Vấn đề xóa đói giảm nghèo - Pdf 24

Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development Bank)
- AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area)
- APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific
Economic Cooperation)
- ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nations)
- CEPT: chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của AFTA
(Common Effective Preferential Tariff)
- CNXH: Chủ nghĩa xã hội
- CNTB: Chủ nghĩa Tư bản
- CPRGS: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
(Comprehensive Poverty Reduction and Growth Strategy)
- DN: Doanh nghiệp
- EU: Liên minh Châu Âu (European Union)
- FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
- FPI: Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment)
- HDI: Chỉ số phát triển con người (Human Development Index)
- IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế (International Moneytary Fund)
- MDGs: Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development
Goals)
- NGO: Tổ chức phi chính phủ (Non-Governmental Organization)
- ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
- SEV: Hội đồng Tương trợ Kinh tế (tiếng Nga: Совет экономической
взаимопомощи Sovyet Ekonomičeskoy Vzaimopomošči, SEV (СЭВ, SEW); tiếng
Anh: Council of Mutual Economic Assistance, COMECON hoặc CMEA)
1
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
- TNC: Công ty xuyên quốc gia (Transnational corporation)
- VDG: Mục tiêu phát triển Việt Nam (Vietnam Development Goals)

1.3. VẤN ĐỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO......................................................................................27
1.3.1. Định nghĩa xoá đói giảm nghèo........................................................................................27
1.3.2. Mục tiêu Thiên Niên Kỷ và vấn đề xoá đói giảm nghèo.................................................27
CHƯƠNG 2 .......................................................................................................................................30
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT
NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY................................................................................................................30
2.1. TÌNH TRẠNG NGHÈO ĐÓI Ở VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY......................................31
2.2. NGUYÊN NHÂN.....................................................................................................................37
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan......................................................................................................37
2.2.2. Nguyên nhân khách quan..................................................................................................45
2.3. CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM...............................................47
2.3.1. Những chính sách của Nhà nước trong công tác xoá đói giảm nghèo.............................47
2.3.2. Những thành tựu của công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ năm 1986 đến
nay...............................................................................................................................................58
2.3.3. Những hạn chế của công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ 1986 đến nay......65
CHƯƠNG 3........................................................................................................................................70
QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY THÀNH TỰU CŨNG NHƯ
KHẮC PHỤC HẠN CHẾ CỦA CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM TỚI...........................................................................................................70
3.1. Dựa trên sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm để nâng cao đời sống cho người nghèo.........70
3
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
3.2. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa
và bảo vệ môi trường ......................................................................................................................71
3.3. Xã hội hóa các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là về nguồn lực hướng tới phát triển
bền vững..........................................................................................................................................72
3.4. Đổi mới công tác tổ chức, bảo đảm tính công khai, minh bạch và làm rõ trách nhiệm trong
việc lập kế hoạch, tạo điều kiện để chính quyền địa phương chủ động, người dân bàn bạc, thảo
luận, nhằm tạo ra sự đồng thuận và hợp tác, quyết tâm vượt nghèo, vươn lên làm giàu của các xã
nghèo, vùng nghèo và chính bản thân người nghèo trong quá trình triển khai chương trình xóa

