LUẬN VĂN:Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Phú Thọ hiện nay pot - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở
tỉnh Phú Thọ hiện nay

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi nói đến những thảm họa khốc liệt người ta thường nghĩ ngay đến "thiên tai,
địch họa". Nhưng có lẽ không có một cuộc chiến tranh tàn khốc, một thảm họa thiên
nhiên dữ dội nào lại gây ra cho con người một nỗi đau dai dẳng, một sự tàn phá to lớn
như nạn nghèo khổ đang diễn ra một cách thầm lặng trên thế giới.
Ngày nay có khoảng 1/4 dân số thế giới (tương đương 1,5 tỷ người) đang sống

Thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo của tỉnh còn cao.
Vì vậy thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đang là vấn đề cấp bách
đặt ra cho tỉnh trong tiến trình hội nhập và phát triển. Chính điều này đã làm cho việc
nghiên cứu vấn đề XĐGN trở nên cấp thiết và tác giả đã chọn "Vấn đề xóa đói giảm
nghèo ở tỉnh Phú Thọ hiện nay" làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề XĐGN đã được nghiên cứu trên phạm vi cả nước, cũng như ở một số
tỉnh. ở tỉnh Phú Thọ hiện cũng đã có hai đề tài:
Đề tài thứ nhất: "Những giải pháp về quản lý nhằm xóa đói giảm nghèo ở nông
thôn Phú Thọ hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Hải.
Đề tài thứ hai: "Phát triển kinh tế với việc xóa đói giảm nghèo ở huyện Thanh
Sơn - Phú Thọ" của tác giả Sa Thị Quyết.
ở đề tài thứ nhất, tác giả nghiên cứu vấn đề dưới giác độ quản lý kinh tế để từ đó
đưa ra những giải pháp về quản lý nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo ở khu vực nông
thôn của tỉnh.
Còn ở đề tài thứ hai, chủ yếu tác giả đề cập vấn đề XĐGN kết hợp với phát triển
kinh tế trên phạm vi một huyện.
Việc đề cập vấn đề XĐGN dưới góc độ kinh tế chính trị, chỉ ra được những đặc
trưng nghèo đói của Phú Thọ, và từ đó nêu lên những giải pháp kinh tế xã hội để giải
quyết vấn đề đói nghèo thì chưa được đề cập đến.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích: Luận văn làm rõ thực trạng và nguyên nhân của tình trạng đói nghèo
của tỉnh Phú Thọ, đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu XĐGN của tỉnh
hiện nay.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Trình bày một số những quan niệm về nghèo đói một cách có hệ thống và
phân tích sự cần thiết khách quan phải thực hiện việc XĐGN, đồng thời nêu ra một số

Chương 1
Quan niệm về đói nghèo
và sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

1.1. Quan niệm về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo
1.1.1. Quan niệm về đói nghèo
Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều nấc thang của lịch sử, tương ứng
với mỗi nấc thang đó là một trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Bằng hoạt động
lao động sáng tạo, con người - chủ thể của lịch sử xã hội - đã sử dụng lực lượng sản xuất
hiện có để tác động vào giới tự nhiên nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình. Trình độ
lực lượng sản xuất càng phát triển, năng suất lao động xã hội càng cao thì nhu cầu đáp
ứng ngày càng nhiều, càng phong phú. Ngược lại, năng suất lao động xã hội thấp kém,
trình độ lực lượng sản xuất lạc hậu, thì con người không thể đáp ứng được những nhu
cầu thiết yếu của mình như: ăn, mặc, ở, đi lại và bị rơi vào tình trạng đói nghèo.
1.1.1.1. Bản chất của đói nghèo
Trong các xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, đói
nghèo có nguyên nhân chủ yếu và trước hết là do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp
kém, sản phẩm thặng dư trong xã hội không nhiều. Dưới xã hội phân chia giai cấp thì
còn thêm vào đó là tình trạng áp bức giai cấp, nên quyền phân phối sản phẩm lao động
làm ra thuộc về một số ít người - về tay giai cấp thống trị. Xã hội phân chia thành hai
cực đối lập, trong đó "kẻ ăn chẳng hết, người lần không ra".
Bước sang xã hội tư bản chủ nghĩa gắn liền với nền sản xuất lớn và nền đại
công nghiệp hiện đại, đã tạo ra một năng suất lao động cao hơn hẳn các xã hội trước và
với một lực lượng sản xuất khổng lồ "bằng tất cả các thế hệ trước cộng lại", đã mở ra
khả năng to lớn để con người có thể đáp ứng được các nhu cầu phát triển của mình. Tuy
nhiên, do sự phân hóa và áp bức giai cấp, do sự khác biệt về năng lực và cơ hội của các


