Một số vấn đề về lịch sử - Văn hóa Đông Nam Á Tập 1 (Bài giảng Chuyên đề - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ - 2001


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á

MỤC LỤC
BÀI I : LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI GỐC HOA
Ở ĐÔNG NAM Á (Cho đến nửa đầu thế kỷ XX) ........................................ 03
Mục đích của chuyên đề ....................................................................................................................04
Chương I : Buổi đầu di dân của người Hoa đến các nước Đông Nam Á
(cho đến đầu thế kỷ XVI, khi người Âu xuất hiện ở ĐNÁ) .................................................05
1. Quá trình hình thành ban đầu của các cộng đồng người Hoa ..................................................05
2. Các hình thức tổ chức của di dân người Hoa ...........................................................................06
3. Tình hình khái quát các khu di trú của người Hoa
trong những thế kỷ XV – XVIII..................................................................................................08
Chương II : Sự hình thành các cộng đồng người Hoa
trong thời kỳ tư bản thực dân phương Tây
xâm lăng Đông Nam Á (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX)............................................................15
1. Mối quan hệ kinh tế giữa người Hoa và tư bản thực dân châu Âu. ...........................................15
2. Những va chạm ban đầu giữa người Hoa và thực dân châu Âu ...............................................17
3. Chế độ trưng thuế và người Hoa ...............................................................................................18
4. Tình hình của cộng đồng người Hoa trong nửa sau thế kỷ XIX.................................................20
Chương III: Quá trình hình thành xã hội - kinh tế của cộng đồng
người Hoa trong bối cảnh khủng hoảng của chế độ thuộc địa ................................24
1. Sinh hoạt kinh tế của người Hoa ở Đông Dương.......................................................................24
2. Sinh hoạt kinh tế của người Hoa ở Philippines ..........................................................................25
3. Sinh hoạt kinh tế của người Hoa ở Indonesia ...........................................................................25
4. Sinh hoạt kinh tế của người Hoa ở Miến Điện ...........................................................................26
5. Sinh hoạt kinh tế của người Hoa ở Malaya ................................................................................26

I. Khái niệm " thành phố toàn cầu" và "trung lập tích cực" ............................................................58
II. Học thuyết An ninh quốc gia ......................................................................................................61
III. Từ chủ nghĩa toàn cầu đến chủ thuyết vùng .............................................................................64
Chương III : Các hoạt động đối ngoại của Singapore trong thập niên 80 .................................67
I. Những đặc điểm của tình hình quốc tế trong vùng......................................................................67
II. Tình hình phát triển kinh tế và chính trị của Singapore trong thập niên 80...............................70
III. Những thay đổi trong quan điểm đối ngoại ...............................................................................72
IV. Singapore và Phong trào không liên kết trong những năm 80..................................................76

Kết luận ................................................................................................................. 80
Tài liệu tham khảo ................................................................................................ 87
BÀI III: VAI TRÒ CỦA QĐ TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ Ở CỘNG HÒA
INDONESIA DƯỚI THỜI SUKARNO (1945 - 1967) ................................. 89
Mục đích của chuyên đề..................................................................................................................89
I. Giai đoạn đấu tranh giành độc lập (1945 - 1949) .......................................................................89
II. Giai đoạn dân chủ đại nghị (1950 – 1959)..................................................................................91
III.Giai đoạn dân chủ có lãnh đạo" (1959 – 1965) ..........................................................................96

Tài liệu tham khảo ................................................................................ 106

2


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á

BÀI I
ZUY

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI GỐC HOA Ở ĐÔNG NAM Á

được ; vì sao người Hoa dễ trở thành đối tượng của những cơn biến động chính trị
và kinh tế ở các nước trong vùng ?
Đó là những câu hỏi mà chuyên đề "Lịch sử hình thành cộng đồng người gốc
Hoa ở Đông Nam Á cho đến nửa đầu thế kỷ XX" góp phần giải quyết.