sự Phân chia các nguồn nhân lực. - Ngân hàng thế giới (World bank, 12/ 1994, cập
nhật năm 2000
*. Khảo sát về mức sống tại Việt nam 1997-98: Thông tin cơ bản, Đói nghèo và
Sự phân chia các nguồn nhân lực. - Ngân hàng thế giới (World bank, 4/ 2001)
*. Các vấn đề được lựa chọn của Việt nam, Báo cáo của cán bộ khu vực số
99/55, Quỹ Tiền tệ quốc tế (1999) Washington D.C.
*.Toàn cầu hoá và tình trạng đói nghèo ở Việt nam. - Bản tổng kết 10 tài liệu về
Chương trình nghiên cứu Toàn cầu hoá và tình trạng đói nghèo của Cơ quan Phát
triển Quốc tế của Vương quốc Anh (DFID), do John Thoburn and Richard Jones
thực hiện.
5
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
*. Báo cáo của UNDP về tốc độ xoá đói giảm nghèo của Việt Nam và các thành
tựu trong mục tiêu Thiên Niên Kỷ (MDG) (tháng 9 năm 2003)
*. Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta - thành tựu, thách thức và giải pháp – Phạm
Gia Khiêm - Tạp chí Cộng sản (số 2+3 – 2006).
*. Khảo sát mức sống ở Việt Nam 1997-98 – phân tích, Hà Nội 1999/VN Vũ
Tuấn Anh, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
Các công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề đói nghèo
ở Việt Nam và các thành tựu cũng như hạn chế của Chính Phủ. Nhưng chưa có
công trình nào đi sâu phân tích, tổng kết, nghiên cứu về thực trạng của công cuộc
xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ năm 1986 - bắt đầu thời kỳ Đổi Mới, mở cửa
nền kinh tế. Do đó, đề tài này sẽ đi sâu phân tích thực trạng công cuộc xoá đói giảm
nghèo của Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận chung, đề tài đánh giá thực trạng công cuộc xoá đói
giảm nghèo của Việt Nam từ năm 1986, đưa ra một cái nhìn tổng quan để từ đó gợi
mở một số giải pháp nhằm củng cố và phát huy những thành tựu đã đạt được, đồng
thời khắc phục những tồn tại và thiếu sót trong hơn 20 năm qua.
4.Đối tượng và phạm vi phạm nghiên cứu

các nhóm lợi ích trong xã hội. Tình trạng đói nghèo cao luôn là nguyên nhân gây
bất ổn về kinh tế - xã hội - chính trị của một quốc gia, làm cản trở quá trình phát
triển của nền kinh tế các quốc gia, xét trên khía cạnh dài hạn và hậu quả để lại thì
lâu dài và mức độ tổn thất của nền kinh tế quốc gia sẽ gia tăng theo thời gian nếu
vấn đề nghèo đói không được giải quyết sớm và có chính sách dài hạn và hợp lý
trong công tác xoá đói giảm nghèo.
Nghèo đói không phải là một vấn đề gì mới mẻ với mọi quốc gia. Giải quyết
nạn nghèo đói trở thành vấn đề xuyên suốt trong các chương trình hành động của
các chính phủ. Nghèo đói gây cản trở quá trình phát triển kinh tế - xã hội, và kìm
hãm nguồn lực của quốc gia khi sức sản xuất không có đủ điều kiện để phát triển,
và các quỹ phúc lợi của xã hội phải chia sẻ để hỗ trợ cho những khu vực có mức
thu nhập thuộc loại nghèo. Nghèo đói dai dẳng, rộng khắp khiến sức mua của xã
hội và tổng cầu bị giới hạn, đường giới hạn khả năng sản xuất bị thu hẹp, khó có
khả năng mở rộng do các nguồn lực bị bó buộc trong vòng luẩn quẩn của nghèo đói
mà không thể tận dụng hết.
Nạn nghèo đói thường tập trung ở những vùng sâu vùng xa, hay các vùng
nông thôn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, giao thông khó khăn, trình độ dân trí còn
thấp, và người dân luôn thiếu vốn để đầu tư mở rộng sản xuất. Đói nghèo đi liền
với tình trạng là mức sống thấp, thậm chí cực khổ; môi trường sống xuống cấp; tài
nguyên xung quanh môi trường sống bị tàn phá để kiếm nguồn tư liệu sinh hoạt và
sản xuất phục vụ cho kế sinh nhai của họ (vì nhu cầu thiết thân nhất của những
người thuộc diện nghèo đói là lương thực) do phương thức sản xuẩt chủ yếu là giản
đơn và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Cũng do phương thức sản xuất phụ thuộc
quá lớn vào thiên nhiên nên những người thuộc diện đói nghèo là những người dễ
bị tổn thương nhất trước các biến động của thời tiết và môi trường.
Trên Thế Giới, sau nhiều năm phát triển kinh tế, chỉ có một số it các quốc gia
đạt được mức phát triển cao về thu nhập và mức sống, tuy không phải là không có
8
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
sự bất bình đẳng về thu nhập, nhưng nhìn chung, mức sống của người dân của

Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày/người theo sức mua
tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như
là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó, các giá trị
ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác
định, từ 2 đô la cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước
Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. (Chương trình Phát
triển Liên Hiệp Quốc 1997).
+ Nghèo tương đối
Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các
tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội
nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối đo lường quy mô, theo đó một hộ gia đình được coi là
nghèo nếu nguồn tài chính của họ thấp hơn một ngưỡng thu nhập được xác định là
chuẩn nghèo của xã hội đó.
Chuẩn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã
hội. Một ngưỡng hay được dùng để đo lường nghèo tương đối trong chính trị và
công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình đầu người trong một nền kinh
tế (Từ năm 2001 trong các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người
được coi là nghèo khi có ít hơn 60% giá trị trung bình của thu nhập ròng tương
đương). Lý luận của những người phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho
biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của con người do khi thu nhập đồng loạt tăng
hoặc giảm thì tỷ lệ người nghèo vẫn không đổi mặc dù thu nhập của họ có thay đổi.
Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng vẫn có ít hơn
50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế những người
đó vẫn còn là nghèo tương đối. Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì
sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trong
một nước. Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo có
thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có
thay đổi. Vì vậy, trong ngưỡng nghèo tương đối có pha trộn cả vấn đề phân phối
thu nhập. Vì trên thực tế, không có sự phân định rõ ràng giữa nghèo và giàu nên

thu nhập chung của toàn xã hội. Một nhóm dân cư trong xã hội bị bần cùng hoá và
trở nên nghèo đói. Đó chính là vấn đề công bằng xã hội bị mất cân đối.
Để khảo sát vấn đề công bằng xã hội, người ta sử dụng các thước đo sau:
• Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư
• Đường cong Lorentz
• Hệ số Gini
• Chỉ số nghèo khổ
11
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
*) Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư: tính phân
phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong một thời gian
nhất định, không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập và môi trường sống của
dân cư, mà chia đều thu nhập cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là
người ta chia dân số thành 5 nhóm người, mỗi nhóm có 20% dân số, sau đó xếp
theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập. Qua đó, có thể thấy mức độ công bằng xã
hội thông qua việc so sánh nhóm giàu nhát và nhóm nghèo nhất.
Hình 1.1. Thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% hộ có chi tiêu
thấp nhất Việt Nam (1994 – 2002)
*) Đường cong Lorentz: mô tả chênh lệch trong phân phối thu nhập, được
biểu thị bằng một hình vuông mà cạnh đáy biểu thị phần trăm cộng đồn số người
được nhận thu nhập và cạnh bên biểu thị phần trăm cộng dồn tổng thu nhập được
phân phối. Đường chéo của hình này biểu thị mức dộ bình đẳng tuyệt dối trong
phân phối thu nhập, vì mọi điểm nằm trên đường chéo phản ánh các mức phân bổ
đồng đều giữa phần trăm dân số cộng dồn và phần trăm tổng thu nhập cộng dồn.
Đường cong Lorenz càng gần đường bình đẳng tuyệt đối, phân phối càng công
bằng.
12
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
Hình 1.2. Hệ số Gini và đường cong Lorentz
*) Hệ số Gini cũng là thước đo phổ biến để xác định mức bất bình đẳng

và nợ dài hạn (trên 10 năm).
Một Quốc gia chịu một khoản nợ tức là Quốc gia đó vay tiền để tài trợ cho thâm
hụt ngân sách đang gia tăng, bắng cách phát hành trái phiếu hoặc vay trực tiếp từ
các ngân hàng thương mại, hoặc các tổ chức tín dụng Quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc
tế (tiếng Anh: International Monetary Fund, IMF), Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh:
World Bank, WB), .v.v..; các biện pháp nhằm điều chỉnh thâm hụt ngân sách của
Chính phủ (như tăng thuế và in tiền) khiến hậu quả là lạm phát tăng tốc, giá cả gia
tăng, thu nhập thực tế của mỗi người dân sẽ bị giảm đi một phần. Mức độ nợ Quốc
gia cao (hoặc vượt quá khả năng chi trả của Quốc gia đó) dẫn tới tình trạng là mỗi
người dân sẽ phải gánh trên mình một khoản nợ tính theo đầu người là rất cao, nếu
vượt quá khả năng thu nhập thực tế của người dân thì khả năng chi trả nợ của Quốc
gia là bất khả thi, dẫn tới tình trạng xấu nhất là sự phá sản khủng hoảng kinh tế - xã
hội của toàn bộ nền kinh tế đó. Hậu quả của Nợ Chính phủ tới nền kinh tế - xã hội
đó là:
Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường
xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.
Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì
sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu
chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã
chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu
tư.
Để thu hút người dân mua trái phiếu, chính phủ sẽ nâng lãi suất trái phiếu lên
khiến lãi suất thị trường nhìn chung là tăng cao hơn trước. Lãi suất cao khiến đầu
14
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
tư từ khu vực tư nhân bị suy giảm, còn người dân thì tích cực tiết kiệm, dẫn tới suy
giảm chi tiêu và suy giảm sản lượng quốc gia. Lãi suẩt trong nước được nâng cao
hơn so với lãi suất nước ngoài khiến luồng ngoại tệ đổ vào trong nước lớn và tỷ giá
hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, kéo theo đó là xuất khẩu ròng bị
suy giảm. Điều này lãi dẫn tới thâm hụt thương mại quốc gia.

Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ 2008 vừa qua, hậu quả kéo theo
đó là sự suy thoái ở một loạt các nền kinh tế trên Thế giới. Do các sai lầm trong
chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của các chính phủ (chủ yếu là Mỹ), Chính phủ
Mỹ đã lơi lỏng việc kiểm soát những dấu hiệu bất thường của nền kinh tế (bắt đầu
từ thị trường nhà đất và tín dụng), chủ trương để thị trường tự điều tiết, hạn chế sự
tác động từ Nhà nước, khiến mọi việc dần trở nên mất kiểm soát, và đã dẫn tới sự
đổ vỡ dây chuyền của một loạt các công ty và các thiết chế tài chính khổng lồ,
không những lớn nhất nước Mỹ mà còn lớn nhất Thế giới. Khi nền kinh tế Mỹ hoạt
động không hiệu quả, lãi suất tăng tạo nên gánh nặng trả nợ với những người thu
nhập thấp, thất nghiệp gia tăng thì rủi ro cho vay nợ dưới chuẩn, bị ảnh hưởng
nhanh nhất. Không trả được nợ, hàng loạt người mua nhà bị xiết nợ và phát mại tài
sản (như Cleveland (Ohio), thành phố đầu tiên châm ngòi cho cuộc khủng hoảng
lan rộng ra toàn nước Mỹ và thế giới, theo số liệu thống kê, khoảng 1/10 số nhà tại
Cleveland bị thu hồi để phát mại). Những người nhập cư thu nhập thấp tại Mỹ
không thể mua nhà. Sau đó, do sự cung vượt cầu, hàng loạt ngôi nhà không bán
được thì giá nhà tại Mỹ lại giảm thảm hại, mức tồi tệ nhất từ cuộc khủng hoảng tài
chính năm 1930. Điều này khiến Mỹ phải cắt giảm lãi suất liên tục nhằm cứu vãn
nền kinh tế. Hậu quả của cuộc khủng hoảng là con số thất nghiệp gia tăng nhanh
chóng, chỉ riêng trong ngành xây dựng đã có từ 1 – 2 triệu người bị mất việc làm.
Qua đó, chúng ta có thể thấy hậu quả của sự hoạt động kém hiệu quả của nền kinh
tế và những thất bại trong chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ tác động tiêu cực
đến đời sống người dân như thế nào.
Các nước đang phát triển, thường thì đói nghèo biểu hiện rõ nguyên nhân do
nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả gây nên. Hầu hết đó đều là các nền kinh tế mới
chuyển đổi từ các mô hình kinh tế cũ, cơ sở vật chất còn lạc hậu, thiếu các nguồn
lực và đặc biệt là trình độ tổ chức quản lý nền kinh tế còn thấp kém, sử dụng lãng
phí các tư liệu sản xuất. Công nghệ hầu hết là mua lại từ các nước phát triển và lạc
hậu hơn hàng chục năm so với công nghệ các nước đó, sử dụng nhiều lao động và
tiêu hao nhiều nguyên liệu, khiến năng suất lao động của người lao động thấp, thời
gian hao phí lao động xã hội cần thiết cao, dẫn tới giá trị của hàng hoá cao hơn giá