Để làm rõ nguyên nhân của hiện tượng nghèo đói và sự bần cùng của giai cấp
vô sản, Mác và Ăngghen đã đi vào lý giải vấn đề tiền công trong xã hội tư bản.
Theo Mác, tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động,
tiền công gồm có tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế. Tiền công danh nghĩa là số
tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền
công được sử dụng để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, do đó tiền công danh nghĩa
phải được chuyển thành tiền công thực tế.
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu
tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của
mình. Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hóa sức lao động, nó có thể tăng lên hay
giảm xuống tùy theo sự biến động trong quan hệ cung cầu về hàng hóa sức lao động trên
thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng
giá cả tư liệu tiêu dùng dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế giảm
xuống hay tăng lên.
Mác còn chỉ rõ: tính qui luật của sự vận động của tiền công trong chủ nghĩa tư
bản là: trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công danh nghĩa có xu
hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không theo kịp với mức tăng giá cả tư
liệu tiêu dùng và dịch vụ, khi đó tiền công thực tế của giai cấp công nhân có xu hướng
hạ thấp. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự bần cùng của giai cấp vô sản.
Như vậy, theo Mác và Ăngghen, nghèo đói của giai cấp vô sản trong xã hội tư
bản có nguyên nhân trực tiếp từ sự phân phối thu nhập của sản xuất xã hội qua tiền công
và phân phối giá trị thặng dư trên thị trường.
Trong các chế độ tư hữu và bóc lột thống trị, nghèo khổ, đối kháng giai cấp và
phân cực xã hội là những hiện tượng luôn đi liền nhau trong một tất yếu nhân quả hữu
cơ không thể tách rời. Nó thuộc về bản chất kinh tế chính trị - xã hội của phương thức
sản xuất đó. Chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay nhờ lợi dụng được những thành quả của
cách mạng khoa học - công nghệ, sớm áp dụng những biện pháp điều chỉnh và cải cách
trong quản lý nên đã đạt được những bước tiến lớn trong sản xuất, tăng trưởng kinh tế,