4


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á

CHƯƠNG I
BUỔI ĐẦU DI DÂN CỦA NGƯỜI HOA ĐẾN CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
(Cho đến thế kỷ XVI, khi người Âu xuất hiện ở Đông Nam Á)
_________________________________
1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH BAN ĐẦU CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA
Giữa các cộng đồng sắc tộc khác nhau ở Đông Nam Á và tổ tiên người Hoa
đã diễn ra các cuộc tiếp xúc cách đây nhiều ngàn năm, vào khoảng thiên niên kỷ VIIVI tr.CN (theo ý kiến của nhà khảo cổ học người Mỹ W.Solheim)( ). Khu vực diễn ra
đặc biệt sôi động các cuộc tiếp xúc sắc tộc là vùng lưu vực sông Tây Giang và cả
thượng và trung lưu sông Dương Tử, nơi cách đây vài ngàn năm có nhiều sắc tộc
sinh sống và hòa lẫn vào nhau. Theo cách phân loại dựa vào ngôn ngữ, đó là các tộc
Việt, Indonesia, Thái, Môn-Khơme và Tây Tạng-Miến.
Từ thế kỷ I tr.CN đến thế kỷ X. s.CN, miền Bắc bán đảo Đông Dương bị rơi
vào ách thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Nơi đây trở thành chốn
cư trú tạm thời hay lâu dài của các binh lính, quan chức và có thể cả thương nhân và
thợ thủ công người Hoa. Tìm đến đây thỉnh thoảng có cả những làn sóng người chạy
nạn chiến tranh, chạy trốn sự truy bức mỗi khi có sự thay đổi triều đại ở Trung Quốc,
hay chạy đói vì thiên tai. Bắc bán đảo Đông Dương còn là nơi dung thân của những
kẻ tham gia các cuộc nổi dậy nông dân bị thất bại, chẳng hạn cuộc nổi dậy Hoàng
Sào nổi tiếng trong thế kỷ X ( ).
Ngoài ra, ở một số tụ điểm dân cư trong một vùng đất rộng lớn trải dài từ

tiện các phương tiện sinh nhai của thương nhân. Hậu quả là không ít bần nông và
thương nhân đã tìm đến sinh nhai ở vùng Đông Nam Á, nơi có khí hậu ôn hòa và
nhiều đất hoang và cũng là nơi một nền kinh tế hàng hóa đang hình thành. Những
yếu tố này đã thu hút không ít người Hoa tìm đến định cư lâu dài ở Đông Nam Á.
Dù trong các thế kỷ XIV - XV không phải nơi nào ở Đông Nam Á cũng đều cần
đến một khối lượng đông đảo lao động người Hoa, họ vẫn có thể tìm được một chỗ
làm cho mình, hoặc trong các ngành nghề thủ công, hoặc trong hoạt động thương
mại, hoặc khai phá đất hoang. Cần nhấn mạnh ở đây là thương mại, vốn bị xem là
một nghề phụ, hoặc thậm chí hạ đẳng ở Trung Quốc, thì ở Đông Nam Á lại được coi
là con đường tốt nhất để đưa đến cuộc sống sung túc, giàu có.
Sau khi nhà Nguyên bị lật đổ và được thay bằng nhà Minh (thế kỷ XIV-XVII),
các mối liên hệ ngoại giao và thương mại giữa Trung Quốc và các vương quốc Đông
Nam Á được đẩy mạnh. Làn sóng người từ Trung Quốc kéo sang các nước này diễn
ra nhộn nhịp đến mức vào khoảng thế kỷ XVII trên khắp các miền ở Đông Nam Á từ Miến Điện và Lào đến những khu vực hẻo lánh trên quần đảo Maluku và
Philippines - đều xuất hiện những nhóm người Hoa ít nhiều đông đảo.
Cho đến lúc này, việc người Hoa di cư sang và định cư ở Đông Nam Á diễn ra
một cách êm ả, không gặp trở ngại nào đáng kể từ phía giới cầm quyền cũng như
người dân bản địa. Đó là vì ở Đông Nam Á có nhiều đất hoang, nhưng chủ yếu là vì
các hoạt động kinh tế cơ bản của di dân người Hoa - thương mại và thủ công nghiệp
- không va chạm trực tiếp đến quyền lợi của người bản xứ, thậm chí chúng còn
mang lại sự sung túc cho địa phương, nơi họ tìm đến cư trú. Do đó, không những
không cấm đoán, giới cầm quyền Đông Nam Á còn cố sức rút ra các lợi ích không
nhỏ từ hoạt động kinh tế của di dân người Hoa. Nhưng như vậy không có nghĩa là
người Hoa không gặp trở ngại gì trên bước đường kiếm sống ở nơi định cư mới.
Khó khăn chính là họ phải sống trong một môi trường xã hội và văn hóa hoàn toàn
xa lạ (ngoại trừ ở Việt Nam). Do đó, giữa dân địa phương và di dân người Hoa đã
tồn tại một sự xa cách, mà đôi khi đã đưa đến mối quan hệ thù địch, nhất là ở những
nơi thương nhân người Hoa nắm độc quyền cung cấp và thu gom hàng hóa, định đặt
giá cả và cho vay nặng lãi.
2. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC CỦA DI DÂN NGƯỜI HOA.