vào kỹ năng và giáo dục có thể được xem là bồi đắp nguồn vốn/tư bản con người
hoặc vốn hiểu biết, và những đầu tư vào tài sản trí tuệ được con là xây dựng nguồn
vốn trí tuệ. Lý thuyết phát triển nguồn lực con người mô tả vốn con người là thực
thể bao gồm những yếu tố xã hội, nhân rộng và sáng tạo riêng biệt:
• Nguồn vốn xã hội là giá trị của hệ thống những mối quan hệ đáng tin cậy
giữa những cá nhân trong một nền kinh tế.
• Nguồn vốn cá nhân là ưu điểm trong mỗi con người, được bảo vệ bởi xã hội
và đem trao đổi để thu về sự tin cậy hoặc tiền bạc. Những khái niệm gần với
nó là “tài năng”, “sự tháo vát”, “sự lãnh đạo”, “những kiến thức được đào
tạo”, hoặc “những khả năng bẩm sinh”. Đây là nguồn vốn không dễ tạo ra
được bằng cách kết hợp các dạng tư bản vật chất và phi vật chất kể trên.
Nhưng còn những cách phân loại vốn khác được sử dụng trên lý thuyết hoặc áp
dụng trong thực tiễn gồm:
• Vốn tài chính là dạng tiền hoặc quyền lợi, quyền sở hữu. Nó ở dạng tài sản
vốn, đuợc giao dịch trên các thị trường tài chính. Giá trị của tư bản tài chính
17
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
không nằm ở sự tích tụ theo thời gian mà ở niềm tin của thị trường vào khả
năng sinh lợi và những rủi ro đi kèm.
• Vốn thiên nhiên là những đặc điểm sinh thái và được cộng đồng bảo vệ để
duy trì cuộc sống, ví dụ một con sông đưa nước đến các nông trang.
• Vốn cơ sở hạ tầng là hệ thống hỗ trợ do con người tạo ra (ví dụ những chốn
ăn ở, đường xá, trang phục, máy tính cá nhân, v.v..), những vật chất sẵn có
giúp cho việc đâu tư, xây dựng một doanh nghiệp mới cần ít vốn, nguồn lực
hơn. Khác với vốn thiên nhiên, nguồn vốn cơ sở hạ tầng không tự khôi phục
và phát triển, chúng cần được xây dựng, bổ sung.
Vốn tự nhiên và vốn xã hội đều là tư bản/vốn, giống như vốn cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất và chúng là những dạng tư bản tách biệt. Chúng được sử dụng, phát
huy để tạo ra hàng hóa khác và không tiêu dùng hết ngay trong quá trình sản xuất,
hơn thế chúng có thể được tạo ra, làm giàu thêm bởi nỗ lực của con người.

và ý thức môi trường kém, tình trạng du canh du cư, khai thác cạn kiệt nguồn tài
nguyên để đổi lấy những nguồn thu nhập trong ngắn hạn, khiến hâu quả tiêu cực
gây tác động ngược trở lại mang tính lâu dài là thiên tai và hạn hán xảy ra với
cường độ và tần suất càng nhiều hơn, tàn phá mùa màng và tính mạng con người.
Những người nghèo đói lại càng nghèo đói hơn, tất cả thành quả lao động của họ
không lấy gì là nhiều cũng bị mất mát do thiên tai, mà nguyên nhân chủ yếu vì sự
tàn phá của con người.
+ Chịu tác động từ các biến động xấu của nền kinh tế thế giới
Khi nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, thì nó tiềm ẩn
cả những cơ hội lớn và đi kèm là những rủi ro cao. Mỗi biến động của nền kinh tế
Thế giới dù lớn hay nhỏ thì cũng đều gây ra một phản ứng dây chuyền trong các
nền kinh tế trong đó. Cho nên khi khủng hoảng kinh tế Thế giới xảy ra trên diện
rộng, với các mức độ sâu rộng hay cục bộ trong một số lĩnh vực thì nó cũng đều
gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế quốc gia, nhất là khi khủng hoảng kinh tế thế
giới xảy ra trong những mắt xích quan trọng và các lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh
tế Thế giới thì hệ quả xảy tới với nền kinh tế Quốc gia là càng thêm nghiêm trọng,
công ăn việc làm bị cắt giảm, thất nghiệp tăng, đời sống kinh tế - xã hội rơi vào
thời kỳ khó khăn, các nhu cầu vật chất thiết yếu của xã hội không được đáp ứng
đầy đủ. Và xuất hiện các tầng lớp người dân bị nghèo đói hoá.
Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), khoảng 40 trong số 107 nước
đang phát triển có nguy cơ bị ảnh hưởng cao do khủng hoảng kinh tế toàn cầu
2008, các nước còn lại có khả năng bị ảnh hưởng trung bình và chỉ có 10% các
nước bị ảnh hưởng nhẹ. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn đe dọa đến việc thực
hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Tăng trưởng kinh tế chậm làm khoảng 46
triệu người không thoát được nghèo (ở mức 1,25 đô la/ngày) và khoảng 53 triệu
người khác sẽ vẫn sống ở mức dưới 2 đô la/ngày. Bên cạnh đó là khoảng 130 – 155
triệu người vừa tái nghèo do cuộc khủng hoảng lương thực và năng lượng. Mà các
nước nghèo lại là những nước chịu thiệt hại nặng nhất, các chính phủ ở các nước
nghèo không thể huy động đủ nguồn tài chính để khắc phục hậu quả
19

