Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
0
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐỖ THỊ HƢƠNG NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở VÙNG CAO NÚI ĐẤT PHÍA TÂY TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60.31.95 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ NHƢ VÂN
trình thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lý, tổ bộ
môn Địa lý kinh tế - xã hội và các thầy cô khoa Sau Đại học, trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên đã động viên, chỉ dẫn, đóng góp ý kiến và tạo điều
kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này, tác giả xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành và
nhân dân tỉnh Hà Giang, huyện Xín Mần, huyện Hoàng Su Phì đã nhiệt tình
giúp đỡ trong việc nghiên cứu thực tế, cung cấp số liệu, tài liệu và nhiều
thông tin hữu ích liên quan đến luận văn
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và người thân,
bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện để tác giả có
thể hoàn thành luận văn.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, mặc dù bản thân đã rất cố gắng,
song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, kính mong các
thầy giáo, cô giáo và các bạn quan tâm góp ý để luận văn hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 8 năm 2010
Tác giả Đỗ Thị Hƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
2.1.1. Vị trí địa lí và lãnh thổ 36
2.1.2. Môi trường tự nhiên 39
2.1.3. Dân cư - xã hội 43
2.l.4. Cơ sở hạ tầng 49
2.1.5. Sự phát triển kinh tế của vùng núi đất phía tây Hà Giang 51
2.1.6. Đánh giá chung về vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang 56
2.2. Thực trạng đói nghèo tại vùng núi đất phía tây tỉnh Hà Giang 58
2.2.1. Chỉ tiêu về thu nhập 61
2.2.2. Chỉ tiêu về y tế và chăm sóc sức khoẻ 71
2.2.3. Chỉ tiêu về giáo dục 72
2.2.4. Chỉ tiêu nhà ở và điện nước 75
2.2.5. Đánh giá tổng hợp mức độ đói nghèo ở vùng cao núi đất phía
tây Hà Giang 77
2.3. Kết quả tìm hiểu nguyên nhân đói nghèo qua tìm hiểu thực trạng 79
2.3.1. Phân nhóm nguyên nhân nghèo đói theo Bộ LĐTB&XH 79
2.3.2. Nguyên nhân nghèo đói vùng cao núi đất tây Hà Giang 80
2.4. Những thành tựu và thách thức trong công cuộc XĐGN ở vùng cao
núi đất phía Tây Hà Giang 83
2.4.1. Những thành tựu 83
2.4.2. Những khó khăn thách thức 85
Tiểu kết Chương 2 86
Chƣơng 3. NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ XĐGN Ở VÙNG CAO NÚI
ĐẤT PHÍA TÂY TỈNH HÀ GIANG 87
3.1. Cơ sở xác định những giải pháp XĐGN ở vùng cao núi đất phía
Tây Hà Giang 87
3.1.1. Quan điểm và mục tiêu XĐGN quốc gia 87
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
cao núi đất phía tây và tỉnh Hà Giang, năm 2010 41
Bảng 2.2. Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị
nông thôn ở vùng cao núi đất phía Tây Hà Giang (2005-2010) 44
Bảng 2.3. Dân số vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang theo dân tộc,
phân chia giới tính và thành thị - nông thôn, năm 2009 45
Bảng 2.4. Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của vùng 47
Bảng 2.5. Qui mô GDP và GDP/người (theo giá thực tế) của vùng cao
núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, thời kỳ 2005 - 2010 61
Bảng 2.6. Phân loại mức thu nhập hộ gia đình 1 tháng, năm 2009 63
Bảng 2.7. Đói nghèo phân theo các khu vực ở vùng cao núi đất phía tây
tỉnh Hà Giang, năm 2010 67
Bảng 2.8. Giáo dục phổ thông - Bậc Tiểu học của vùng (2005 - 2009) 73
Bảng 2.9. Giáo dục phổ thông - Bậc THCS của vùng (2005 - 2009) 73
Bảng 2.10. Giáo dục phổ thông - Bậc THPT của vùng (2005 - 2009) 73
Bảng 2.11. Số học sinh chia theo khu vực trong vùng, năm 2009 74
Bảng 2.12. Cho điểm các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo 77
Bảng 3.1. Số liệu cơ bản các xã biên giới Việt - Trung, năm 2010 109
Bảng 3.2. Số liệu cơ bản các xã tuyến phát triển động lực, năm 2010 110
