Đề tài thảo luận môn Kinh tế phát triển
Học viên: Nguyễn Thị Phương Lan
Lớp : Cao học 16A
Đề tài:
“ Đánh giá thực trạng về số và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ
2001-2006. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời gian qua có ảnh hưởng như thế nào
đến vấn đề xóa đói giảm nghèo và công bằng xã hội ”.
BÀI LÀM
1. Khái quát về tăng trưởng kinh tế.
1.1. Khái niệm và ý nghĩa tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng
thời gian nhất định (thường là một năm).
Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần của sự phát triển. Các nước đang phát
triển không thể thực hiện được mục tiêu phát triển nền kinh tế nếu không có một
khả năng tích luỹ vốn cao, và mục tiêu phấn đấu của xã hội không phải là cho một
sự công bằng trong đó ai cùng nghèo như ai. Một xã hội lành mạnh phải dựa trên
cơ sở của một nền kinh tế vững chắc về vật chất.Tăng trưởng kinh tế là điều kiện
vật chất cần thiết cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cho sự thay đổi các
mục tiêu xã hội.
1.2. Tính chất hai mặt của tăng trưởng kinh tế.
1.2.1. Mặt lượng của tăng trưởng.
Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng và
được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng.
Các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA)
bao gồm: tổng giá trị sản xuất (GO); tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng thu nhập
quốc dân (GNI); thu nhập quốc dân (NI); thu nhập được quyền chi (GDI). Trong số
các chỉ tiêu nói trên, chỉ tiêu thường hay sử dụng nhất và phản ánh chính xác hơn
1
cả là GDP và GDP trên đầu người. Giá để tính các chỉ tiêu tăng trưởng gồm ba loại
khác nhau: giá so sánh, giá hiện hành và giá sức mua tương đương
1.2.2. Mặt chất lượng tăng trưởng.
kỳ 2001-2006.
2.1. Đánh giá thực trạng về mặt số lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời
kỳ 2001-2006.
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2001-2005 và Báo nhân dân ngày 1/1/2007
Qua đồ thị trên cho thấy:
-Việt Nam luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời
kỳ 2001-2005. Tốc độ tăng trưởng bình quân năm thời kỳ 2001-2005 là 7.5%, đạt
được chỉ tiêu kế hoạch đặt ra và cao hơn thời kỳ 1996-2000 (bình quân là 7%).
-Tốc độ tăng trưởng GDP của cả năm 2006 đạt 8.17%. Đó là thành tựu to lớn nếu
đặt trong điều kiện hết sức khó khăn của năm này (thiên tai, địch họa, sự biến động
giá dầu...).
-Việt Nam vẫn tiếp tục giữ vị trí là một trong những nước có sự tăng trưởng nhanh
so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam
đạt cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu dự kiến năm 2006 (đạt 5.4 %) và
cao hơn mức bình quân của khu vực Đông Á (ADB dự báo đạt trên 7% trong năm
2006; Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông chỉ đạt 5.1%, các nước Asean kỳ vọng đạt
5.5%).
3
Bảng: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam và các nước lân cận (%)
Năm
Nước
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Thái Lan 2.2 5.3 6.9 6.1 4.2 5.0
Malayxia 0.3 4.4 5.4 7.1 5.0 5.3
Việt Nam 6.89 7.08 7.34 7.79 8.43 8.17
Trung Quốc 7.5 8.3 9.5 9.5 9.3 10.1
Hàn Quốc 3.8 7.0 3.1 4.6 3.8 4.6
Nguồn: GSO, SBV, IMFM và WB; *: số dự báo
Những số liệu về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế là thành tích không thể phủ
nhận được mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua. Tuy vậy, trong tương lai
nhanh
Tỷ lệ đầu tư
(%GDP)
Tỷ lệ tăng
trưởng (%)
SĐTTT
Việt Nam 2001-2005 37,7 7,5 5,0
5
2006 40% 8,17 5,01
Trung Quốc 1991-2003 39,1 9,5 4,1
Nhật Bản 1961-1970 32,6 10,2 3,2
Hàn Quốc 1981-1990 29,6 9,2 3,2
Đài Loan 1981-1990 21,9 8,0 2,7
Nguồn : Chi Hung KWAN, Why China’s Investment Efficiency is Low,
China in Transition, June 18, 2004.