- sắc tộc là cư dân miền Nam Trung Quốc, nơi phát xuất đại bộ phận di dân người
Hoa ở Đông Nam Á, đã sống phân tán thành nhiều nhóm trên các lãnh thổ ít nhiều
biệt lập với nhau. Mỗi nhóm có một thổ ngữ riêng. Tình hình đã khiến họ khó hiểu
nhau khi phải tiếp xúc với nhau bằng ngôn ngữ nói. Di dân người Hoa ở Đông Nam
Á sử dụng rất nhiều thổ ngữ, như tiếng Hẹ (gốc miền Đông Quảng Đông), Phúc
Kiến, Quảng Châu, Triều Châu, Hải Nam. Tại vùng định cư mới, những người nói
cùng thổ ngữ sống quần tụ trong một khu phố, làng hay cả vùng. Giữa họ nảy sinh
tình cảm của những người cùng một quê hương gốc tích và nói cùng một ngôn ngữ.
"Hội đồng hương" ra đời chính trên cơ sở tình cảm quê hương - ngôn ngữ này. Với
thời gian, mối quan hệ này trở nên bền vững đến mức cho đến tận thế kỷ XIX dù
sinh sống ở những miền đất rất cách xa nhau tại xứ sở mới, những người cùng quê
hương và ngôn ngữ vẫn tìm đến nhau để lập "Hội đồng hương". Hình thức tổ chức
này bắt đầu mang tính chất của một thiết chế. Nó trở thành một hiệp hội có cấu trúc
tổ chức rõ ràng, có lề thói xử sự được quy chế hóa, có chế độ tự quản theo luật
định. "Hội đồng hương" đã giúp đỡ các di dân trong cuộc đấu tranh để sinh tồn,
nhưng đồng thời lại khiến những di dân người Hoa thêm xa lạ với nhau: những
người không nói cùng thổ ngữ chẳng những không hiểu nhau, mà đôi lúc còn thù
địch nhau. Sự việc không ít lần đã đưa đến những cuộc ẩu đả đổ máu.
Một hình thức tổ chức khác là hội cùng nghề, theo kiểu các phường hội.
Thông thường, việc cùng ở chung một hội đồng hương đã định trước việc chọn nghề
: những người cùng hội đồng hương đều chọn nghề giống nhau.
Cả ba loại hiệp hội nói trên, ngoài chức năng tương trợ vật chất và điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội giữa các thành viên trên cơ sở đảm bảo quyền kiểm soát của
giới lãnh đạo đối với các thành viên của hội, còn thủ giữ vai trò quan trọng trong việc
giữ gìn các nghi thức tinh thần và tâm lý biểu trưng cho tộc của mình, chẳng hạn
như tuân thủ các chuẩn mực đạo đức lâu đời trong sinh hoạt gia đình, tiến hành các
lễ nghi thờ cúng, các ngày lễ tôn giáo, nghi thức cưới hỏi và ma chay, tài trợ các đền
chùa, nghĩa địa và sau này cả bệnh viện của hội.
Dù đã được thu hút vào các hình thức tổ chức khác nhau, cộng đồng người
Hoa ở các nước Đông Nam Á vẫn chưa thể được xem là một hiện tượng ổn cố hoàn

