Bối cảnh nghiên cứu
Việt Nam là một nước nước nông nghiệp nghèo với trên 70% dân số làm
nông nghiệp và 90% số người nghèo sống ở nông thôn, tỷ lệ hộ đói nghèo còn
cao. Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo là là một trong những mục tiêu của chiến
lược phát triển kinh tế của Việt Nam. Giúp người nghèo vươn lên là một trong
những nỗ lực mang tính toàn cầu. Ở Việt Nam, chương trình quốc gia “Xóa
đói giảm nghèo” trong hơn một thập kỷ qua được cả thế giới công nhận và
khâm phục. Đạt được những kết quả trên đây là sự đóng góp không nhỏ của
chương trình TCVM của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội, các cá
nhân trong và ngoài nước…
Năm 2005, sự ra đời của Nghị định 28 đã chính thức công nhận TCVM là một
bộ phận của hệ thống tài chính Việt Nam. Cùng với đó là sự được công nhận
TCVM như một công cụ giảm nghèo hiệu quả trên thế giới. Đặc biệt, sau năm
2006 đầy thành công của TCVM thế giới với việc người sáng lập ra mô hình
này nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình. Và sau đó, TCVM Việt Nam đón nhận
nhiều sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ, các cơ quan ngôn luận, truyền
thông đại chúng. Trong năm 2007, có tới 3 nghị định bổ sung sửa đổi NĐ 28,
rất nhiều chương trình phóng sự có tầm quy mô quốc gia về Tài chính vi mô
nước nhà, nhiều hội thảo trong nước và quốc tế bàn về định hướng phát triển
của TCVM Việt Nam trong tương lai. Năm 2008, NHNN giới thiệu Nghị định
165 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của các định chế TCVM. Những
sự kiện trên đã ngày càng khẳng định vai trò của TCVM trong công cuộc xóa
đói giảm nghèo ở Việt Nam. Mặc dù vậy, thị trường TCVM Việt Nam còn rất
sơ khai và chưa phát triển bằng các nước trong khu vực và trên thế giới.
Bước vào năm 2009 với những thách thức lớn ở phía trước, năm 2008 chỉ tiêu
1
1
giảm nghèo không đạt kế hoạch đề ra. Cùng với đó là việc Việt Nam bị ảnh
hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã khiến cho người nghèo (là
người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội) gặp vô vàn những khó khăn trong
việc tiếp cận nguồn vốn; tỷ lệ người nghèo được đánh giá thông qua mức
trên tính logic của hiện tượng kinh tế, các quy luật kinh tế và các lý thuyết
kinh tế để suy luận.
Đối tượng và phạm vi xử lý của đề tài
• Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lý thuyết cũng
như kinh nghiệm thực tế tốt nhất có liên quan đến thu hút vốn đầu tư tư
nhân vào mạng lưới TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói, giảm nghèo.
• Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động TCVM trên lãnh thổ Việt Nam và một số
nước trên thế giới có ngành TCVM phát triển.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về tài chính vi mô
Cho đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tài chính vi mô. Mỗi công trình
nghiên cứu lại đi sâu vào phân tích những khía cạnh khác nhau của tài chính
vi mô, như:
1. Thúc đẩy hoạt động đào tạo TCVM ở Việt Nam ; Trần Bình Minh
(2008)
2. Mở rộng tiết kiệm dịch vụ và bảo hiểm ở Việt Nam ; Bùi Tuấn (2008)
3. Thực hiện bảo hiểm thành công ở các định chế TCVM ; Nguyễn Thị
3
1
Bích Vân (2007)
4. Hướng tới một ngành TCVM tự vững tại Việt Nam : Các vấn đề đặt ra
và thách thức; Lê Lan, Trần Như An (2005)
5. Hiệu quả và hiệu lực của TCVM ở Việt Nam ; Nghiên cứu của ADB
(2006)
6. Tìm hiểu về một số cơ quan TCVM ở Việt Nam ; Hướng Dương (2006)
Những công trình nghiên cứu trên đã góp phần phát triển tài chính vi mô từ
nhiều góc độ: các định chế TCVM, các sản phẩm dịch vụ của TCVM, hoạt
động đào tạo của TCVM, hiệu quả và hiệu lực của TCVM…. Những nghiên
cứu này đã cho chúng ta thấy cái nhìn mới mẻ và đa dạng của TCVM.
Tuy nhiên, nghiên cứu về “thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển mạng
lưới tài chính vi mô nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói, giảm nghèo” gần như
lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Th.s Vũ Cương, TS. Lê Hoàng Anh cùng các
chuyên viên Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này.
Tài chính vi mô là một lĩnh vực rộng và có nhiều mắt xích kết nối phức tạp.