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn
vii
DANH MC HèNH
Hỡnh 1.1. Thu nhp bỡnh quõn u ngi ca Vit Nam (2000 - 2010) 18
Hỡnh 1.2. T l h nghốo c nc v phõn theo thnh th, nụng thụn,
thi k 2004 - 2010 24
Hỡnh 1.3. Bn hnh chớnh tnh H Giang 30
Hỡnh 2.1. Bn hnh chớnh vựng cao nỳi t phớa Tõy tnh H Giang,
nm 2010 37
: Giáo dục và đào tạo
4
TCTK
: Tổng cục Thống kê
5
THCS
: Trung học Cơ sở
6
THPT
: Trung học Phổ thông
7
TT
: Thị trấn
8
HPI
: Chỉ số hạnh phúc (chỉ số môi trường)
9
LĐTB&XH
: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
10
MDG
: Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ
11
KTXH
: Kinh tế và xã hội
12
XĐGN
: Xóa đói giảm nghèo
13
FAO
Nhà nước ta về công tác XĐGN bền vững ở tỉnh Hà Giang và thực trạng phát
triển KTXH của tỉnh luôn phải gắn với XĐGN. Là một học viên cao học,
chuyên ngành Địa lí học, tôi nhận thấy vấn đề XĐGN của khu vực vùng cao
núi đất phía tây tỉnh Hà Giang là đặc biệt quan trọng và cần phải có những
giải pháp tổng thể cho toàn vùng theo hướng XĐGN bền vững. Chính vì vậy,
chúng tôi chọn đề tài Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Thạc sĩ Địa lí học,
khoá 17 (2009 - 2011) với tên gọi:
“Nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng cao núi đất phía tây
tỉnh Hà Giang”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
2. Khái quát tình hình nghiên cứu về đề tài
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều đề tài nghiên
cứu, bài viết liên quan đến vấn đề XĐGN được công bố, cụ thể là các công
trình sau:
Báo cáo: “Việt Nam đánh giá nghèo đói và chiến lược” của WB vào
tháng 1/1995 đã xem xét tình trạng đói nghèo của nước ta trong bối cảnh
KTXH sau một thời gian chấm dứt chiến tranh và thực hiện đổi mới.[1].
PGS.TSKH Lê Du Phong - PTS. Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên),
Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi
phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Các tác giả
đã đánh giá những thành tựu về KTXH qua hơn 10 năm đổi mới và tiềm năng
ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta.[16].
Đề án “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”
được Chính phủ phê duyệt vào ngày 21/5/2002 đã cụ thể hóa các nhiệm vụ về
KTXH với trọng tâm là công tác XĐGN.[5].
Cái nhìn tổng quan về diễn biến đói nghèo của nước ta thể hiện rõ
thông qua Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam với “Báo cáo
báo cáo tại Hội thảo Khoa học Địa lí Hội Địa lý Đông Nam Á 2010 (SEAGA
- 2010), từ ngày 23 - 25/11/2010 tại Hà Nội với tiêu đề: “Tiếp cận địa lí trong
nghiên cứu huyện vùng cao biên giới Xín Mần, Hà Giang vì mục tiêu giảm
nghèo nhanh và bền vững’’. [10].
Từ nghiên cứu huyện Xín Mần, chúng tôi nhận ra tầm quan trọng của
việc nghiên cứu huyện Xín Mần không thể tách rời khung cảnh chung của
môi trường địa lí vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang. Nghiên cứu vấn đề
XĐGN trong phạm vi rộng lớn hơn, khái quát hơn để khu vực này dễ dàng
hòa chung vào sự phát triển KTXH của tỉnh nhà và cùng cả nước thực hiện
quá trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Hai huyện Xín Mần và
Hoàng Su Phì nằm trong khu vực vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang đều
thuộc diện các huyện vùng cao biên giới Việt - Trung ĐBKK cần được ưu
tiên đầu tư như ghi trong Nghị quyết 30a của Thủ tướng Chính phủ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức về lý luận và thực tiễn về nghèo đói và XĐGN,
mục đích nghiên cứu của luận văn là:
- Đánh giá thực trạng nghèo đói và nguyên nhân nghèo đói ở vùng cao
núi đất phía tây tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu và phù hợp với điều kiện, đặc điểm
KTXH của địa phương, nhằm đẩy mạnh công tác XĐGN cho các huyện vùng
cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang đến năm 2020.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói và
XĐGN.
