Quản lý tài nguyên ven biển và vấn đề xóa đói giảm nghèo trong các cộng đồng nghề cá ở tỉnh Khánh Hòa - Pdf 20


1
Quản lý tài nguyên ven biển và vấn đề xóa đói giảm nghèo trong
các cộng đồng nghề cá ở tỉnh Khánh Hòa
(1)

Đỗ Thị Minh Đức
Khoa Địa lí, ĐHSP Hà Nội

1. Đặt vấn đề
Quản lí tài nguyên ven biển là cơ sở để phát triển bền vững và góp phần giải
quyết những vấn đề xã hội của lãnh thổ. Nếu quản lí tài nguyên không tốt có thể gây ra
những xung đột trong sử dụng tài nguyên và phát triển lên thành xung đột trong xã hội. Ở
dải ven biển có những hệ sinh thái cho năng suất cao, đa dạng nhưng cũng rất nhạy cảm
và dễ bị tổn thương. Đây lại là nơi tập trung đông dân cư, tập trung các hoạt động kinh tế
đa dạng. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế mở và khả năng chinh phục biển ngày
càng lớn, đây là khu vực đang thu hút rất mạnh đầu tư, cơ cấu kinh tế chuyển dịch rõ nét,
ngày càng phức tạp, nền kinh tế phát triển năng động nhưng cũng tiềm ẩn những yếu tố
không chắc chắn; chính vì vậy vấn đề quản lí tổng hợp tài nguyên dải ven biển đang được
đặc biệt quan tâm ở trên thế giới và ở nước ta.
Ở Việt Nam, tỉ lệ đói nghèo ở dải ven biển thấp hơn so với vùng núi nhưng do tập
trung đông dân cư nên đây lại là nơi tập trung số người nghèo. Mặt khác trong thực tiễn
nhiều khi sự phát triển nhanh của kinh tế lại làm tăng sự bất bình đẳng xã hội. Hơn nữa,
vấn đề nghèo đói trong các cộng đồng nghề cá lại có màu sắc riêng. Tình trạng nghèo đói
của ngư dân sẽ ảnh hưởng rất xấu tới việc khai thác tài nguyên biển, nhất là vùng nước
ven bờ. Vì vậy trong bài báo này chúng tôi sẽ phân tích những vấn đề về quản lí tài
nguyên biển và vấn đề xóa đói giảm nghèo của cộng đồng nghề cá qua nghiên cứu nhiều
năm ở tỉnh Khánh Hòa.
2. Khung lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu này
Nghề cá gắn liền với việc khai thác nguồn lợi sinh vật biển. Vấn đề nghèo đói
trong cộng đồng nghề cá gắn bó chặt chẽ với các đặc điểm của nghề khai thác cá biển,

Hình 1 - Mô hình DPSIR áp dụng cho nghiên cứu vấn đề
quản lí tài nguyên và nghèo đói ở cộng đồng nghề cá

Trong địa lí kinh tế - xã hội, các nhà địa lí xô viết trước đây đã phát triển các
chuỗi (các chu trình) sản xuất - năng lượng (N.N. Koloxovsky, Yu.G. Xauskin, A.T.
Khrutsov...) và các "cây nguyên liệu". Các mô hình này đã mô tả được các hình thức tổ
chức sản xuất trên quan điểm sử dụng tổng hợp tài nguyên và dựa trên những công nghệ
xác định. Gần đây, nhằm nghiên cứu việc quản lí nghề cá tổng hợp, các chuyên gia của
mạng lưới Quản lí nghề cá (FISHGOVNET) do Trung tâm Nghiên cứu biển (MARE) của
Hà Lan làm cơ quan điều phối đã sử dụng quan niệm Chuỗi thủy sản (Fish chain) để mô
tả ba mắt xích lớn (ba tiểu hệ thống) tương ứng với ba pha chuyển dịch của sản phẩm
nghề cá từ hệ sinh thái thủy sinh đến bàn ăn của người tiêu dùng (xem hình 2). Quan
niệm này có phần nào gần gũi với quan niệm của các nhà địa lí xô viết đã nêu ở trên,
nhưng nhấn mạnh quan hệ giữa hệ sinh thái, sản xuất, phân phối và tiêu thụ thuỷ sản, cả
trong đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.