Từ số liệu trên, có thể đưa ra một số nhận xét sau: So với các nước trong khu vực,
hệ số ICOR của Việt Nam cao hơn hiều so với Thái Lan (3,84 năm 2004). So với
nước có tốc độ tăng trưởng cao như Việt Nam, hệ số này của Trung Quốc cũng chỉ
là 4,1 bình quân cho giai đoạn 1991-2003 với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là
9,5%/năm. Điều này cho thấy, năng suất vốn của Việt Nam hiện quá thấp so với
khu vực và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn quá phụ thuộc vào yếu tố vốn,
yếu tố mà Việt Nam không có thế mạnh. Sự yếu kém này có thể sẽ làm ảnh hưởng
tiêu cực đến đà tăng trưởng kinh tế trong những năm tới.
2.2.2.Đánh giá cấu trúc đầu vào của tăng trưởng kinh tế.
Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đang chuyển dần từ phát triển theo
chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu. Điều này thể hiện qua vai trò ngày càng
tăng của TFP trong sự tăng trưởng chung của cả nền kinh tế.
Bảng: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng GDP Việt Nam (%)
Thời kỳ
Đóng góp của các yếu tố
20,0
22,6
19,07
25,2
Nguồn: CIEM và Thời báo kinh tế Việt Nam
Số liệu ở bảng trên cho thấy:
-Tỷ lệ đóng góp cảu các yếu tố chiều rộng (K và L) vào tăng trưởng khá cao: giai
đoạn 2003-2006 là 74,8%. Nếu xát về khía cạnh lợi thế so sánh và đặc điểm của
nền kinh tế đang phát triển, điều này có phần hợp lý, bởi ở Việt Nam, các yếu tố
chiều rộng vẫn còn khá dồi dào, giá nhân công rẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên
còn đang được khám phá, trong khi đó chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa
học công nghệ còn thấp.
-Cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào đã được điều chỉnh dần theo hướng hợp lý hơn:
trước hết, trong cơ cấu đóng góp của các yếu tố chiều rộng, tỷ trọng đóng góp của
các yếu tố vốn có xu hướng giảm ( từ 69,3% giai đoạn trước xuống còn 52,73%),
tỷ trọng đóng góp của lao động, một yếu tố mà Việt Nam có nhiều lợi thế đang có
xu hướng tăng lên ( từ 15,9% lên 20%); thứ hai, sự đóng góp của yếu tố TFP vào
tăng trưởng có xu hướng tăng lên, giai đoạn 1993-1997 chỉ chiếm 14,8%, giai đoạn
sai đã lên tới 28,2%, cao hơn cả đóng góp của yếu tố lao động.
Tuy vậy, chất lượng tăng trưởng vẫn còn tồn tại những bất cập:
-Tính bất hợp lý và thiếu hiệu quả xét trong khuôn khổ sử dụng các yếu tố tăng
trưởng theo chiều rộng. Việt Nam có lợi thế về lao động hơn về vốn, trong khi dó
tăng trưởng kinh tế trong những năm qua nghiêng nhiều về yếu tố vốn hơn là yếu
tố lao động: tỷ trọng đóng góp của yếu tố vốn cao gấp 3 lần yếu tố lao động ở giai
đoạn 2003-2006. Có thể nói tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ qua bị chi phối
chủ yếu bởi yếu tố vốn, tỷ trọng đóng góp của TFP, thậm chí cả lao động vào tăng
trưởng lên xuống là do sự biến động về quy mô của yếu tố vốn trong các thời kỳ
tạo nên.