- Phân tích thực trạng nghèo đói, nguyên nhân nghèo đói, đánh giá
Mần tuy là hai đơn vị hành chính khác tên gọi nhưng cùng nằm trong một đơn
vị địa lí thống nhất đó là cao nguyên núi đất phía tây Hà Giang. Quan điểm
không gian lãnh thổ thống nhất trong đa dạng đem lại cách nhìn tổng hợp
trong tiếp cận các vấn đề XĐGN cho cộng đồng dân cư nơi đây.
5.1.2. Quan điểm hệ thống
Đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống, gồm nhiều phân hệ có
mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Một phân hệ thay đổi sẽ ảnh hưởng
đến vận động của toàn bộ hệ thống. Huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần
được coi là một hệ thống được đặt trong hệ thống lớn hơn là tỉnh Hà Giang.
Đến lượt mình, huyện Hoàng Su Phì và huyện Xín Mần là đồng cấp, có mối
quan hệ và tương đồng về tự nhiên, kinh tế, xã hội, mỗi hệ thống bao gồm các
phân hệ thấp hơn: xã, TT, thôn bản. Do đó cần phải tìm hiểu mối quan hệ qua
lại giữa các hệ thống và trong cùng một hệ thống.
5.1.3. Quan điểm kinh tế
Quan điểm này được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu kinh tế cụ thể
như: Tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế, chuẩn nghèo, tỷ lệ hộ nghèo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Trong nghiên cứu XĐGN ở các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần áp dụng quan
điểm này có thể thấy rõ và cụ thể hơn các chỉ tiêu KTXH.
5.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi sự đảm bảo về bền
vững về cả ba mặt: kinh tế, xã hội, môi trường. Với khu vực vùng cao núi đất
phía tây tỉnh Hà Giang, nghiên cứu phát triển KTXH và công tác XĐGN phải
đặt trong mối quan hệ giữa ba bộ phận cấu thành phát triển bền vững.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Thu thập tài liệu, tìm hiểu những nội dung liên quan đến vấn đề nghiên
xác định mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả XĐGN
cho các huyện biên giới tỉnh Hà Giang.
Đề tài còn đề cập tới những điểm cơ bản về sự chênh lệch phát triển
giữa các khu vực, giữa các vùng, giữa các nhóm dân cư, các nhóm thu nhập ở
khu vực này và của từng huyện trong xu hướng chung của cả vùng, tỉnh và
của cả nước.
7. Cấu trúc đề tài luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
bao gồm các chương chủ yếu:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2. Thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở vùng cao núi đất
phía tây tỉnh Hà Giang.
Chương 3. Định hướng và giải pháp XĐGN nhanh và bền vững cho
vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang./. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Quan niệm, phƣơng pháp tiếp cận và đánh giá đói nghèo trên
thế giới
1.1.1.1. Quan niệm về đói nghèo
Với phương châm "coi đấu tranh chống đói nghèo là sứ mệnh, là trọng
tâm”, WB đã hoàn thành "Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công
nghèo đói, năm 2000”. Bản báo cáo này ra đời là một đóng góp thiết thực vào
cuộc tranh luận về giàu nghèo trong xã hội. Điểm đáng ghi nhận là báo cáo
này đã mở rộng quan niệm về đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn
tương quan so sánh với sự sung túc của xã hội đó. Ranh giới nghèo tuyệt đối
có thể được xác lập cụ thể. Ngược lại, ranh giới của nghèo tương đối rất khó
xác định bởi nó không có tiêu chuẩn chung nào áp dụng. Nó phụ thuộc chủ
yếu vào tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của từng quốc gia và
mức độ quan tâm, điều chỉnh của chính quốc gia đó.
Những tiêu chí đánh giá nghèo đói, dù xuất phát từ tổ chức nào và ở
thời điểm nào thì về cơ bản, cũng đều có sự thống nhất về ba khía cạnh của
người nghèo: không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu;
còn mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ
hội lựa chọn trong quá trình phát triển.
1.1.1.2. Phương pháp tiếp cận và các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo
a. Phương pháp tiếp cận
Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã
hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo, từ đó có những chính
sách trợ giúp cho người nghèo tiếp cận với những thành quả của sự phát triển
kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội giữa các nhóm dân cư. Thực tiễn đã chỉ
ra rằng: "Hậu quả của thiên tai, lũ lụt và khủng hoảng kinh tế, người nghèo là
người chịu trước, còn thành quả của pháp triển KTHX người nghèo là người
hưởng sau”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Hiện nay hình thành ba phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo:
(1) Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiết.