Cũng như vậy, phân tích và nghiên cứu về « thu hút vốn đầu tư tư nhân phát
triển mạng lưới tài chính vi mô nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam » là công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều nỗ lực và hợp tác. Mặc dù đã
đạt được những kết quả nhất định, song chuyên đề vẫn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của thầy cô, bạn
5
1
bè và các cá nhân, tổ chức quan tâm đến lĩnh vực này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
6
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á
BHVM : Bảo hiểm vi mô
Bộ LĐTB &XH : Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Công ty TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
CEP : Quỹ Hỗ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm
Hội LHPNVN : Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
HTX : Hợp tác xã
Định chế TCVM : Định chế tài chính vi mô
NHCSXH : Ngân hàng chính sách Xã hội
NSNN : Ngân sách Nhà nước
PTKT&XH : Phát triển Kinh tế và Xã hội
DFID : Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
Quỹ TDND : Quỹ Tín dụng Nhân dân
TCVM : Tài chính vi mô
chúng. Trong năm 2007, có tới 3 nghị định bổ sung sửa đổi NĐ 28, rất nhiều
chương trình phóng sự có tầm quy mô quốc gia về Tài chính vi mô nước nhà,
nhiều hội thảo trong nước và quốc tế bàn về định hướng phát triển của TCVM
Việt Nam trong tương lai. Năm 2008, NHNN giới thiệu Thông tư Nghị định
28 và 165 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của các tổ chức TCVM.
Những sự kiện trên đã ngày càng khẳng định vai trò của TCVM trong công
cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Mặc dù vậy, thị trường TCVM Việt
Nam còn rất sơ khai và chưa phát triển bằng các nước trong khu vực và trên
thế giới.
Bước vào năm 2009 với những thách thức lớn ở phía trước, năm 2008
chỉ tiêu giảm nghèo không đạt kế hoạch đề ra. Cùng với đó là việc Việt Nam
bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã khiến cho người
nghèo (là người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội) gặp vô vàn những khó
khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn; tỷ lệ người nghèo được đánh giá thông
qua mức chuẩn nghèo mới... đã làm cho số người nghèo trong nền kinh tế
ngày càng tăng. Và hơn hết là nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo ngày càng
tăng và càng vượt xa khả năng cung cấp của NHCSXH và các tổ chức TCVM
phi chính thức. Trong khi đó, nguồn vốn trong khu vực dân cư còn rất dồi
dào. Vì vậy, thu hút vốn đầu tư tư nhân pháp triển mạng lưới TCVM nhằm hỗ
trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo trong những năm tiếp theo là một vấn đề
cấp bách và mang tính chiến lược.
Câu hỏi nghiên cứu
9
1
Cần làm gì để thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi mô
để hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam?
Để trả lời câu hỏi này cần làm rõ những vấn đề sau:
1. Thực trạng về sự phát triển của TCVM Việt Nam trong những năm gần
đây? Phân tích sâu về nhu cầu vốn của người nghèo?
2. Vai trò của TCVM nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo?
Chương 1: Cơ sở lý luận về TCVM và thu hút vốn đầu tư tư nhân phát
triển mạng lưới TCVM
Chương 2: Thực trạng hoạt động TCVM và thu hút tư nhân đầu tư vào
hệ thống TCVM ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài
chính vi mô nhằm hỗ trợ công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
11
1
12
1
Tên đề tài: Thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển mạng lưới tài chính vi mô
nhằm hỗ trợ công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về TCVM và thu hút vốn đầu tư tư nhân phát
triển mạng lưới TCVM
1.1. Khái niệm, cơ cấu, đặc điểm của hệ thống TCVM
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Tài chính vi mô
Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tài chính vi mô (TCVM):
Theo Ledgerwood Joan, TCVM được coi là một phương pháp phát triển kinh
tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư thu nhập thấp, thuật ngữ này đề cập đến
dịch vụ tài chính cho khách hàng có thu nhập thấp
1
bao gồm cả những đối
tượng làm ăn cá thể, các dịch vụ tài chính bao gồm cả tiết kiệm và tín dụng
2
.
Quan điểm khác lại cho rằng: TCVM cũng được xem như một bộ phận của tài
pPhi cChính phủ, các hHợp tác xã tín dụng, các Hiệp hội tín dụng, các các tổ
chức cá nhân.
– thực hiện việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo. 1.1.1.3.
3 Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 329 , Tài chính vi mô và một số khuyến nghị đối với hoạt động TCVM
ở nước ta, Tr30, 2005
14
1
Khách hàng tài chính vi mô
Khách hàng tài chính vi mô là những người sử dụng dịch vụ TCVM. Họ là
những người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp, những doanh nghiệp vi mô,
chủ yếu sống ở nông thôn. Họ là những người tự tổ chức sản xuất kinh doanh,
nếu là doanh nghiệp cũng thường là những doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ
do hộ gia đình thực hiện, các hoạt động của họ tạo ra những khoản thu nhập
nhỏ, tạo điều kiện hỗ trợ cho cuộc sống hàng ngày và một phần để tích lũy
đầu tư trong tương lai nếu có thể.