Lực tác động (D)
- (về mặt) Môi trường
Hình 2 - Chuỗi thủy sản [3 ] với các mắt xích lớn

Mỗi một mắt xích của hệ thống là một hệ thống con, có đặc tính và quy luật hoạt
động riêng. Nhưng ở bất cứ hệ thống con nào, ta đều thấy sự hiện diện của con người và
sự can thiệp của con người. Chính các quan hệ xã hội quy định quan hệ của con người
với tự nhiên và con người với con người. Các tác giả của "chuỗi thủy sản" cho rằng ở
đây, các mối quan tâm chính là sức khỏe hệ sinh thái, công bằng xã hội, sinh kế và việc
làm, an ninh thực phẩm và an toàn thực phẩm. Và như vậy, chúng ta có thể áp dụng
khung lí thuyết này trong nghiên cứu các vấn đề đói nghèo ở các cộng đồng nghề cá và
việc quản lí tổng hợp tài nguyên.

3. Phân tích vấn đề quản lí tổng hợp tài nguyên vùng ven biển tỉnh
Khánh Hòa
Khánh Hòa là tỉnh có thế mạnh nổi bật về kinh tế biển. Do có các mạch núi ăn lan
ra biển, nên từ phía Bắc xuống phía Nam, có các bán đảo và các đảo ven bờ chắn gió, tạo
nên các vũng vịnh như Vịnh Vân Phong, Đầm Nha Phu, Vịnh Nha Trang, Vịnh Cam
Ranh
(3)
. Khánh Hoà có thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn với gần 40 đảo lớn nhỏ
nằm rải rác trên biển, trong đó có quần đảo Trường Sa
.
Đây là những địa bàn rất thuận
lợi cho sự tập trung các hoạt động kinh tế như du lịch biển, nuôi hải sản nước mặn (nuôi
biển), đóng tầu, cảng biển. Những bãi biển tốt cho phát triển du lịch như bãi biển Đại
Lãnh, Dốc Lết, Đầm Môn, Bãi Tiên, Bãi Sạn, bãi Dài Cam Ranh. Có 8 cửa sông, cửa lạch
thuận lợi cho neo đậu các tàu thuyền đánh cá và phân bố các làng cá, các khu vực dịch vụ
hậu cần nghề cá.
Khí hậu Khánh Hòa mang đặc điểm tiêu biểu của khí hậu Nam Trung Bộ, rất

gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất và ảnh hưởng xấu đến nghề nuôi (cả nuôi
đầm và nuôi lồng bè trên biển). Việc phát triển du lịch đi đôi với bảo tồn vẻ đẹp vịnh Nha
Trang đã buộc 800 lồng nuôi tôm hùm ở Vũng Me phải di dời; các ngư dân không được
đánh cá ở khu vực Hòn Mun, nơi xây dựng khu bảo tồn biển, trước đây là ngư trường
chính của ngư dân các đảo quanh đó. Việc quy hoạch lại TP Nha Trang cũng đã dẫn đến
sự di chuyển hàng trăm gia đình ở Xóm Bóng (phía Bắc thành phố) xuống khu Hòn Rớ
(phường Vĩnh Trường, phía Nam thành phố). Cư dân Hòn Tre cũng phải chuyển đi các
địa phương khác và phần đông trong số họ cũng phải chuyển đổi nghề nghiệp.
Đặc điểm tài nguyên biển, điều kiện đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, các cộng
đồng nghề cá với các truyền thống và tập quán được hình thành và biến đổi trong thời
gian dài, những tác động mạnh mẽ nhưng rõ nét trong tổ chức sản xuất của nghề cá, từ
sau khi các HTX nghề cá kiểu cũ bị tan rã (cuối thập kỉ 80 của thế kỉ trước) và sự phát
triển của kinh tế tư nhân, vai trò của thị trường xuất khẩu thủy sản..., tất cả đã và đang tạo
ra "chuỗi thủy sản "mới của nghề cá Khánh Hòa.
4. Thực trạng đói nghèo và việc tạo sinh kế mới ở các cộng đồng
nghề cá tỉnh Khánh Hòa
a) Bức tranh chung:
Khánh Hòa là một tỉnh đã thực hiện rất có hiệu quả Chương trình mục tiêu xóa
đói giảm nghèo 2001-2005. Theo đánh giá của UBND tỉnh Khánh Hòa [10] tỷ lệ hộ
nghèo đã giảm từ 11,14% đầu năm 2001 xuống còn 2,94% cuối năm 2004 (dự kiến đến
cuối năm 2005 xuống còn dưới 1,5%). Tuy nhiên, theo đánh giá của báo cáo này, thì các
chuẩn nghèo cũ là thấp so với thực tế và các hộ mới "thoát chuẩn nghèo" chứ chưa thực
sự thoát nghèo. Chính vì vậy, sau khi Nhà nước xác định chuẩn nghèo mới cho giai đoạn
2006-2010
(4)
, tỉnh Khánh Hòa đã đề xuất chuẩn nghèo riêng của tỉnh
(5)
.
H. Khánh Vĩnh 5.918 3.563 60,21 3.563 60,21
H. Khánh Sơn 3.960 2.433 61,44 2.433 61,44
Nguồn: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa.

Bảng trên cho thấy, mặc dù tỉ lệ hộ nghèo rất cao ở các huyện miền núi Khánh
Vĩnh và Khánh Sơn, nhưng do dân cư tập trung ở đô thị và ở các vùng ven biển, nên các
địa bàn này cũng là nơi tập trung đông các hộ nghèo, và tỉ lệ nghèo khá cao ở các huyện,
thị ven biển: TP Nha Trang, TX Cam Ranh, Ninh Hòa, Vạn Ninh. Góp phần vào bức
tranh về tình trạng nghèo này có các hộ gia đình nghề cá và các cộng đồng nghề cá.
Trong vùng ven biển, thì tỉ lệ nghèo thuộc về các hộ nghề cá là rất lớn. Các con số
thống kê chính thức hiện nay chưa phản ánh rõ, do không thể áp dụng chuẩn nghèo ở khu
vực nông thôn (cho nông dân) vào các hộ ngư dân do các hộ ngư dân thường không có
đất, đầu tư và tính bấp bênh đều lớn hơn nhiều.
b) Trong cộng đồng nghề cá
Cộng đồng nghề cá do đặc điểm nghề nghiệp và sự củng cố
các quan hệ "làng xã"
trong lịch sử, có tính cố kết khá mạnh và không "mở". Rất phổ biến ở tỉnh Khánh Hòa là
các cộng đồng (các vạn chài, làng chài) gắn với một vùng nước và một nhóm nghề (làng
làm nghề giã cào, làng làm nghề câu tay, làng làm nghề vây...). Ngay bên cạnh một thành
phố Nha Trang, một thành phố du lịch tương đối lớn và phát triển năng động, thì các làng
cá vẫn có dáng dấp cổ truyền rất riêng.
Bên trong cộng đồng nghề cá có các hệ thống phân công lao động riêng, có những
chủ tàu, người làm thuê (đi bạn), người buôn bán cá (nậu), người cung cấp các dịch vụ
liên quan. Cách thức phân chia thu nhập (giữa chủ tàu và những người làm thuê) khác
nhau nhiều giữa các nhóm nghề. Thường thường với các tàu nhỏ, sau khi trừ các chi phí

- Khu vực thành thị: 300.000 đồng/người/tháng - 3.600.000 đồng/người/năm
- Khu vực nông thôn đồng bằng: 250.000 đ/người/tháng - 3.000.000 đ/người/năm
- Khu vực nông thôn miền núi: 200.000 đ/người/tháng - 2.400.000 đ/người/năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status