(2) Phương pháp dựa vào thu nhập thực tế.
(3) Phương pháp dựa vào đánh giá của người dân.
Trong ba phương pháp thì hai phương pháp đầu được các quốc gia sử
dụng khá phổ biến. Phương pháp cuối lại được hầu hết các tổ chức phi chính
phủ (NGOs) sử dụng trong việc xác định hộ nghèo trong các dự án giảm
lương thực của con người. Cụ thể như sau:
- Ngưỡng nghèo thứ nhất: là số tiền cần thiết để mua một số lương
thực. Lượng lương thực này phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100Kcal
cho mỗi con người mỗi ngày (gồm khoảng 40 loại sản phẩm), được gọi là
ngưỡng nghèo lương thực.
- Ngưỡng nghèo thứ hai: Bao gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực và
phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung.
Ước tính mức nghèo đói trên chỉ có tác dụng là những dự báo về diễn
biến toàn cầu. Còn đối với từng khu vực, từng vùng, căn cứ vào thu nhập và
mức sống cụ thể mà mỗi nước tự xây dựng những ngưỡng nghèo đặc thù
riêng, phản ánh được tình trạng đói nghèo trong hoàn cảnh nước đó.
Nghèo đói chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố như kinh tế, chính
trị, xã hội, văn hóa… Để đánh giá mức độ giàu nghèo của một quốc gia Liên
Hợp Quốc đã sử dụng chỉ số đói nghèo HPI (Human Poverty Index). Cách
tính HPI dành cho các nước đang phát triển HPI-1 dựa vào chỉ số phát triển
con người HDI. Giá trị HPI càng cao thì mức độ nghèo khổ càng lớn và
ngược lại.
Chỉ số HPI được tính theo công thức
HPI =
3/1
3
3
3
2
3
1
3
1
hai định nghĩa mà về cơ bản cũng đều bắt nguồn từ WB.
- Nghèo đói lương thực, thực phẩm (tương đương với nghèo tuyệt - đối,
nghèo về thu nhập của WB): Được xác định bằng số tiền chi phí cho nhu cầu
thiết yếu để duy trì sự sống với năng lượng 2100Kcalo/người/ngày.
- Nghèo đói chung (tương đương với nghèo tương đối, nghèo về con
người): Được xác định bằng số tiền chi phí để mua đủ một lượng hàng hóa
lương thực, thực phẩm tương đương với mức tiêu dùng năng lượng
2100Kcalo/người/ngày và một số mặt hàng phi lương thực, thực phẩm…
Tuy có sự thống nhất cao về khái niệm nhưng Việt Nam cũng có điểm
khác với nhiều nước trong vấn đề nhìn nhận và đánh giá nghèo khổ. Bên cạnh
khái niệm nghèo của ESCAP, Việt Nam còn sử dụng thêm khái niệm đói
nghèo để chỉ mức độ thấp của nghèo của một bộ phận dân cư. Đó là bộ phận
dân cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu (nhu cầu cơ bản) không đủ
điều kiện vật chất duy trì cuộc sống. Đây là bộ phận thiếu ăn ít nhất một tháng
trong năm, phải đi vay nợ nhưng không có khả năng chi trả. Nói cách khác,
đói là nấc thang thấp nhất của nghèo.
Hiện nay, tình trạng đói đã không được nhắc tới trong các văn kiện
chính thức của Đảng và Nhà nước ta từ năm 2001. Mặc dù vậy, cụm từ "xóa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
đói giảm nghèo" vẫn được sử dụng, chỉ một nội dung hẹp hơn là đấu tranh để
giảm nghèo, tiến tới xóa nghèo.
1.1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo ở Việt Nam
Nhóm nghiên cứu liên bộ: Bộ LĐTB&XH, TCTK đã đưa ra chỉ tiêu để
đánh giá đói nghèo là thu nhập, giáo dục, sức khỏe, nhà ở… Trong đó chỉ tiêu
thu nhập được coi là chỉ tiêu hàng đầu, đồng thời cũng là chỉ tiêu đang được
sử dụng để xác định số lượng người nghèo và hoạch định chính sách XĐGN.
Ở nước ta, trong điều kiện giá cả không ổn định và có sự chênh lệch
+ Vùng thành thị: 150.000 đ/người/tháng.