- Vai trò hạn chế của yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu. Mặc dù từ 1998 đến nay,
sự đóng góp của nhân tố TFP tăng dần, nhưng tỷ lệ đóng góp trong kết quả tăng
40%
60%
80%
100%
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng kinh tế
(2001-2006)
Dich vu
Cong nghiep va xay
dung
Nong-Lam-Thuy san
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam qua các năm
Nhìn vào biểu đồ ta thấy ngành công nghiệp-xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong GDP và có tốc độ tăng trưởng cao nhất, chiếm 4,15 điểm phần trăm tốc độ
tăng trưởng GDP vào năm 2006. Trong khi đó nhóm ngành nông - lâm - ngư
nghiệp vào năm 2006 có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với các năm 2004, 2005
nên tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế giảm đi, chỉ còn 0,74 điểm phần
trăm tốc độ tăng trưởng GDP. Đối với nhóm ngành dịch vụ, do vẫn duy trì được
tốc độ tăng trưởng khá cao ( trên 8%) nên đã đóng góp vào tăng trưởng GDP là
3,27 điểm phần trăm vào năm 2006. Xem xét trên góc độ vai trò, vị trí của các
ngành trong việc nâng cao hiệu quả và duy trì khả năng tăng trưởng dài hạn, thực
trạng tăng trưởng và sự đóng góp của các nhóm ngành kinh tế Việt Nam thời kỳ
này có những điểm đáng chú ý sau:
-Tuy chưa có sự bứt phá đột biến nhưng công nghiệp vẫn giữ được vai trò đầu tàu
và động lực tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Một tốc độ tăng trưởng cao vượt
trội của ngành công nghiệp so với mức tăng trưởng chung mới tạo ra được đòn bẩy
cho sự tăng trưởng nhanh hơn của các ngành khác, nhất là dịch vụ, và kéo theo sự
tăng trưởng vững chắc, hiệu quả cho toàn nền kinh tế.
8
nước có xu hướng giảm tương đối so với trước; nguồn vốn ngoài quốc doanh
chiếm tỷ trọng cao; các doanh nghiệp nhà nước, do kết quả của quá trình cổ phần
hóa và sắp xếp lại, đã có tỷ trọng đóng góp trong đầu tư ngày càng cao. Phần vốn
FDI năm 2006 đạt mức kỷ lục với 10,2 tỷ USD vốn đăng ký.
Xét về cấu trúc đầu ra của tăng trưởng thì xu hướng biến động của yếu tố cấu thành
tăng trưởng là hợp lý, phù hợp với những yêu cầu cần có. Sự đóng góp của yếu tố
đầu tư và xuất khẩu vào tăng trưởng ngày càng cao là những dấu hiệu đúng trong
quá trình theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nhanh. Tuy vậy, liên quan đến chất lượng
tăng trưởng thì chính hiệu quả của đầu tư, xuất khẩu và khả năng duy trì tăng
trưởng dài hạn của các yếu tố này lại là những điều đáng quan tâm:
-Điều đáng quan tâm thứ nhất là tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa quá nhiều vào
đầu tư. Số liệu ở bảng dưới sẽ cho thấy điều này.
Bảng: Cơ cấu chi tiêu của một số nền kinh tế (năm 2005)
Các nền kinh tế % GDP cho tiêu dùng
(cá nhân và chính phủ)
% GDP cho
đầu tư
% GDP
cho NX
1. Thế giới
2.Các nước thu nhập cao
3. Các nước thu nhập trung bình
4. Các nước thu nhập thấp
5. Một số nước đang phát triển
- Trung Quốc
- Việt Nam
- Thái Lan
79
80
72
dụng chỉ tiêu ICOR để đánh giá hiệu quả dầu tư, thì của Việt Nam cao hơn nhiều
so với các nước trong khu vực.