của mình để đối phó với sự tham nhũng mỗi khi cần liên hệ với chính quyền, trong
khi thu nhập của họ cũng không phải là ở mức cao.
20
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
1.1.2.3. Xã hội:
+ Giáo dục kém phát triển
Nguồn nhân lực chất lượng cao giờ đây trở thành một nhu cầu tiên quyết
trong phát triển kinh tế theo hướng hiện đại. Nhưng chất lượng lao động thấp lại trở
thành nguyên nhân dẫn tới vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Chất lượng lao động
thấp khiến cho quá trình làm chủ công nghệ tiên tiến để cải thiện năng suất lao
động xã hội trở nên khó khăn và dài lâu. Năng suất thấp dẫn tới thu nhập thấp là
điều tất yếu.
Đa số người nghèo đều chưa học hết bậc học trung học, thậm chí là mù chữ
do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không đủ tài chính để chi tiêu cho giáo dục. Sản
phẩm của giáo dục mang tính dài hạn mà nhu cầu kiếm kế sinh nhai của người
nghèo lại mang tính ngắn hạn. Về chất lượng giáo dục, những quốc gia nghèo
thường tập trung đầu tư ngân sách đầu tư cho các chương trình kinh tế, công cộng,
mà ít chú ý tới đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục, quan tâm tới việc phổ cập giáo
dục cho toàn dân. Tỷ lệ trẻ em tới trường ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng
xa thấp, cùng với đó là tình trạng trẻ em bỏ học luôn ở mức cao do đời sống khó
khăn. Trẻ em phải tham gia các hoạt động kinh tế của gia đình nên không có thời
gian và kinh phí học tập. Điều kiện cơ sở vật chất và nhân lực đào tạo ở những
vùng khó khăn nhìn chung là thiếu và yếu. Trong kinh tế, điều quyết định là hiệu
quả sản xuất, tức là tri thức, kỹ năng của người lao động. Người kinh doanh giỏi thì
giàu lên, người kinh doanh kém thì thua lỗ và không khắc phục được thì sẽ nghèo
đi. Cái quyết định ở đây lại là trình độ học vấn hay trình độ văn hóa trong hoạt
động kinh tế của từng cá nhân. Thực tế cho thấy rằng, những người được học tập
đến nơi đến chốn, có tri thức thì nói chung ít rơi vào tình trạng đói nghèo, mặc dầu
không phải toàn là người giàu có.
+ Dân số tăng nhanh và bất bình đẳng về giới

Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức
độ giàu nghèo.
Bảng 1.3. Chuẩn mực nghèo của một số nước Châu Á
Quốc gia Đơn vị tính
Chuẩn nghèo
Thu nhập Chi tiêu
Đông Á
Trung Quốc Nhân dân tệ/năm 625,00
Đông Nam Á
Cam-pu-chia Riên/ngày 1.837,00
Lào Kip/tháng 20.911,00
Phi-lip-pin Pê-sô/năm 11.605,00
Thái Lan Bạt/tháng 882,00
Việt Nam Nghìn đồng/năm 1.790,00
22
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
Quốc gia Đơn vị tính
Chuẩn nghèo
Thu nhập Chi tiêu
Nam Á
Ấn Độ
Thành thị Ru-pi Ấn
Độ/tháng
454,11
Nông thôn Ru-pi Ấn
Độ/tháng
327,56
Nê-pan Ru-pi Nê Pan/năm 4.404,00
Pa-ki-xtan Ru-pi Pa-ki-
xtan/tháng