1.1.1.4. Các sản phẩm của tài chính vi mô
Tài chính vi mô bao gồm các sản phẩm dịch vụ sau:
(i) Dịch vụ tín dụng vi mô: Tín dụng vi mô là một sản phẩm tài chính được
thiết kế phù hợp với thị trường thu nhập thấp (về quy mô khoản vay, thời
hạn…, phương thức hoàn trả khoản vay, hình thức cho vay…) giúp người
nghèo, người thu nhập thấp có nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh nhỏ.
(ii) Dịch vụ tiết kiệm vi mô: Tiết kiệm vi mô là một sản phẩm tài chính được
thiết kế phù hợp với thị trường thu nhập thấp (sự linh hoạt về quy mô khoản
tiết kiệm, số lần gửi tiền, thời điểm rút tiền…) giúp người nghèo, người có thu
nhập thấp chống đỡ những rủi ro bất ngờ trong cuộc sống, làm cho tiêu dùng
trở nên linh hoạt hơn.
(iii) Dịch vụ bảo hiểm vi mô: Bảo hiểm vi mô là một sản phẩm tài chính
được thiết kế để phù hợp với thị trường thu nhập thấp (về các điều khoản như
giá cả, thời hạn, phạm vi bảo hiểm, cơ chế phân phối…), bảo vệ được cho
nói chung. Những đặc điểm này của hệ thống TCVM được gắn liền với bản
chất về mặt không gian, thời gian và sự biến động của hầu hết khu vực kinh tế
nông thôn:
•Mục tiêu hoạt động: Mục tiêu của tổ chức tài chính vi mô là cung cấp sản
phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, vừa tạo ra thu nhập cho
nền kinh tế, vừa cải thiện được an sinh của khách hàng.
•Các định chế tài chính vi mô: là bộ phận của tài chính nói chung nhưng
lấy mục tiêu xã hội là phục vụ người nghèo, đặc biệt là những người nghèo
nhất trong xã hội. Tuy nhiên, các định chế tài chính vi mô không hoạt động
theo phương thức phi lợi nhuận, sản phẩm dịch vụ mà các định chế TCVM
cung cấp đều dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính bền vững cho hệ thống
TCVM và đảm bảo nguyên tắc thị trường trong việc cung cấp các sản
phẩm, dịch vụ tài chính.
•Đối tượng phục vụ: Khách hàng của tổ chức TCVMđịnh chế TCVM là
những người nghèo, người có thu nhập thấp, gặp khó khăn trong việc tiếp
cận với nguồn vốn ở khu vực chính thức, không có tài sản thế chấp để đảm
bảo các khoản vay, thường không có thông tin dữ liệu chính xác cho việc
đầu tư của mình. Và phần lớn khách hàng vay vốn là phụ nữ.
•Đặc điểm của các dịch vụ TCVM: Các khoản vay, tiết kiệm, bảo hiểm,
các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền đều có quy mô nhỏ, phù hợp với đặc
điểm tài chính của người nghèo, người có thu nhập thấp. .
17
1
•Phương thức cung cấp dịch vụ: Hình thức cho vay theo nhóm với nghĩa
vụ nợ chung. Tất cả các thành viên của nhóm phải có trách nhiệm với chính
phần vốn vay của mình và đồng thời chịu trách nhiệm cho các thành viên
khác của nhóm. Chỉ cần một trường hợp không trả nợ đúng lịch thì cả nhóm
sẽ mất quyền vay vốn.. Việc chia sẻ rủi ro và tự quản lý nhau giúp tăng khả
năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
•
19
1
kinh tế phát triển và giảm gánh nặng cho xã hội. TCVM có thể giúp người
nghèo tiếp cận với nguồn vốn, phù hợp với khả năng kinh doanh mà không
cần thế chấp. Nó rất phù hợp với đặc điểm tài chính của người nghèo, đáp
ứng được nhu cầu thiếu vốn của người nghèo.
1.2.2. TCVM giúp người nghèo cách thức làm ăn phát triển hoạt độống sản
xuất kinh doanh nhỏ để cải thiện cuộc sống gia đình và vươn lên giảm
nghèo bằng chính nỗ lực của bản thân họ
TCVM được sử dụng như là một công cụ nâng cao năng lực, cho phép người
nghèo trực tiếp quyết định làm thế nào tốt nhất để nâng cao mức sống cho gia
đình, giúp người nghèo có kinh nghiệm sản xuất, có kiến thức, kỹ năng để họ
có cơ hội làm việc tốt hơn thay vì chỉ đơn thuần dựa vào sức lao động. Năng
lực của người nghèo ngày càng được nâng lên góp một phần quan trọng trong
tiến trình xóa đói, giảm nghèo.