đã dẫn đến sự khác nhau về kết quả lao động có ích mà họ cống hiến cho xã hội, và do
đó khác nhau về thu nhập do kết quả lao động đó mang lại.
Trong chủ nghĩa xã hội, giàu, nghèo vẫn còn tồn tại, nhất là trong cơ chế thị
trường, bình đẳng và công bằng xã hội là tương đối chứ không phải là tuyệt đối, là
hướng tới ngày một thụ hưởng đầy đủ hơn những giá trị ấy, chứ không phải đã có ngay
những giá trị ấy ngay một lúc, nhất là khi chủ nghĩa xã hội mới phát sinh chứ chưa ở
trình độ thành thục, phát triển. Như vậy, nghèo đói là một vấn đề kinh tế - xã hội chứ
không đơn thuần chỉ là vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, các thước đo để đánh giá ai nghèo, ai
giàu lại chủ yếu và trước hết dựa trên thước đo về kinh tế.
1.1.1.2. Những chỉ tiêu được lượng hóa để xác định đói nghèo của các tổ
chức quốc tế
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra chỉ tiêu đánh giá độ giàu, nghèo bằng mức thu
nhập quốc gia (GDP) tính theo đầu người, và chia thế giới làm 6 loại nước giàu nghèo
khác nhau (theo mức thu nhập 1990).
Trên 25.000 USD/năm là nước cực giàu;
Từ 20.000 USD đến dưới 25.000 USD/năm là nước giàu;
Từ 10.000 USD đến dưới 20.000 USD/năm là nước khá giàu;
Từ 2.500 USD đến dưới 10.000 USD/năm là nước trung bình;
Từ 500 USD đến dưới 2.500 USD/năm là nước nghèo;
Dưới 500 USD/năm là nước cực nghèo.
Tại Đại hội lần thứ hai của ủy ban giảm nghèo khổ khu vực ESCAP họp tại
Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9 năm 1995, Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn mực nghèo
khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới 370 USD/người/năm.
Dựa vào phương pháp sử dụng rộng rãi tại các nước phát triển trong khu vực,
căn cứ vào mức thu nhập tối thiểu là 2100 calo/ngày/người trong đó 70% chi cho ăn,
còn lại 30% chi cho các nhu cầu khác ngoài lương thực thực phẩm như mặc, ở, chữa
bệnh, văn hóa, đi lại Dựa vào chuẩn mực này và căn cứ vào số liệu điều tra mức sống Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thường trực không có khả
năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế một bộ phận lớn
dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung
bình của cộng đồng tại địa phương.
Như thế, sự thiếu thốn "của cải" trong mối quan hệ với nhu cầu thiết yếu của
con người được xem là nghèo khổ tuyệt đối. Còn khi xem xét thực trạng mức sống và vị
trí (về kinh tế và xã hội) các nhóm hoặc các các nhân khác ở phương diện mức độ tiêu
thụ và thu nhập của họ về cơ hội tiếp cận các nguồn lực sẽ cho ta quan niệm về nghèo
tương đối.
Ngoài ra, Liên Hợp quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá mức sống của con
người bao gồm cả thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người, thành tựu y tế - xã
hội và trình độ văn hóa giáo dục, tổng hợp lại là chỉ số phát triển con người - Human
Development Index (gọi tắt là HDI).
HDI bao gồm ba yếu tố cơ bản của sự phát triển con người: tuổi thọ, trình độ và
mức sống. Tuổi thọ được phản ánh bằng số năm sống trung bình của người dân. Trình
độ được đo bằng cách kết hợp tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành (với trọng số là 2/3
của chỉ số trình độ) với số năm đi học trung bình của mỗi người (với trọng số tương ứng
là 1/3). Mức sống được đo lường theo mức GDP thực tế bình quân đầu người tính theo
sức mua tương đương (PPP) của mỗi quốc gia. Theo số liệu của UNDP, HDI của nước
ta năm 1998 là 0,671 đứng thứ 108; các nước có chỉ số phát triển con người cao là từ
0,801 trở lên, còn mức trung bình là từ 0,506 đến 0,797; dưới 0,506 là các nước có chỉ
số phát triển con người thấp. Chỉ số này cao nhất là 1. Năm 1989 nước có chỉ số cao
nhất là Canađa đạt 0,935.
Sự kết hợp giữa chỉ tiêu HDI và chỉ tiêu GDP/ người như đã nêu ở trên cho
phép chúng ta đánh giá, nhận diện nghèo đói một cách khách quan và chính xác hơn.
Đói nghèo còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là thời gian, không gian, môi

Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời
sống trung bình của phổ biến dân cự hiện nay, có thể xác lập chỉ tiêu đánh giá đói nghèo
theo những tiêu thức chính sau đây: Thu nhập; nhà ở và tiện nghi sinh hoạt; tư liệu sản
xuất; vốn để dành.
Trong bốn chỉ tiêu này, thì chỉ tiêu thu nhập và nhà ở phản ánh trực tiếp mức
sống hay mức độ thực hiện các nhu cầu cơ bản tối thiểu của đời sống. Hai chỉ tiêu sau:
tư liệu sản xuất và vốn để dành cho thấy rõ thêm tình cảnh thật sự của người nghèo và
các hộ đói nghèo. ở đây chúng ta sẽ đi vào nội dung cụ thể của các chỉ tiêu.
Chỉ tiêu về thu nhập:
Căn cứ vào chỉ tiêu thu nhập, coi đó là chỉ tiêu cơ bản để phản ánh mức sống
của người dân, có thể chia đói nghèo thành hai ngưỡng cụ thể là đói và nghèo.
Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu và thu nhập không
đảm bảo về nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm đứt
bữa, thiếu ăn từ 1 đến 3 tháng, phải đi vay nợ và thiếu khả năng trả nợ. Đói được chia làm
hai loại, là thiếu đói và đói gay gắt.
Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư không có điều kiện thỏa mãn một phần
các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của
cộng đồng địa phương đang xét trên mọi phương diện, nghèo được chia làm hai loại:
nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ba nhu cầu thiết yếu là ăn, mặc, ở; năm
nhu cầu sinh hoạt hàng ngày là văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại,
giao tiếp.
Nhu cầu tối thiểu: là những đảm bảo tối thiểu của cuộc sống con người bao gồm
ăn, mặc, ở và những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Thu nhập của người dân trước hết sẽ được dành cho các nhu cầu cơ bản tối
thiểu. Và theo đời sống trung bình của dân cư trước năm 1995, cơ cấu sử dụng các
nguồn thu nhập cho các nhu cầu tối thiểu cho 1 người

cao. Đã không ít trường hợp phải gán ruộng vườn, bán sản phẩm chưa thu hoạch, đi làm
thuê hoặc bỏ quê ra thành phố kiếm kế sinh nhai.
Đó là bốn chỉ tiêu căn bản để xác định giới hạn nghèo đói ở Việt Nam. Tuy
nhiên, để phù hợp với mức sống, tập quán và thực trạng đói nghèo ở nước ta hiện nay,
đồng thời vẫn dựa trên cách tính về cơ cấu sử dụng nêu trên, từ năm 1995 Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn mực giới hạn nghèo đói ở Việt Nam như sau:
Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau
không có tiền chữa trị, nhà ở rách nát, nếu theo thu nhập thì các hộ này có thu nhập
qui đổi ra gạo bình quân đầu người dưới 13 kg/tháng.
Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành
và không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất thu nhập bình quân dầu người
của loại hộ này qui ra gạo dưới 25kg/tháng ở thành thị, 20kg/tháng ở nông thôn đồng bằng
và trung du, và dưới 15 kg/tháng ở nông thôn miền núi.
Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo đói, không có hoặc rất thiếu
những cơ sở hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.
Vùng (vệt) nghèo là chỉ những địa bàn tương đối rộng, nằm ở trong những khu
vực khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận lợi, có tỷ trọng xã nghèo, hộ nghèo cao.
Từ năm 1997, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn mực đói
nghèo được xác định theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ/ tháng được quy
ra gạo và tiền tương ứng cụ thể là:
Hộ đói: có thu nhập dưới 13 kg gạo, tương ứng với 45.000 đ (cho tất cả các
vùng).
Hộ nghèo theo ba vùng, có mức thu nhập như sau:
- Dưới 15 kg gạo, tương ứng với 70.000 đồng ở vùng nông thôn, đồng bằng,
trung du.
- Dưới 25 kg gạo, tương ứng với 90.000 đồng ở vùng thành thị.
Trong thực tế, ở Việt Nam vẫn tồn tại một bộ phận dân cư ở tình trạng thiếu ăn,
Dựa vào 12 chỉ tiêu xác định ở từng mặt nói trên có thể phân loại các hộ nghèo
như sau:
Hộ nghèo: có 5 chỉ tiêu về ăn, mặc, ở dưới chuẩn mực
Hộ rất nghèo: có trên 5 chỉ tiêu dưới chuẩn mực.
Những chỉ tiêu này là sự lượng hóa cụ thể từ chỉ tiêu chung về hộ nghèo đã
được phân tích ở trên.
1.1.2. Nguyên nhân của đói nghèo
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội, nó vừa là vấn đề lịch sử để lại,
vừa là vấn đề phát triển mà hầu hết các quốc gia đều vấp phải. Nó đụng chạm trực tiếp
đến cuộc sống của con người, từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng xã hội. Mỗi quốc gia,
ở các mức độ phát triển khác nhau, đều phải quan tâm giải quyết vấn đề đói nghèo để
vượt qua những trở ngại của sự phát triển nhằm tới sự phồn thịnh về kinh tế và từng
bước đạt tới công bằng xã hội.
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu trung lại,
nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau đây:
Thứ nhất, do người nghèo không có khả năng và cơ hội để tiếp cận và kiểm
soát các nguồn lực sản xuất.
Các nguồn lực sản xuất chủ yếu hiện nay có thể kể đến như vốn, đất đai, khoa
học công nghệ song tất cả những thứ đó người nghèo đều không có hoặc rất hạn chế
về khả năng tiếp cận. Một số người trong số họ có thể có sức lao động, nhưng họ sẽ
không thể biến sức lao động đó thành nguồn lực, nếu không tiếp cận được với các nguồn
lực khác như vốn, đất đai, khoa học công nghệ, tức là họ không có việc làm.
ở một phạm vi nào đó, theo quan sát thực tiễn của các nhóm chuyên gia nghiên
cứu về Việt Nam, đói nghèo do thiếu tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực là khá phổ
biến.
Theo Công ty ADUKI - "Vấn đề nghèo ở Việt Nam", thì người nghèo ở Việt Nam
là: "Những người không có khả năng tiếp cận hoặc kiểm soát các nguồn lực xã hội, kinh tế


