Nguồn vốn ODA với công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam - Pdf 12

MỤC LỤC
Phần I: Mở đầu 2
n III: Kết luận 18
Phần I. Mở đầu
1.Lý do chọn đề tài.
Bước sang thế kỷ 21, thế giới đang có những bước phát triển vượt bậc trong các
lĩnh vực khoa học – công nghệ, kinh tế và nhiều lĩnh vực khác. Ngày càng có nhiều phát
minh mới, sản phẩm mới xuất hiện phục vụ đời sống con người, con người vừa là trung
tâm vừa là mục tiêu của phát triển và trên thực tế những nhu cầu của con người đang
được đáp ứng ở mức độ ngày càng cao. Song, trên thế giới hiện nay vẫn còn hàng triệu
triệu người đang phải sống trong cảnh nghèo đói và không được đáp ứng những nhu cầu
cơ bản nhất như: lương thực, thực phẩm, nước sạch, vệ sinh…vv
Bên cạnh đó, ngày nay loài người cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nhức
nhối mang tính toàn cầu như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, chiến tranh, khủng bố v.v.
mà những vấn đề này không phải riêng của một quốc gia nào và một quốc gia riêng biệt
cũng không thể giải quyết được. Vì vậy, các nước ngày càng xích lại gần nhau hơn để
cùng hợp tác giải quyết vấn đề chung. Trong nỗ lực chung để xây dựng một thế giới hoà
bình, phồn thịnh các nước có nền kinh tế phát triển đã cam kết hỗ trợ tài chính và kỹ
thuật cho các nước đang và chậm phát triển nhằm giúp các nước này thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu và hội nhập với thế giới.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đời
sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn , đang trong quá trình đưa đất nước phát triển
đi lên và phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối
đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và
xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang là một nước nghèo, thu nhập bình
quân đầu người vào loại thấp và vẫn còn hàng triệu người dân hiện đang sống trong cảnh
nghèo đói và dễ bị tổn thương.
Để tiếp tục thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững, thực hiện có hiệu quả chính
sách xoá đói giảm nghèo. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng các chiến lược phát triển,
chiến lược huy động các nguồn lực phục vụ cho tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo.
Trong các nguồn lực có thể huy động cho công cuộc xoá đói giảm nghèo thì các nguồn

2.1. Phân loại theo tính chất
Theo cách phân loại này, vốn ODA được chia thành:
Viện trợ không hoàn lại gồm các khoản cho không, không phải trả lại.
Viện trợ có hoàn lại: Các khoản vay ưu đãi hay tín dụng với điều kiện “mềm”
Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức tín
dụng (có thể ưu đãi hoặc thương mại)
2.2. Phân loại theo mục đích
Bao gồm:
Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế, xã hội và môi trường. Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi
Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây
dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư, phát triển thể
chế và nguồn nhân lực… loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại
2.3. Phân loại theo điều kiện
Bao gồm:
3 / 18
ODA không ràng buộc nước nhận: Việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi
nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
ODA có ràng buộc nước nhận: ràng buộc nước nhận về nguồn sử dụng và mục đích sử
dụng
ODA ràng buộc một phần: một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi ở bất cứ nơi
nào
2.4. Phân loại theo đối tượng sử dụng
Hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có
thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc vay ưu đãi
Hỗ trợ phi dự án. Bao gồm:
Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ)
hoặc hỗ trợ hàng hoá, hỗ trợ qua nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá được chuyển qua
hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách
Hỗ trợ trả nợ: Hỗ trợ tài chính trực tiếp nhằm giúp nước nhận tài trợ thanh toán