Giai đoạn 2006 - 2010:
+ Vùng nông thôn: 200.000 đ/người/tháng.
+ Vùng thành thị: 260.000 đ/người/tháng.
Giai đoạn 2011 - 2015 (Chỉ thị 1752/CT-TTg, 9/2010 của Chính phủ)
- Hộ nghèo:
+ Vùng nông thôn: 400.000 đ/người/tháng.
+ Vùng thành thị: 500.000 đ/người/tháng.
- Hộ cận nghèo:
+ Vùng nông thôn: 401.000 - 520.000 đ/người/tháng.
+ Vùng thành thị: 501.000 - 650.000 đ/người/tháng.
* Các tiêu chuẩn nghèo khác:
Theo cách đánh giá của Bộ LĐTB&XH, phạm vi đói nghèo có các cấp
với những đặc điểm khác nhau về mức độ nghèo.
- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn
chuẩn nghèo. Trong số hộ nghèo, lại có hộ dân tộc thiểu số ĐBKK, đây là các
hộ gia đình dân tộc sống vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức
thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo. Các hộ này tồn tại "phong tục tập quán sản
xuất mang nặng tính tự nhiên hái lượm”, chủ yếu phát nương làm rẫy, tổng
giá trị tài sản bình nhớ đầu người dưới 1 triệu đồng.
- Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (>25%): chưa đủ từ 3 trong 6
hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao gồm: chưa có đường ô tô đến trung tâm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
xã hoặc ô tô không đi lại được cả năm; số phòng học chỉ đáp ứng dưới 70%
nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bằng tranh tre, nứa lá; chưa có trạm
y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm; dưới 30% hộ sử dụng nước sạch, dưới 50%
số hộ sử dụng điện thoại sinh hoạt…). Trong các xã nghèo, có các xã ĐBKK -
triển. Ước tính này dựa trên các cuộc điều tra về hộ gia đình được tiến hành
tại 115 quốc gia. Số liệu áp dụng để điều chỉnh mức nghèo hiện nay cho các
các quốc gia nghèo nhất thế giới (theo PPP) là 1,25 USD/ngày thay thế cho
ngưỡng nghèo 1 USD/ngày sử dụng vào năm 1999. Trên thực tế, mức nghèo
1 USD/ngày là cách gọi chung cho đường nghèo 1,08 USD đã được đề xuất
từ năm 1993.
Tỉ lệ người nghèo sống dưới ngưỡng 1,25 USD/ngày có sự thay đổi rõ
rệt theo thời gian. Những năm đầu của thập niên 80, trên thế giới có tới gần
1,9 tỉ lệ người sống dưới đường nghèo. Sang đầu thập kỳ 90, tỉ lệ người nghèo
giảm xuống còn 1,8 tỉ người. Và đến năm 2005, đã có mức giảm đáng kể khi
trên thế giới còn 1,4 tỉ người nghèo. Trải qua gần 1/4 thế kỷ, với tốc độ phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các tổ chức quốc tế và các nước chung tay góp
phần thay đổi chất lượng cuộc sống dân cư toàn cầu làm số người nghèo sống
dưới mức 1,25 USD/ngày giảm hơn một nửa - từ trên 50% (1981) xuống
21,7% (2005). Tuy nhiên con số này vẫn cao hơn dự kiến 985 triệu người.
Xét theo các mức nghèo tương ứng với phần trăm dân số, thì đói nghèo
là vấn đề nan giải và lâu dài của toàn cầu. Trong số hơn 6 tỉ người, có 0,88 tỉ
người sống dưới mức nghèo khổ - 1 USD/ngày, và có tới 2,6 tỉ người sống
dưới mức 2 USD/ngày - chiếm 40% toàn bộ dân số thế giới.
Các khu vực trên thế giới đều có chung xu hướng giảm nghèo. Nhưng
kết quả đạt được trong thành tựu này lại khác xa nhau giữa các nước. Mức độ
giảm nghèo mạnh mẽ nhất và cũng coi là thành công nhất phải kể đến khu
vực Đông Á - Thái Bình Dương. Đây là nơi có tỉ lệ người nghèo cao nhất -
chiếm tới 78% dân số (năm 1981). Đến năm 2005, giảm xuống còn 17%,
tương đương với khoảng 78% dân số (năm 1981). Đến năm 2005, giảm xuống
còn 17%, tương đương với khoảng 750 triệu người thoát nghèo. Đặc biệt hơn