóa đói, giảm nghèo một cách toàn diện trên trên tất cả các
mặt của đời sống xã hội từ chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế... Ngay từ khi mới thành
lập nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhà nước ta đã rất quan tâm đến xóa đói,
giảm nghèo. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ chỉ đạo đó là chống
giặc đói. Xóa đói, giảm nghèo trở thành một chính sách trong hệ thống chính sách xã
hội của nước ta lần đầu tiên vào năm 1998. Trong các văn kiện của Đảng, vấn đề xóa


đói, giảm nghèo được đề cập nhiều lần. Đảng khẳng định “khuyến khích làm giàu
hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đôi với chăm lo xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp
dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng căn cứ cách
mạng và kháng chiến cũ, các gia đình thuộc diện chính sách, làm cho mọi người,
mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ai cũng có việc làm, có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành và chữa bệnh, từng bước thực hiện điều Chủ tịch Hồ
Chí Minh hằng mong ước” [7, tr.31 ].
Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) đã đề ra chủ trương xóa đói giảm
nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng như
trong chiến lược phát triến chung của xã hội và đã trở thành một chủ trương chiến
lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng đặcbiệt
của công tác xóa đói giảm nghèo. Chính thức xác định xóa đói, giảm nghèo là một
trong những chương trình quốc gia.Từ đó, đề ra Chương trình quốc gia về xóa đói

nước, Ngân hàng thương mại...và đặc biệt là từ chính bản thân người nghèo. Phối
họp nhiều phương thức hỗ trợ người nghèo như hỗ trợ người nghèo trong vay vốn tín
dụng ưu đãi, hỗ trợ về nhà ở, hỗ trợ về cung cấp và tạo điều kiện duy trì với các loại
dịch vụ, hỗ trợ giao đất, giao rừng; về đào tạo nguồn nhân lực...Đồng thời khắc phục
những hạn chế như: Các chương trình giảm nghèo triến khai chưa toàn diện, nhiều
chính sách, chương trình giảm nghèo được ban hành nhưng còn mang tình ngắn hạn,
chồng chéo, nguồn lực cho giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, lại bị phân tán, dàn
trải, thiếu giải pháp cụ thể gắn kết việc thực hiện chính sách giảm nghèo với chính
sách an sinh xã hội, việc phối hợp chỉ đạo thực hiện giữa các bộ, ngành, địa phương
chưa chặt chẽ, hiệu quả... [5, tr.59]


Với những giải pháp đồng bộ như vậy, sẽ đảm bảo tính khả thi trong việc thực
hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn
2011-2015.
1.4 Vận dụng quan điểm toàn diện vào xoá đói, giảm nghèo ở Ninh Bình

Xóa đói, giảm nghèo là một mục tiêu tất yếu của quá trình tiến lên Chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Chính vì vậy xóa đói, giảm nghèo trở thành một trong những vấn đề cần được
quan tâm đặc biệt nhất là sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền từ trung
ương đến địa phương phải coi trách nhiệm của toàn xã hội, Nhà nước và người dân
đều phải chia sẻ trách nhiệm để thực hiện, cái gì dân làm được thì tạo điều kiện để
dân làm. Xóa đói, giảm nghèo phải toàn diện để nhằm tiến đến xóa bỏ hoàn toàn
toàn đói nghèo. Vận dụng quan điểm toàn diện vào xóa đói, giảm nghèo hiện nay ở
tỉnh Ninh Bình là phải kết hợp tất cả các mặt của đời sốngxã hội, quan tâm đến đời
sống không chỉ vật chất mà cả tinh thần của người nghèo. Xóa đói, giảm nghèo bằng
các biện pháp phải kết hợp đồng bộ từ chính trị, kinh tế, giáo dục đào tạo, y tế, công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát công tác xóa đói,
giảm nghèo.... Với quan điểm đó trong những năm tới cần tập trung những nhiệm vụ

Bốn là, tỉnh cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực

cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo. Tố chức tích cực hơn hoạt động truyền
thông, giám sát, đánh giá về thực trạng nghèo đói và việc thực hiện các chính sách,
chương trình, dự án về xóa đói, giảm nghèo. Đối mới nội dung, biện pháp để tuyên
truyền, giáo dục phù hợp với trình độ, hiểu biết của nhân dân. Thường xuyên kiếm
tra, đánh giá và hướng dẫn thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo.
Với những giải pháp chỉ đạo trên, cùng quyết tâm của các cấp, các ngành; sự
nỗ lực cố gắng của bản thân người nghèo; sự chung tay, chung sức của toàn xã hội,...
tin tưởng rằng công cuộc xóa đói, giảm nghèo của tỉnh sẽ thành công trong những
năm tiếp theo.
Chương 2
THỰC TRẠNG XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN


TỈNH NINH BÌNH
2.1 Khái quát về địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình

2.1.1

Vị trí đia lý và điều kiện tự nhiên
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc và khu vực đồng

bằng Bắc Bộ, Việt Nam. Vùng đất này từng là kinh đô của Việt Nam ở thế kỷ X, là
địa bàn quan trọng về quân sự qua các thời kỳ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Tây Sơn.
Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa, Ninh Bình là tỉnh có
tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng[12]. Ninh Bình được ví như một Việt Nam
thu nhỏ[23].
Ninh Bình nằm ở vị trí ranh giới 3 khu vực địa lý: Tây Bắc, châu thố sông
Hồng và Bắc Trung Bộ. Tỉnh này cũng nằm giữa 3 vùng kinh tế: vùng Hà Nội, vùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status