tư trở nên hấp dẫn hơn. Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn,
trong nhiều trường hợp các nước đang phát triển phải dựa vào nguồn vốn ODA để bổ
sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách nhà nước. Một khi môi trường đầu tư được
cải thiện sẽ làm tăng sức hút vốn FDI. Nguồn vốn ODA của Mỹ, Nhật và một số nước
khác chủ yếu được đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng của các nước Đông á. Nhờ cơ sở
hạ tầng phát triển mà các nước này có điều kiện thuận lợi trong việc thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài.Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất
kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận.
Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho
các nước đang và chậm phát triển, nó còn có tác dụng làm tăng khả năng thu hút vốn từ
nguồn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước, góp phần thực
hiện thành công chiến lược hướng ngoại.
3.3. ODA giúp tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và phát triển
nguồn nhân lực.
Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ là công
nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lí tiên tiến. Các nhà tài trợ
còn ưu tiên đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực với họ tin tưởng rằng việc phát triển
5 / 18
của một quốc gia quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực. Đây mới là
những lợi ích căn bản, lâu dài đối với nước nhận tài trợ.
3.4. ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Trong quá trình phát triển các nước đang và chậm phát triển gặp rất nhiều vấn đề
xã hội khó khăn như dân số, việc làm và những vấn đề về kinh tế và quản lý khác. Để
giải quyết vấn đề này, các quốc gia đang cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách
phối hợp với Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế và các tổ chức quốc tế khác thực
hiện chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế.Thế giới đã thừa nhận sự cần thiết của loại
hình viện trợ này đối với các nước đang phát triển và Nhật bản cũng rất chú trọng tới
loại hình này. Trong giai đoạn từ năm 1993 đến 1995, Nhật Bản đă dành một khoản viện
trợ tổng cộng khoảng gần 700 triệu USD để hỗ trợ điều chỉnh kinh tế cho các nước đang

phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường
đói nghèo chung.
2.2. Theo chuẩn đói nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia
Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính 2001 – 2005
và mức sống thực tế của người dân từng vùng, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo đói để đưa ra danh sách những hộ, những xã và vùng cần
hỗ trợ từ chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia.
Năm 1997, Việt Nam đưa ra chuẩn đói nghèo thuộc phạm vi chương tŕnh quốc gia
để áp dụng cho thời kỳ 1996 – 2000 như sau: Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo
từng vùng ở các mức tương ứng như sau: vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới
15 kg gạo/người/tháng; vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg
gạo/người/tháng; vùng thành thị: dưới 25 kg gạo/người/tháng.
Trước những thành tích của công cuộc xoá đói giảm nghèo cũng như tốc độ tăng
trưởng kinh tế và mức sống, từ năm 2001 đã công bố mức chuẩn nghèo mới để áp dụng
cho thời kỳ 2001 – 2005, theo đó chuẩn nghèo của chương trình quốc gia mới được xác
định ở mức độ khác nhau tuỳ theo từng vùng. Cụ thể, bình quân thu nhập là: 80 nghìn
đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng núi nông thôn; 100 nghìn
đồng/người/tháng ở các vùngđồng bằng nông thôn; 150 nghìn đồng/người/tháng ở
khu vực thành thị.
7 / 18
III. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
1. Xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng
bền vững .
Xoá đói giảm nghèo không chỉ là công việc trước mắt mà còn là nhiệm vụ lâu dài.
Trước mắt là xoá hộ đói, giảm hộ nghèo; lâu dài là xoá sự nghèo,giảm khoảng cách giàu
nghèo, phấn đấu xây dựng một xã hội giàu mạnh, công bằng. Xoá đói giảm nghèo
không chỉ là phân phối lại thu nhập một cách thụ động mà còn phải tạo ra động lực
tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát nghèo. Xoá đói giảm nghèo không đơn
thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế với các đối tượng có nhiều khó
khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát

Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao. Theo kết quả điều tra mức sống dân cư
( theo chuẩn nghèo chung của quốc tế ), tỷ lệ đói nghèo năm 1998 là trên 37% và ước
tính năm 2000 tỷ lệ này vào khoảng 32% (giảm khoảng 1/2 tỷ lệ hộ nghèo so với năm
1990). Nếu tính theo chuẩn đói nghèo về lương thực, thực phẩm năm 1998 là 15% và ước
tính năm 2000 là 13%.Theo chuẩn nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia
mới, đầu năm 2000 có khoảng 2.8 triệu hộ nghèo, chiếm 17.2% tổng số hộ trong cả nước.
2.Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh
Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công lớn trong việc giảm tỷ lệ nghèo,
tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng những thành tựu này vẫn còn rất mong manh.Thu nhập
của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp danh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều
chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ nghèo.
Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp. Với điều kiện nguồn lực rất hạn
chế ( đất đai, lao động, vốn ), thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn
thương trước những đột biến của những gia đình và cộng đồng. Nhiều hộ gia đình tuy
mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo, nhưng vẫn giáp danh với ngưỡng nghèo đói, do vậy
khi có những giao động về có thể thu nhập cũng có thể khiến họ trượt xuống ngưỡng
nghèo.Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo lên khó khăn cho người nghèo.
3. Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn
Đa số người nghèo sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn,
điều kiện tự nhiên khắc nhiệt như ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng
bằng sông Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của thời tiết ( bão,lụt, hạn hán) khiến
cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn. Đặc biệt, sự
kém phát triển về hạ tầng cơ sở của các vùng nghèo đã đã làm cho các vùng càng bị tách
biệt với các vùng khác.
9 / 18
4.Đói nghèo tập trung trong khu vực nông thôn
Nghèo đói là một hiện tượng phổ biến ở nông thôn với trên 90% số người nghèo sinh
sống ở nông thôn. Hơn 80% người nghèo là nông dân trình độ tay nghề thấp, ít khả năng
tiếp cận các nguồn lực trong sản xuất ( vốn, kỹ thuật, công nghệ… ) thị trưòng tiêu thụ
sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phảm kém, chủng