nước công nghiệp già đi nhanh chóng. Dân số tăng nhanh ở các nước đang phát triển
dẫn đến thu nhập bình quân đầu người giảm, đồng thời tạo ra áp lực rất gay gắt về việc
làm và làm nhức nhối những vấn đề xã hội. Nghèo đói ở các nước công nghiệp phát
triển chủ yếu do thất nghiệp gây ra. Còn nghèo đói ở các nước đang phát triển do rất
nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân trực tiếp là dân số tăng nhanh. Trên thế
giới không có nơi đâu có tỷ lệ tăng dân số cao mà vẫn giảm được tỷ lệ nghèo đói. Do đó,
các nước đang phát triển chỉ có thể giảm nghèo đói bằng cách giảm tỷ lệ sinh.
Rơnê Đuy Mông trong "Một thế giới không thể chấp nhận được" đã cảnh báo
các nước đang phát triển về sự bùng nổ dân số, về sự luẩn quẩn giữa đói nghèo - lạc hậu
- dân số tăng nhanh. Theo ông thì: " Chính nhà nước phải có trách nhiệm đối với cộng
đồng là đánh giá tài nguyên của mình về đất, nước, rừng, về khoáng sản, về khoảng
không gian còn rỗi rãi, những hy vọng tiến bộ thật sự và từ đó định ra những tỷ lệ hợp lý
về tăng số dân để bảo đảm cho mỗi người một cuộc sống kha khá hơn là để một ngày
nào đó lại phải dùng những biện pháp cưỡng bức" [25, 104].
Thứ ba, do trình độ giáo dục thấp.
Số dân đông, lại nghèo đói, do đó ngân sách chi cho giáo dục và y tế thấp đó là lôgíc
vận động của hiện thực. Khi mức chi cho giáo dục và y tế thấp cộng thêm thu nhập thấp tại
các nước nghèo thì chỉ số phát triển nhân lực luôn ở cuối bảng xếp hạng của UNDP. Cố
nhiên, những tiêu thức về lượng không thể phản ánh đầy đủ cả về chất của sự vật, song
trên giác độ của vấn đề nghèo, đói thì lượng lại phản ánh đúng bản chất của vấn đề. Vì ở
các nước này luôn diễn ra tình trạng thiếu các chuyên gia đầu ngành, thiếu lao động lành
nghề có kỹ thuật, trình độ khoa học công nghệ lạc hậu, do đó sẽ dẫn đến năng suất lao
động thấp và cứ như vậy cái vòng luẩn quẩn của đói, nghèo sẽ kìm hãm sự mở rộng phát triển
sự nghiệp giáo dục đào tạo và do đó kìm hãm sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội. Do đó, tạo
ra được đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao là mục tiêu quan trọng của các
nước nghèo. Thế nhưng tình trạng di chuyển lao động lành nghề, lao động có học vấn từ
các nước đang phát triển sang các nước công nghiệp phát triển lại là dòng chảy không

