ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MINH HÒA
NGUỒN VỐN ODA VỚI VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO Ở TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
i
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
iii
PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN VỐN
ODA VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
7
1.1. Tổng quan về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA)
7
1.1.1. Khái niệm và nguồn gốc ODA 7
1.1.2. Đặc điểm của nguồn vốn ODA 11
1.1.3. Phân loại nguồn vốn ODA 13
1.2. Một số vấn đề chung về xóa đói giảm nghèo
19
1.2.1. Khái niệm về đói nghèo 19
xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình
81
2.2.1. Thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng tạo cơ hội cho người
nghèo tiếp cận các dịch vụ công
81
2.2.2. Hỗ trợ phát triển nông nghiệp và nông thôn tạo điều kiện
xóa đói giảm nghèo trên diện rộng
83
2.2.3. Tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người
nghèo
85
2.2.4. Hỗ trợ phát triển nền giáo dục công bằng và chất lượng cho
người nghèo
85
2.2.5. Giúp cải thiện mạng lưới an sinh xã hội 86
2.3. Đánh giá chung về nguồn vốn ODA với xoá đói giảm
nghèo và bài học rút ra ở tỉnh Ninh Bình
88
2.3.1. Những thành tựu đã đạt được 88
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế 91
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 92
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA
NGUỒN VỐN ODA TRONG CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO Ở
TỈNH NINH BÌNH
95
3.1. Những cơ hội, thách thức và mục tiêu giảm nghèo đến
năm 2020 ở tỉnh Ninh Bình
95
3.1.1. Những cơ hội, thách thức đặt ra cho công cuộc giảm nghèo 95
3.1.2. Quan điểm điểm, mục tiêu của tỉnh Ninh Bình về giảm
Sử dụng vốn ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ
tăng trưởng và giảm nghèo
108
3.2.11.
Tập trung vốn ODA hỗ trợ phát triển các ngành, lĩnh vực
phục vụ tăng trưởng và giảm nghèo
109
3.2.12.
Đầu tư phát triển mạng lưới an sinh xã hội cho người nghèo
và các đối tượng yếu thế
110
3.2.13 Xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện các chương trình,
dự án giảm nghèo
111
KẾT LUẬN
113
TÀI LIỆU THAM KHẢO
115
PHỤ LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
tế
8 IFAD
International Fund for
Agriculture Development
Quỹ Nông nghiệp Quốc
tế
9 JIBIC
Japan Bank for International
Cooperation
Ngân hàng Hợp tác Quốc
tế Nhật Bản
10 JICA
The Japan International
Cooperation Agency
Tổ chức Hợp tác Quốc tế
Nhật Bản
11 KHKT Khoa học kỹ thuật
12 MTTQ Mặt trận Tổ quốc
13 NGOs Non-Governmental Tổ chức phi chính phủ
ii
Organizations
14 ODA
Official Development
Assistance
Hỗ trợ Phát triển Chính
thức/ Viện trợ Phát triển
Chính thức
15 OECD iii
DANH MỤC BẢNG
STT
SỐ
HIỆU
NỘI DUNG Trang
1 Bảng 1.1
Chuẩn mực đánh giá đói nghèo qua các giai đoạn
24
2 Bảng 1.2
Chuẩn nghèo ở Việt Nam qua các năm 27
3 Bảng 2.1
Tình hình diện tích đất đai, dân số tỉnh Ninh
Bình phân theo các đơn vị hành chính năm 2009
51 + 52
4 Bảng 2.2
Số liệu hộ nghèo tỉnh Ninh Bình năm 2006 57
5 Bảng 2.3
Một số dự án sử dụng nguồn vốn ODA trong ở
tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006-2011
79 + 80
DANH MỤC HÌNH VẼ
STT
SỐ
HIỆU
NỘI DUNG Trang
1 Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Bình 49
- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mặc dù đã bước ra khỏi hàng ngũ các nước có thu nhập bình quân đầu
người thấp nhưng Việt Nam vẫn mang đặc điểm điển hình của một nước đang
phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân còn gặp rất
nhiều khó khăn. Ngay từ khi giải phóng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã
nhận thức được thực trạng đói nghèo và những tác động của nó đến quá trình
phát triển, chính vì vậy đã dành sự quan tâm đặc biệt đến việc trợ giúp người
dân thoát khỏi đói nghèo và coi đó là một nhiệm vụ quan trọng để ổn định và
phát triển đất nước. Sau 26 năm thực hiện Đường lối đổi mới, 21 năm thực
hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nước ta
đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và xoá đói
giảm nghèo, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 12,3% năm
2009 và 10,7% vào năm 2010 [24]. Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo hiện nay vẫn còn ở
đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình” được tác giả lựa chọn nghiên cứu
làm luận văn tốt nghiệp. Đây là đề tài mang tính thực tiễn cao và có đóng góp
lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình nói riêng và cả nước
nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến vấn đề nguồn vốn ODA hoặc khai thác khía cạnh ODA
nói chung có một số sách và khá nhiều công trình nghiên cứu đã được công
bố và có giá trị thực tiễn cao như:
- Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban
hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính
- 3 -
phủ. Quy chế ban hành các quy định chung; trình tự các bước từ giai đoạn vận
động đến ký kết điều ước quốc tế; theo dõi đánh giá chương trình, dự án và
quản lý nhà nước về ODA. Quy chế này đã thể hiện nhiều quan điểm mới
trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA. Sau bốn lần ban hành, Quy
chế này được coi là phù hợp và dễ đưa vào ứng dụng nhất. Nhưng quy chế
mới chỉ là văn bản khung hướng dẫn việc quản lý và sử dụng ODA.
- Cuốn “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA: Những hiểu biết căn bản
và thực tiễn ở Việt Nam” - Hà Thị Ngọc Oanh - NXB Giáo Dục, 1998, 98 tr.
Trong đó, tác giả đã trình bày lịch sử hình thành, khái niệm, phân loại, tác
dụng của ODA; tình hình cung cấp và tiếp nhận ODA trên thế giới; tình hình
huy động, tiếp nhận vốn và nguồn huy động ở Việt Nam; những khó khăn và
thuận lợi trong huy động, tiếp nhận ODA ở Việt Nam.
- Cuốn “Quy định pháp luật về quản lý, sử dụng nguồn hỗ trợ phát
triển chính thức ODA” - NXB Chính trị Quốc gia, 2003, 325tr. thì bao gồm
các văn bản qui định về việc miễn thu lệ phí trước bạ, về thuế giá trị gia tăng,
về quản lý hạch toán vốn hoàn thuế giá trị gia tăng, hướng dẫn kế toán tiếp
nhận và sử dụng viện trợ… cho các dự án ODA không hoàn lại.
giảm nghèo của một tỉnh cụ thể, đó là tỉnh Ninh Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Luận văn đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn
ODA và vai trò của nó đến vấn đề xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình, từ đó đề xuất những quan điểm, định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA trong việc xóa đói giảm nghèo của tỉnh
Ninh Bình trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- 5 -
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến nguồn vốn ODA và
vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình.
- Phân tích vai trò của nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo
ở tỉnh Ninh Bình, rút ra những thành tựu, hạn chế của tỉnh Ninh Bình trong
việc sử dụng nguồn vốn ODA đối với vấn đề xoá đói giảm nghèo.
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA
trong công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của nguồn vốn ODA trong lĩnh vực
xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu về vai trò của nguồn vốn ODA với vấn đề
xóa đói giảm nghèo, tập trung vào các lĩnh vực hỗ trợ phát triển nông nghiệp,
giáo dục công bằng và chất lượng cho người nghèo, tạo công ăn việc làm, cải
thiện mạng lưới an sinh xã hội…
Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu vào lĩnh vực xoá đói giảm nghèo
ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 - 2010.
giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 - 2010.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA
trong công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới. - 7 -
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA
VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Tổng quan về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
1.1.1. Khái niệm và nguồn gốc ODA
Như chúng ta biết ngoài các nguồn lực trong nước giữ vai trò quyết
định, thì nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò quan trọng
là chất xúc tác đối với tăng trưởng kinh tế nói chung và thúc đẩy công tác xoá
đói giảm nghèo nói riêng ở nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên, thực
trạng huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ở nước ta còn nhiều tồn
tại, bất cập, hiệu quả chưa cao. Vì vậy để vận dụng nguồn ODA có hiệu quả
hơn nữa, chúng ta cần nghiên cứu kỹ khái niệm và hoàn cảnh ra đời và quá
trình phát triển của nó.