lĩnh vực y tế, giáo dục.
Năng lượng và Công nghiệp là lĩnh vực sử dụng nguồn vốn ODA lớn với các
dự án đã ký trong thời gian qua đạt trên 7,6 tỷ USD nhằm cải tạo, nâng cấp, phát triển
mới nhiều nhà máy nhiệt điện và thủy điện với công suất lớn, cải tạo và phát triển mạng
truyền tải và phân phối điện quốc gia đáp ứng nhu cầu điện gia tăng hàng năm cho sản
xuất và đời sống ở các thành phố, thị trấn, thị xã, khu công nghiệp và khu vực nông thôn
trên cả nước. Đây là nguồn vốn lớn và có ý nghĩa trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư từ
ngân sách còn hạn hẹp, khu vực tư nhân trong và ngoài nước trong giai đoạn phát triển
ban đầu còn chưa mặn mà với đầu tư phát triển nguồn và lưới điện vì yêu cầu vốn lớn và
thời gian thu hồi vốn chậm.
Giao thông Vận tải và Bưu chính viễn thông là ngành tiếp nhận vốn ODA
lớn nhất với tổng giá trị hiệp định ký kết đạt khoảng 9,88 tỷ USD thời kỳ 1993-2008.
Nhờ nguồn vốn này, Việt Nam đã khôi phục và bước đầu phát triển các hệ thống giao
thông đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển và đường thủy nội địa. Đây là
những cơ sở hạ tầng kinh tế hết sức quan trọng để thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực
và địa phương, kể cả thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .Hầu hết các thành
phố lớn, các thành phố trực thuộc tỉnh, các thị xã và một số thị trấn đều có các hệ thống
cấp nước sinh hoạt được tài trợ bằng nguồn vốn ODA. Các thành phố lớn như Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, hiện đang triển khai thực hiện nhiều dự
án ODA phát triển cơ sở hạ tầng đô thị quan trọng, quy mô lớn như đường sắt nội đô,
thoát nước và xử lý nước thải, chất thải rắn,…
Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, khoa học kỹ thuật là những lĩnh vực ưu
tiên thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua với các chương trình, dự án đã ký đạt
tổng số vốn khoảng 4,3 tỷ USD.Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, ODA hỗ trợ cho việc
thực hiện cải cách giáo dục ở tất cả các cấp học (giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông, giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề), đào tạo giáo viên, tăng cường
năng lực công tác kế hoạch và quản lý giáo dục, cung cấp học bổng đào tạo đại học và
sau đại học ở nước ngoài, cử cán bộ, công chức đào tạo và đào tạo lại tại nước ngoài về
các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ và quản lý.Trong lĩnh vực y tế, vốn ODA
không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, khoảng 58% trong tổng vốn ODA (khoảng 0,9 tỷ