Như vậy, có thể nói một cách khái quát, xóa đói, giảm nghèo là quá trình tạo
điều kiện giúp đỡ các hộ đói nghèo có khả năng và cơ hội để tiếp cận với các nguồn lực
của sự phát triển một cách nhanh chóng, trên cơ sở đó họ có nhiều sự lựa chọn hơn, giúp họ
từng bước thoát ra khỏi cảnh nghèo đói.
XĐGN còn gắn với trung lưu hóa một bộ phận dân cư, khuyến khích và tạo điều
kiện cho một bộ phận dân cư biết vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp
luật cho phép.
Trước đây, ở thời kỳ chưa đổi mới, trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp, nghèo đói đã dường như không được nhìn nhận như một thực tế xã hội, bởi quan
niệm cho rằng: Trong chủ nghĩa xã hội không thể có nghèo đói. Nó chỉ có trong chủ
nghĩa tư bản, do sự phân phối bất hợp lý thu nhập của xã hội tạo ra. Do đó, cách nhìn
nhận, đánh giá nghèo đói ở đây có phần méo mó thiếu khách quan và không khoa học.
Với một nền kinh tế còn kém phát triển, chưa ra khỏi ngưỡng của sinh tồn thì
nghèo đói là một vấn đề đương nhiên, tuy nhiên trước đây chúng ta đã không nhìn nhận
đúng như nó vốn có, do đó đã để lại hậu quả xã hội không nhỏ mà không được cảnh
báo. Vì ở nền kinh tế hiện vật, bao cấp bình quân không có cạnh tranh kinh tế; không
mở rộng thị trường; không làm nảy nở nhu cầu kinh tế; không hối thúc sự cần thiết phải
tháo vát, năng động, đổi mới cách nghĩ, cách làm, không thúc đẩy phát huy tài năng cá
nhân. Nó chỉ thúc đẩy con người tìm cách làm sao cho mình ở vào một vị trí xã hội
thuận lợi, có điều kiện thụ hưởng được nhiều sự bao cấp, sự ưu đãi của nhà nước. Giàu
có trong xã hội này không phải là kết quả của sự nỗ lực sản xuất kinh doanh, của năng
lực sáng tạo, của sự kịp thời nắm bắt yêu cầu của thị trường. Nghèo đói cũng không phải
do lười biếng hoặc bị thua lỗ phá sản trong sản xuất kinh doanh, mà chủ yếu là do không
có "đất dụng võ", không có điều kiện và môi trường để thể hiện năng lực, tài năng.
Bước sang nền kinh tế thị trường, con người buộc phải tính toán bằng giá trị và
tính đủ giá trị cho mọi kết quả lao động, do đó lợi ích được chú trọng trước hết là lợi ích cá
nhân. Nó khách quan hóa và nâng cao một cách đáng kể vai trò của năng lực cá nhân,