quốc Đại Việt, nằm ở khu vực duyên hải miền Bắc và miền Trung bán đảo Đông
Dương, ngay từ thế kỷ X, sau khi nhân dân vương quốc này bằng cuộc đấu tranh
kiên cường đã thoát khỏi ách thống trị kéo dài cả ngàn năm của phong kiến Trung
Quốc. Sau khi những kẻ xâm lược bị đánh đuổi, khoảng 87.000 quan chức người
Hoa và gia đình đã bị trục xuất, nhưng vẫn còn một số đáng kể đã ở lại và đăng ký
vào sổ bộ như người Việt Nam ( ).
Trong các thế kỷ XI - XIV, tức thời kỳ tồn tại của Đế chế Angkor trên lãnh thổ
Campuchia, trong nước này đã xuất hiện một khu di trú cố định của người Hoa. Họ
sinh sống chủ yếu bằng nghề buôn bán ( ). Họ chở đến đây kim loại màu, vải lụa và
vải bông, đồ gốm và giấy. Luân chuyển qua tay họ một khối lượng đáng kể hàng hóa
bản địa - ngà voi, gia vị và dầu ăn. Thương nhân Campuchia thường chỉ đóng vai trò
người trung gian giữa dân địa phương và thương nhân Trung Quốc. Người Hoa ở
Campuchia cũng dự phần vào hoạt động thương mại quốc tế : vào thời đó Angkor là
trung tâm thương mại quan trọng trên các ngã giao đường giữa Đông và Tây.
Trong vùng lưu vực sông Mênam thuộc miền Trung Thái Lan hiện nay và cả
dọc theo bờ duyên hải vịnh Thái Lan, từ thế kỷ XIII- XIV, người Hoa đã xuất hiện và
sống lẫn với người địa phương. Hoạt động kinh tế của họ là buôn bán và khai thác
thiếc ( ). Trong lãnh thổ vương quốc Sukhothay (thế kỷ XVIII) có một công xưởng
sản xuất đồ gốm sử dụng lao động từ Trung Quốc sang. Dưới thời vương quốc
Ayuthay (thế kỷ XIV - XVIII), số người Hoa sinh sống ở Xiêm đã tăng lên đáng kể.
Theo lời một trong các quan chức phụ trách ngoại thương của Ayuthay, vào những
năm 60 của thế kỷ XVII trên toàn lãnh thổ vương quốc có "nhiều ngàn người Hoa".
Họ đã sống ở đây từ thời xa xưa, lập gia đình và sống lẫn với dân bản địa. Tích cực
tự đồng hóa với dân bản địa là nét nổi bật trong khoảng thời gian dài trong sinh hoạt
của di dân người Hoa ở Xiêm.

8


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á

thương nhân chuyển mạnh hơn sang ngành thủ công - cơ xưởng và nông nghiệp ;
nhiều đồn điền trồng tiêu mọc lên. Họ cũng thu mua lúa và chuyển sang Trung Quốc.
Với những tiểu quốc nằm trên quần đảo Mã Lai, Trung Quốc đã lập quan hệ
ngoại giao từ thế kỷ V, và những di dân người Hoa đã có mặt ở bờ biển Bắc Java
vào thế kỷ X, nhưng phải đến thế kỷ XI số người Hoa ở đây mới tăng lên đáng kể.
Sau khi Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt thất bại trong mưu toan đánh chiếm Java
(cuối thế kỷ XIII), hơn 100 chiến binh Trung Quốc nằm trong đạo quân xâm lược đã
không thích quay về cố quốc. HọÏ tìm đến định cư trên đảo Billinton. Nơi đây đã
thành khu di trú lâu dài của người Hoa. Sự ra đời của cộng đồng người Hoa ởû bờ
biển phía Bắc Java, trong vùng Semarang hiện nay, gắn liền với chuyến đi của Trịnh
Hòa, một quan chức nhà Minh đến vùng biển phía Nam Trung Quốc vào đầu thế kỷ
XV. Các thủy thủ Trung Quốc đặt chân lên đây đã tạo ra những khu di trú người Hoa
đông đảo nhất trên quần đảo ( ).
Trong các thế kỷ XIII - XV có những nhóm khá đông người Hoa sinh sống
thường xuyên trên đảo Java - ở Tuban, Surabaya, trong lãnh thổ các tiểu vương
quốc Bantam và Jakarta. Đây là trung tâm hoạt động thương mại chính của họ. Ít lâu

9


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á
sau, các hiệu buôn của người Hoa xuất hiện ở bờ biển Bắc và Tây Kalimantan - ở
Bunkomi (Brunei hiện nay), Sambas, Pontianaka và Sucadan, và trên đảo Tamasik
(Singapore hiện nay) và ở đô thị - cảng Malacca ( ).
Không phải là hiếm chuyện giới thống trị các tiểu vương quốc lấy người Hoa
nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các đội tàu buôn từ Trung Quốc thỉnh thoảng kéo
sang đây, hay nhận những điều kiện cộng tác ưu đãi với các thương nhân người
Hoa định cư tại chỗ. Về phần mình, các đại diện cộng đồng người Hoa cũng không
bỏ lỡ cơ hội lập mối quan hệ thông gia với các quan chức địa phương để được
hưởng các chế độ ưu đãi, hoặc được phân chia ruộng đất cùng với các nông dân