ODA là một bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt của nguồn vốn vay và
tài trợ quốc tế; được hình thành và ra đời từ những năm sau Chiến tranh Thế
giới lần thứ hai khi các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận về sự giúp
đỡ dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi cho
các nước đang phát triển. Ngày 14/02/1960, tại Pari các nước đã ký thoả
thuận thành lập Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế ( Organisation for
Economic Cooperation and Development - OECD). Tổ chức này bao gồm 20
nước thành viên, ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung
cấp ODA song phương và đa phương. Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển,
bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi
công pháp quốc tế.
- 9 -
Ủy ban Viện trợ Phát triển đưa ra khái niệm về ODA dưới góc độ của
nhà tài trợ cho các nước đang và kém phát triển nhằm giúp các nước này phát
triển kinh tế - xã hội thông qua các Hiệp định quốc tế. Tuy nhiên, khái niệm
này của Ủy ban Viện trợ Phát triển quá chú trọng đến nguồn tài trợ song
phương, phù hợp với thực tế là Ủy ban này là cơ quan chủ trì về viện trợ song
phương của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Còn theo Ngân hàng Thế giới (WB): ODA là một bộ phận của Quỹ Hỗ
trợ Phát triển trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu
đãi và viện trợ không hoàn lại phải chiếm ít nhất 25 % trong tổng số viện trợ.
Ngân hàng Thế giới đưa ra khái niệm về ODA bao gồm cả viện trợ
song phương và đa phương, tuy nhiên khái niệm này nhấn mạnh đến khía
cạnh tài chính của ODA (ODA là tập hợp con của Quỹ Hỗ trợ Phát triển
Chính thức) mà không đề cập đến mục tiêu của ODA.
Theo định nghĩa của Nhật Bản: Một loại viện trợ muốn là ODA phải có
đủ ba yếu tố:
- Do chính phủ hoặc cơ quan thực hiện của chính phủ cấp;
- Có mục đích góp phần phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho
nước nhận viện trợ;
- Tính ưu đãi phải trên 25%.
Trong đó tính ưu đãi là một chỉ số tổng hợp từ ba yếu tố: lãi suất, thời
hạn trả nợ hoặc không trả lãi (còn gọi là thời gian ân hạn) trong tương quan so
sánh với các yếu tố tương quan của Ngân hàng Thương mại.
Nhật Bản đã đưa ra được khái niệm về ODA đầy đủ hơn so với khái
niệm về ODA của Ủy ban Viện trợ Phát triển và Ngân hàng Thế giới ở điểm
đã xác định được rõ tính ưu đãi mà một khoản vay phải đạt được để có thể
- 11 -
Chính thức (ODA) là hoạt động viện trợ đầu tư của một chính phủ hay một tổ
chức Liên chính phủ cho chính phủ một nước khác giúp chính phủ nước đó
giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của nguồn vốn ODA
Như đã nêu trong phầ n khái niệm, ODA là các khoản viện trợ
không hoàn lại, viện trợ có hoàn
lại
hoặc tín dụng ưu đãi. Do vậy, ODA có
những đặc điểm chủ yếu
sau:
1.1.2.1. Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA
Tính ưu đãi của vốn ODA được thể hiện như sau:
- Thời gian cho vay khá dài (thường từ 25 – 40 năm), thời gian ân hạn
từ 8 đến 10 năm.
- Khối lượng vốn vay lớn với lãi suất ưu đãi (từ 0 – 3% năm). Do vậy,
với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển, ODA ưu đãi hơn bất cứ một
nguồn tài trợ nào khác.