lực, phát huy mọi tài năng sáng tạo cho tăng trưởng kinh tế. Do đó, với một nền kinh tế
có điểm xuất phát thấp, phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng nhanh trong quá trình
đẩy mạnh tăng trưởng là một khách quan kinh tế. Trong khi đó, ngân sách chính phủ của
các nước nghèo thường khó khăn, thâm hụt, chưa thể hỗ trợ mạnh cho đối tượng đói
nghèo. Đến một trình độ phát triển nhất định, sự phân hóa giàu nghèo sẽ giảm dần do
ngân sách của chính phủ đã đủ mạnh và có thể can thiệp có hiệu quả nhằm hạn chế tình
trạng đói, nghèo. Sự phân tích về lý thuyết cũng như thực tế đều cho thấy vai trò quyết
định của chính phủ trong việc hạn chế phân hóa giàu nghèo và khắc phục đói nghèo.
Tuy nhiên, sự trợ giúp của chính phủ cho sự đói, nghèo của một bộ phận cộng đồng có
mang tính triệt để hay không còn tùy thuộc vào bản chất xã hội mà nhà nước đó đại diện
và theo đuổi. Trong chế độ TBCN, tất cả mọi người đều hoạt động theo mục đích tối đa
hóa lợi ích, đặc biệt là các nhà tư bản bằng mọi cách tối đa hóa lợi nhuận thì không thể
thiếu một đội quân thường xuyên sống trong trình trạng nghèo đói như một "đội hậu bị
công nghiệp" cho dù đó là nhà nước phúc lợi.
Nước ta có điểm xuất phát thấp, lại đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Trong những năm qua, quá trình này đã mang lại những kết quả rất quan
trọng, khẳng định sự đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng ta, nhưng cũng cho thấy
tình trạng phân hóa giàu nghèo đang gia tăng như một hệ quả tất yếu của quá trình phát
triển. Đi liền với quá trình tăng trưởng kinh tế, Đảng và Nhà nước đã thực hiện những
biện pháp nhằm hạn chế sự phân hóa giàu nghèo và XĐGN. Tuy nhiên do quá trình
chuyển sang nền kinh tế thị trường mới chỉ ở giai đoạn đầu, kinh tế thị trường còn rất sơ
khai, non yếu, cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường là quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên tình trạng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam tiếp tục
gia tăng trái với bản chất của nhà nước và mục tiêu của nhà nước theo đuổi. Điều đó đặt
ra cho chúng ta những thách thức rất lớn, tuy nhiên sự thách thức có nguyên nhân chủ
yếu từ những nhân tố và giải pháp cho sự phát triển.

đầu tiên của sự tồn tại. Xã hội muốn phát triển và hướng sự phát triển ấy vào mục tiêu
nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, làm cho con người bộc lộ ngày càng
nhiều hơn những năng lực sáng tạo và sự hoàn thiện nhân tính của nó cần phải được
thỏa mãn những nhu cầu tồn tại ấy đồng thời tổ chức hợp lý đời sống xã hội sao cho
hoạt động của con người thực sự trở thành hoạt động sáng tạo và phát triển. Không phải
là không có lý do khi xem xét tiến bộ xã hội người ta ngày càng chú trọng nhiều hơn tới
những chỉ số phát triển nhân văn của con người. Điều ấy càng cho thấy đói nghèo lạc
hậu, là xa lạ, đối lập đối với phát triển, nhất là đối với mục tiêu phát triển của CNXH.
Nguồn nhân lực không có một chất lượng tốt thì không thể khai thác và sử dụng
các nguồn lực khác, do đó cũng không thể thực hiện được các mục tiêu phát triển. Sự

Trích đoạn Hỗ trợ vốn cho người nghèo sản xuất tăng thu nhập Hướng dẫn cách làm ăn, phổ biến công nghệ kỹ thuật mới cho người nghèo, nâng cao hiệu quả của công tác khuyến nông Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tích cực giải quyết việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo Thực hiện những sự ưu tiên xã hội cần thiết cho việc xóa đói giảm nghèo ở các vùng khó khăn đặc biệt và các đối tượng đặc biệt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status