tập trung nào đủ sức chống chọi với áp lực quân sự của Trung Quốc.
Quần đảo Philippines từ cuối thế kỷ X thỉnh thoảng tiếp đón các đoàn thương
thuyền Trung Quốc lui tới. Chúng chở hàng hóa, và đôi khi cả người đến sống một
thời gian. Người Hoa thường tìm đến sống trong các khu dân cư đông đúc ven bờ
biển, chủ yếu ở Manila trên đảo Luzon. Trong các thế kỷ XII và XIII, trung tâm hoạt
động thương mại nhộn nhịp với Trung Quốc là quần đảo Sulu. Trong số các hàng
hóa phát xuất từ đây có ngọc trai.
Đầu thế kỷ XV giữa các tiểu vương quốc trên đảo Luzon và Trung Quốc lần
đầu tiên có sự trao đổi sứ bộ. Diễn biến này cho thấy có lẽ trên đảo đã tồn tại các

10


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á
khu cư trú ổn định của người Hoa, nhưng quy mô của chúng ra sao, các tài liệu
không đưa ra những số liệu thống nhất. Một tài liệu biên niên của Trung Quốc viết
rằng trên đảo có khoảng vài chục ngàn thương nhân giàu có gốc Phúc Kiến. HọÏ đã
sinh sống ở đây từ lâu và không còn tính đến chuyện trở về Trung Quốc. Thậm chí
họ đã ở đây đến đời con hoặc cháu. Con số người Hoa chắc chắn đã bị phóng đại
lên nhiều, vì những người Tây Ban Nha đầu tiên đặt chân đến Manila năm 1570 cho
biết rằng trong số cư dân trên đảo Luzon, họ chỉ đếm được gần 150 người Hoa ( ).
Thế kỷ XVII đánh dấu một bược ngoặt trong lịch sử các nước Đông Nam Á,
và tất nhiên cả số phận của những nhóm người Hoa sinh sống trên lãnh thổ các
quốc gia này. Từ đầu thế kỷ, nhân dân các nước Đông Nam Á - đảo lần lượt rơi vào
ách thống trị của các thực dân phương Tây xâm nhập vào trong vùng, đầu tiên là
người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, sau đó là người Hà Lan và Anh. Số phận của
cư dân người Hoa trong các thuộc địa của người Âu ở Đông Nam Á - đảo sẽ được
xem xét trong chương kế tiếp. Ở đây chúng tôi xin đề cập tiếp đến cuộc sống của
các cộng đồng người Hoa trong thế kỷ XVII - XIX ở vùng lãnh thổ của Đông Nam Á lục địa, vốn sẽ duy trì được độc lập của mình thêm được khoảng 200 năm nữa.
Tác động đến tình hình của di dân người Hoa ở các nước Đông Nam Á - lục


11


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á
những điều kiện như vậy, di dân đành bằng lòng với cuộc sống ổn cố lâu dài ở nơi
cư ngụ mới và đi tìm những phương cách sống chung tốt nhất với dân bản địa.
Tình hình của các nhóm sắc tộc người Hoa ở Đông Nam Á mãi đến cuối thế
kỷ XVIII và trong thế kỷ XIX mới thay đổi ít nhiều, khi nhà Thanh, dưới sức ép của
những đòi hỏi kinh tế trong nước, đặc biệt của tiến trình bành trướng tích cực ở biển
Đông của các cường quốc phương Tây, đã buộc lòng giảm bớt những hạn chế đối
với ngoại thương, đối với việc ra nước ngoài, và cho phép cả việc tuyển mộ công
nhân trong nước ra làm việc ở ngoại quốc.
Tất nhiên là tác động của những chuyển biến trên, đối với các cộng đồng
người Hoa ở các nước Đông Nam Á là không như nhau. Chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất
là cộng đồng người Hoa ở Miến Điện và Việt Nam.
Sau khi những toán lính Trung Quốc, cùng với một trong những hậu duệ cuối
cùng của nhà Minh bị lật đổ, chạy sang lánh nạn ở Miến Điện trước sức ép nặng nề
của quân Mãn Châu thắng trận, quân Thanh trong suốt thế kỷ XVII đã nhiều lần xâm
nhập vào lãnh thổ Miến Điện nhằm thanh toán những ổ kháng Thanh xuất hiện ở đó.
Trong những năm 1765 - 1769 quân Thanh lại xâm nhập lãnh thổ Miến Điện, lần
này với một mục đích rõ ràng hơn - chinh phục xứ này, nhưng đã bị người Miến
đánh lui. Cứ mỗi lần lui binh như vậy, một số ít quân lính Trung Quốc đã tìm cách ở
lại và hòa nhập vào số người Hoa đã có mặt sẵn. Đến đầu thế kỷ XIX, theo lời tường
thuật của các nhà lữ hành châu Âu, người ta trông thấy những nhóm người Hoa
không đông lắm sinh sống bằng nghề buôn bán ở các đô thị chính trong nước, như
Ava hay Amarapura. Trong một thời gian dài, người Hoa còn được các vua Miến
Điện cho phép khai thác các mỏ bạc hay mỏ đá quý.
Việt Nam tiếp đón một khối lượng người Hoa chạy nạn đông đảo hơn nhiều
so với Miến Điện. Năm 1679, một đạo quân khoảng 7.000 người cùng với gia đình