Bảng: So sánh vốn đầu tư và vốn sản xuất gia tăng (giá thực tế)
2000 2002 2003 2004 2005
Vốn đầu tư (tỷ đồng) 151.183 199.105 231.616 275.000 335.000
11
Vốn sản xuất gia tăng (tỷ
đồng)
104.582 120.611 142.568 179.000 220.000
VSX/VĐT(%) 69,7 60,5 61,5 65,1 62,8
Nguồn: niên giám thống kê 2005
Bảng trên cho thấy tính kém hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư. So sánh giữa
mức vốn đầu tư hàng năm và vốn sản xuất gia tăng, tỷ lệ vốn đầu tư trở thành vốn
sản xuất gia tăng hàng năm không ổn định và thường chỉ đạt khoảng 60% thời kỳ
2001-2005, tỷ lệ này thấp hơn so với thời kỳ 1996-2000. Vốn đầu tư còn bị lãng
phí thất thoát lớn, chi phí giả phóng mặt bằng cao, thời gian thi công chậm, đầu tư
dàn trải, tỷ lệ dở dang lớn hơn mức cần có.
- Điều đáng quan tâm thứ ba là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước bị sử dụng kém
hiệu quả nhất. Điều này thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng: Cơ cấu đầu tư và cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế (giá thực tế)
Cơ cấu vốn đầu tư (%) Cơ cấu GDP (%)
Năm 1995 2000 2004 2005 2006 1995 2000 2004 2005 2006
Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100
Khu vực nhà nước 42 59,1 53,6 52,2 46,8 40,2 38,5 39 38,4 36,04
Khu vực ngoài
quốc doanh
27,6 22,9 30,9 32,1 37,8 53,5 48,2 45,6 45,7 47,78
Khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài
30,4 18 15,5 15,7 15,4 6,3 11,4 15,2 15,9 16,18
-Tỷ lệ nghèo đói(%)
17,5 14,5 11 8,31 7
-Số điểm % giảm nghèo giảm xuống so với năm trước
- 3 3,5 2,96 1,31
Nguồn: Tính toán từ số liệu của kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội
2006-2010 (Bộ kế hoạch và đầu tư)
Qua bảng trên cho thấy: Tác động của tăng trưởng đến xóa đói giảm nghèo có xu
hướng giảm thời gian qua.Ta thấy trong khi tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm
thời kỳ này tăng lên ngày càng nhanh thì tốc độ giảm tỷ lệ nghèo đói lại có xu
hướng chậm lại: năm 2005 so với 2004 giảm 1,31% tỷ lệ nghèo, chỉ bằng 40%
mức giảm của năm 2002 so với 2001. Hiệu ứng giảm nghèo do tăng trưởng có biểu
hiện giảm đi rõ rệt.
+Bất bình đẳng về kinh tế tăng lên và tác động của nó đến gia tăng nghèo đói ngày
càng lớn.
13
Hiện nay, đi đôi với tăng trưởng nhanh, tình trạng bất bình đẳng về kinh tế đang có
xu hướng gia tăng. Nếu theo dõi động thái thay đổi của tăng trưởng, của tỷ lệ
nghèo đói và hệ số GINI đánh giá sự biến động của bất bình đẳng kinh tế và dựa
vào các số liệu đó để tính toán tác động của tăng trưởng và bất bình đẳng đến giảm
nghéo qua các giai đoạn từ 1993 đến nay ở Việt Nam, có bảng sau:
Bảng: Tác động của tăng trưởng và bất bình đẳng tới giảm nghèo
1993-1998 1998-2003 1993-2003
Thay đổi về tỷ lệ nghèo chung -0,222 -0,075 -0,298
Tác động của tăng trưởng đến giảm nghèo -0,244 -0,117 -0,347
Tác động của bất bình đẳng đến tăng nghèo đói 0,022 0,042 0,049
Nguồn: Klump và Bonschab, 2004
Qua bảng trên ta thấy, trong cả hai giai đoạn, tăng trưởng kinh tế đóng góp lớn vào
giảm nghèo, trái lại bất bình đẳng làm tăng nghèo đói nhưng với mức thấp hơn, do
đó tỷ lệ giảm nghèo vẫn là kết quả cuối cung. Tuy vậy, điều đáng quan tâm ở đây
là tác động của tăng trưởng tới giảm nghèo có xu hướng giảm trong giai đoạn sau,