23
Khoa Kinh Tế Chính Trị - Trường Đại Học Kinh Tế
Cam-pu-chia 1999 35,9 34,1 37,7
In-đô-nê-xi-a 2002 18,2 7,5 52,4
Lào 1997 38,6 39,0 81,7
Ma-lai-xi-a 1999 7,5 0,2 9,3
Mi-an-ma 1997 22,9
Phi-lip-pin 2000 34,0 15,5 47,5
Thái Lan 2002 9,8 1,9 32,5
Việt Nam 2002 28,9 13,1 58,5
Nam Á
Bang-la-đét 2000 49,8 36,0 82,8
Ấn Độ 1999 26,1 36,0 81,3
Man-đi-vơ 1998 43,0 0,1 2,9
Nê-pan 1996 42,0 39,1 80,9
Pa-ki-xtan 1999 32,6 25,3 77,2
Xri Lan-ca 1995 25,2 6,6 45,4
Trung Á
A-déc-bai-gian 2001 49,6 3,7 33,4
Ca-dắc-xtan 2002 27,9 0,1 8,5
Cư-rơ-gư-xtan 2000 52,0 0,9 27,2
Ta-gi-ki-xtan 2003 56,6 13,9 58,7
Tuốc-mê-ni-xtan 1998 29,9 12,1 44,0
U-dơ-bê-ki-xtan 2000 27,5 17,3 71,7
Thái Bình Dương
Mic-rô-nê-xi-a 1998 27,9 5,2 19,7
Pa-pua Niu Ghi-

1996 37,5 24,6 54,4
Xa-moa 2002 20,3 5,5

thu nhập thì nó còn tạo nên mâu thuẫn trong xã hội và tích luỹ dần, dẫn tới những
bất ổn về chính trị và xã hội, ảnh hưởng tới phát triển kinh tế. Khi sự bất ổn diễn ra
đến mức mất kiểm soát, nó sẽ gây ra tình trạng hỗn loạn, sự vô chính phủ, trì trệ
kinh tế, và điều đáng nói là nỗ lực xoá đói giảm nghèo sẽ bị thử thách về thời gian
lâu dài và các thành quả trước đó cũng sẽ mất mát.
Kinh tế và xã hội là hai vấn đề cùng tương tác qua lại lẫn nhau, và quy định
lẫn nhai. Có thể nói, sự ổn định của một trong hai vấn đề này cũng liên hệ tới sự ổn
định của vấn đề còn lại. Kinh tế có phát triển, thu nhập của người dân được tăng
lên, phân phối thu nhập công bằng mới tạo điều kiện vật chất cho xã hội phát triển.
Ngược lại, xã hội có ổn định, hài hoà, mới tạo điều kiện cho nền kinh tế hoạt động
hiệu quả, lâu dài, phát huy được mọi nguồn lực xã hội để phát triển. Vấn đề đói
nghèo gây tác động tổn hại tới cả hai mặt kinh tế và xã hội. Mức độ nghèo đói
trong xã hội quá cao, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập xã hội càng lớn thì
càng thúc đẩy mâu thuẫn và sự đối kháng giữa các tầng lớp trong xã hội. Điều đó
tất yếu thường dẫn tới sự xuất hiện của các cuộc đấu tranh xã hội của các tầng lớp
thu nhập thấp và tận cùng xã hội, thậm chí dẫn tới bạo loạn phạm vi rộng. Nền kinh
25

Trích đoạn Nguyên nhân khách quan Những chính sách của Nhà nước trong công tác xoá đói giảm nghèo Những thành tựu của công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ năm 1986 đến Những hạn chế của công cuộc xoá đói giảm nghèo của Việt Nam từ 1986 đến nay Dựa trên sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm để nâng cao đời sống cho người nghèo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status