TCVM giúp người nghèo mở rộng hoạt động kinh tế, tăng thu nhập, xây dựng
những phương án kinh doanh khả thi, tạo thêm việc làm cho xã hội, Tạo dựng
được những tài sản có giá trị hơn để từ đó phát triển các doanh nghiệp vi mô,
cải thiện mức thu nhập cũng như các điều kiện sống. TCVM mang lại cho
người nghèo những cơ hội lớn để có thể thoát nghèo.
1.2.3. TCVM giúp người nghèo có khả năng phòng ngừa rủi ro tốt hơn,
giảm tính dễ bị tổn thương với các cú sốc từ bên ngoài.
TCVM tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ như tiết kiệm, tín
dụng, bảo hiểm, chuyển tiền, thanh toán... mà người nghèo không thể tiếp cận
được từ khu vực chính thức.
Các dịch vụ TCVM có khả năng bảo vệ người nghèo tránh được những khó
20
1
khăn và rủi ro luôn tiềm ẩn trong cuộc sống hàng ngày:
• Tiết kiệm là công cụ giúp người nghèo phòng ngừa rủi ro trước những cú
đúng mục đích hơn nhiều so với khoản cho không. TCVM giúp tăng khả năng
của người nghèo tiếp cận với khu vực chính thức.
. (vì mục này đánh giá vai trò của TCVM đến giảm nghèo nên em nghĩ tính
chất có vay có trả và tính chất hỗ trợ lẫn nhau chỉ nên để vào các vai trò khác
của TCVM, liệu như thế có được ko ạ?). Điêu này tùy ý em thôi, chủ yếu để
nhấn mạnh đến vai trò “cho cần câu chứ không cho cá” của TCVM, có như
thế mới đảm bảo tính bền vững của hỗ trợ giảm nghèo.
Bằng hình thức tín dụng theo nhóm, TCVM giúp giảm chi phí giao dịch cho
cả người cho vay lẫn người đi vay, tăng tỉ lệ thu hồi nợ, tăng khả năng huy
động tiết kiệm và tạo nguồn quỹ phòng khi khẩn cấp (nhờ những ràng buộc
trong nội bộ nhóm), tăng lợi thế kinh tế nhờ tăng quy mô trong việc cung cấp
tín dụng.
TCVM góp phần khuyến khích một số giá trị xã hội như tăng tính đoàn kết,
và tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm.
TCVM giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của các thành viên trong gia đình
người nghèo. TCVM giúp người nghèo có thể chi tiêu nhiều hơn vào gia
đình, nhà ở, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục trẻ em tốt hơn.
22
1
TCVM giúp tăng khả năng của người nghèo tiếp cận với khu vực chính thức .
TCVM tăng thêm việc làm và cơ hội mới cho người dân, tạo thêm công ăn
việc làm cho nền kinh tế. Chính ở các quốc gia đang phát triển, sự đói nghèo
và thất nghiệp là những đặc trưng cơ bản thường được nhắc đến. Thực tế cho
thấy, các doanh nghiệp vi mô có một tiềm năng tạo ra thu nhập và việc làm
cho một bộ phận lớn dân cư, đồng thời cũng tạo nên cơ sở nền tảng cho sự
phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo.
TCVM góp phần khuyến khích một số giá trị xã hội như tăng tính đoàn kết,
và tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm.
Do vậy TCVM là công cụ đắc lực để xóa đói, giảm nghèo.
Nhu cầu của người nghèo về các sản phẩm dịch vụ TCVM ngày càng gia
tăng. Người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp không những cần dịch vụ tài
chính này mà còn sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ đó. Ngoài ra, nếu họ càng
hiểu biết về sản phẩm và quyền lợi về sản phẩm dịch vụ thì họ càng quan tâm
tới việc mua sản phẩm. Đây là cách hiệu quả để giảm tính dễ bị tổn thương
của hộ nghèo và trong một phạm vi lớn hơn là đóng góp cho xóa đói giảm
nghèo.
1.3.2. Xuất phát từ phía cung(Nội dung của mục này em đã tự ý cắt xuống
mục “đánh giá thực trạng thị trường TCVM” ở chương 2, vì em nghĩ đánh giá
4 FINCA là một tổ chức phi chính phủ Quốc tế, hoạt động trong lĩnh vực TCVM tại Mỹ Latin, Châu Phi,
Eurasia và vùng Trung Đông, cung cấp các dịch vụ TCVM cho các khách hàng có thu nhập thấp;
SHARE là một định chế TCVM cung cấp các sản phẩm TCVM và các dịch vụ hỗ trợ chủ yếu cho phụ nữ ở
nông thôn Ấn Độ;
“Freedom from Hunger” là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, cung cấp các dịch vụ TCVM cho người
nghèo ở Ghana.
25
1