Thứ hai, Tuyên truyền , phổ biến cụ thể cho họ biết được những lợi ích trước mắt còn lâu
dài mà dự án sẽ mang lại cho họ để khuyến khích họ tham gia tích cực vào các dự án.
Thứ ba, Mở các lớp tập huấn, hội thảo để người nghèo tham gia và hướng dẫn họ cách
làm ăn, cách sử dụng đồng vốn có hiệu quả.
2. Giải quyết vốn đối ứng
Vốn đối ứng cho các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA là phần vốn
trong nước tham gia trong từng chương trình, dự án ODA được cam kết giữa phía Việt
Nam và phía nước ngoài trong các văn kiện, hiệp định dự án, quyết định đầu tư của cấp
có thẩm quyền.
Về nguyên tắc, vốn đối ứng của chương trình, dự án thuộc cấp nào thì cấp đó xử lý từ
nguồn ngân sách của mình. Trường hợp một số địa phương có vốn đối ứng phát sinh quá
lớn, vượt khả năng cân đối thì cần trình Thủ tướng Chính phủ để xin hỗ trợ một phần
ngay từ khi lập dự án. Tuy nhiên, thực tế vấn đề vốn đối ứng không phải lúc nào cũng trôi
chảy, mà đang là một trong những nguyên nhân gây nên sự chậm trễ trong việc thực hiện
dự án. Để tháo gỡ những khó khăn về vốn đối ứng, cần quy định cụ thể hơn về cơ chế
vốn đối ứng. Đảm bảo vốn đối ứng được cấp đầy đủ và kịp thời theo tiến độ thực hiện
dự án, thống nhất cơ chế vốn đối ứng với những dự án cùng loại.Mặt khác, cần tăng
13 / 18
cường quản lý và sử dụng vốn đối ứng cho các dự án ODA phù hợp với quy định của
Chính phủ và không được sử dụng vốn đối ứng ngoài các mục đích, nội dung của dự án.
3. Sử dụng vốn ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ tăng trưởng và xoá đói
giảm nghèo
Kết cấu hạ tầng cơ bản (quy mô nhỏ, vừa) đóng góp trực tiếp vào giảm nghèo
thông qua các chương trình, dự án thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, các dịch vụ xã hội cơ
bản liên quan đến quá trình tăng trưởng và giảm nghèo.
Tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng quy mô lớn sẽ đẩy nhanh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế vùng, kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năng
lực của một số ngành thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng sẽ tăng lên đáng kể như giao thông
vận tải, điện lực, thuỷ lợi…giúp khai thác triệt để tiềm năng phát triển của các vùng, bảo
đảm gắn phát triển kinh tế với các mục tiêu xã hội và xoá đói giảm nghèo. Đồng thời,

đối với các đối tượng rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở cả nông thôn và một số
thành phố.
Thứ hai, Giúp đỡ người nghèo phòng chống có hiệu quả khi gặp thiên tai thông qua việc
tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao những kiến thức, kinh nghiệm cụ thể về phòng
chống thiên tai; hỗ trợ một phần kinh phí để cải thiện tình trạng nhà ở, tránh bão, tránh
lụt.
Thứ ba, Quy hoạch lại các vùng dân cư, cơ sở hạ tầng sản xuất và xã hội thuận lợi cho
việc phòng chống và cứu trợ khi thiên tai xảy ra.
Thứ tư, hỗ trợ người tàn tật, người cao tuổi không nơi nương tựa, giúp đỡ trẻ em mồ côi,
lang thang…Đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận thị trường lao động của người lao
động nghèo, nhóm yếu thế trong thị trường lao động, đặc biệt là đối với vấn đề đào tạo;
cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động tạo điều kiện nâng cao thu nhập của
người nghèo…
6. Xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện các chương trình, dự án xoá đói giảm
nghèo
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả trong các dự án ODA về
xoá đói giảm nghèo đó là chưa có sự kiểm tra, giám sát đầy đủ và sát xao quá trình thực
hiện các dự án. Do vậy, cần có sự kiểm tra kiểm soát , cụ thể, cần làm một số việc sau:
Thứ nhất, Phân công rõ ràng trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương và các cán bộ
thực hiện dự án trong việc triển khai thực hiện và giám sát thực hiện các chương trình, dự
án ODA.
Thứ hai, Tăng cường năng lực bộ máy thực hiện các chương trình, dự án bằng việc phân
công trách nhiệm cho các Bộ, ngành, các cấp chính quyền có liên quan theo dõi việc thực
hiện dự án. Đồng thời, củng cố mạng lưới và đội ngũ cán bộ làm dự án tại các cấp, đặc
biệt là các xã đặc biệt khó khăn; nâng cao trình độ, bố trí cán bộ làm dự án.
Thứ ba, Hoàn thiện cơ chế khuyến khích sự tham gia của mọi người dân, tổ chức xã hội
trong việc tham gia thực hiện và giám sát dự án.
15 / 18
Thứ tư, Hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu giám sát, đánh giá hiệu quả cũng như tác động
của các chương trình, dự án.

Từ 01/11/2012 đến 20/12/2012
Tuần
1
Tuần
2
Tuần
3
Tuần
4
1
Tìm hiểu và lựa
chọn đề tài
2
Tìm tài liệu có
liên quan
3
Tổng quan tài
liệu
4
Xây dựng đề
cương
5
Đọc và nghiên
cứu sâu vào tài
liệu
6
Tiến hành làm
tiểu luận
7 Rút ra kết luận
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status