-
Thông thường, ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này
không dưới 25% tổng số vốn ODA được tài trợ. Đây chính là đặc điểm phân
biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. Thành tố cho không được xác định
dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với
mức lãi suất tín dụng thương mại. Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tập quán
thương mại quốc tế.
- Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước
Việc tài trợ ODA của các nước phát triển thường đi kèm với các điều
kiện ràng buộc. Tùy mục đích đầu tư của từng nhà tài trợ mà có những điều
kiện ràng buộc khác nhau. Bên cạnh một số nhà tài trợ chỉ quan tâm đến yếu
tố an toàn của việc viện trợ (thường đi kèm với các điều kiện như tốc độ phát
triển kinh tế phù hợp, ổn định về chính trị) thì tồn tại những nhà tài trợ luôn
ép các nước nhận tài trợ phải sử dụng dịch vụ hàng hóa (thậm chí hàng hóa dư
thừa) của mình sản xuất ra hoặc sử dụng ODA như một phương tiện để điều
- 13 -
chỉnh các chính sách kinh tế - chính trị của các nước nhận viện trợ theo hướng
có lợi cho các nước tài trợ.
Vì vậy, có thể thấy rằng viện trợ của các nước phát triển không chỉ
đơn thuần là sự trợ giúp vô tư, mà còn là một công cụ lợi hại để kiếm lời cả
về kinh tế và tài chính cho nước tài trợ. Những nước cấp viện trợ gò ép các
nước nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của
bên viện trợ. Khi nhận viện trợ các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng các điều
kiện của các nhà tài trợ, không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những
quyền lợi lâu dài. Quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn
trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hoà
bình.
1.1.2.3. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Một điểm nữa cần phải nhấn mạnh rằng ODA là nguồn vốn vay nợ của
nước ngoài, là nguồn vốn mà nước đi vay sẽ thanh toán trong một thời gian
nhất định. Chính vì vậy cần phải xem xét dự án viện trợ trong điều kiện tài
chính tổng thể, nếu không, việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng
nợ lâu dài cho nền kinh tế.
1.1.3. Phân loại nguồn vốn ODA
Tuỳ theo từng tiêu chí phân loại mà người ta có thể phân loại ODA như
các nước ở khu vực Châu Á.
- Các nước đang phát triển:
Hiện nay, một số nước đang phát triển cũng cung cấp ODA như Ấn Độ,
Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Việc tài trợ ODA của các nước này còn
chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như: nhãn quan chính trị, quan điểm
- 15 -
cộng đồng, nhân đạo, ổn định kinh tế - xã hội quốc tế. Nhưng nhìn chung
lượng tài trợ của những nước này nhỏ và không đáng kể.
* Nguồn ODA từ các nhà tài trợ đa phương:
Các tổ chức viện trợ đa phương đang hoạt động gồm có các tổ chức
thuộc hệ thống Liên Hiệp Quốc, Liên minh Châu Âu, các tổ chức phi chính
phủ (NGOs) và các tổ chức tài chính quốc tế.
- Các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc:
Hầu hết viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hiệp Quốc như
Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (The United Nations
Development Programme - UNDP), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
của Liên Hiệp Quốc (The United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization - UNESCO), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (The United
Nations International Children's Emergency Fund - UNICEF),… đều được
thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại, ưu tiên cho các nước đang
phát triển có thu nhập thấp và không ràng buộc về các điều kiện chính trị nặng
nề. Viện trợ thường tập trung cho các nhu cầu có tính chất xã hội như xoá đói
giảm nghèo, y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội, sức khoẻ - dân số, bảo vệ môi
trường
- Liên minh Châu Âu (EU):
Liên minh Châu Âu là tổ chức có tính chất kinh tế xã hội của 15 nước
công nghiệp phát triển ở Châu Âu, EU có quỹ lớn, song chủ yếu ưu tiên viện
trợ cho các thuộc địa cũ ở Châu Phi, Nam Thái Bình Dương. Những lĩnh vực
lĩnh vực giáo dục, y tế. Các nước Châu Âu hiện nay dành một phần khá lớn
ODA không hoàn lại cho vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ rừng và