người Hoa lên đến 10.000. Các di dân người Hoa sống lẫn lộn với người địa
phương. Họ mở các hiệu bn và qn ăn. Dù khơng được phép sống ở Thăng
Long, họ vẫn tìm cách mở các qn hàng ở đây (1).
Trong khí đó, các chúa Nguyễn lại theo đuổi một chính sách khác hẳn. Họ cho
phép di dân người Hoa được tự do ghé lại tất cả các cảng. Ở cảng Hội An trên sơng
Thu Bồn xuất hiện các điểm cư trú của thương nhân và thợ thủ cơng người Hoa. Ở
các thị trấn, di dân người Hoa được phép sống quần tụ thành từng khu riêng biệt và
được phép tự quản theo các truyền thống, lề thói lâu nay của người Trung Quốc.
Q trình xây dựng các thị trấn mới ở miền Nam từ thế kỷ XVIII đều diễn ra với sự
tiếp tay của người Hoa.
Trong thời kỳ diễn ra cuộc nổi dậy của phong trào Tây Sơn chống chúa
Nguyễn, cư dân đơ thị người Hoa do sợ mất đi sự đỡ đầu của chính quyền, đã
khơng ủng hộ phong trào. Vì lẽ này, họ đơi khi phải trả giá đắt. Nhiều nơi cư trú của
họ đã bị qn Tây Sơn đốt trụi, riêng ở Chợ Lớn khơng dưới một vạn người Hoa bị
giết ( ). Năm 1802, triều Tây Sơn bị tiêu diệt. Triều đại mới lên cầm quyền là nhà
Nguyễn. Một trong những sắc chỉ đầu tiên của chính quyền mới là thu hút các sĩ phu
người Hoa vào làm trong bộ máy cơng quyền và qn đội ( ).
Ở Campuchia, người Hoa bắt đầu tìm đến định cư từ cuối thế kỷ XVII. Một số
người Hoa sau khi đến Mỹ Tho đã ngược dòng Cửu Long đi sâu vào bên trong lãnh
thổ Campuchia. Một vùng khác ở xứ này có số người Hoa đáng kể là tỉnh Kampot
nằm bên bờ vịnh Xiêm La. Cai quản họ khơng ai khác hơn chính là Mạc Cửu, được
vua Campuchia phong cho chức Tổng đốc. Lãnh thổ thuộc quyền cai trị của ơng này
trải dài từ Kampot đến Cà Mau ( ). Người Hoa ở các miền này sống chủ yếu trong
các thị trấn và làm nghề bn bán. Họ kiểm sốt hầu hết các hoạt động mậu dịch
giữa Việt Nam và Campuchia. Năm 1859, Mouhot, một khách du hành người Pháp,
khi viếng Kampot đã ghi nhận rằng trong thị trấn có 3.000 cư dân này, người bn
bán ở chợ chủ yếu là người Hoa và một số ít người Âu, còn trong số 10.000 cư dân
Phnompenh, người Hoa chiếm đại bộ phận.
Thương nhân người Hoa sinh sống trên lãnh thổ Campuchia bị buộc phải
cung cấp các khoản chi phí dùng vào việc tiếp rước các quan chức địa phương, đài

kể kéo dài vài thế kỷ, trong đó các thế hệ người di dân từ Trung Quốc sang và dân
bản địa sống hòa lẫn vào nhau một cách tự nhiên. Giữa họ không diễn ra các cuộc
va chạm đáng kể nào, hay có những xung khắc về văn hóa hoặc tôn giáo không thể
hoà giải được. Hơn thế nữa, họ còn được gắn kết với nhau bằng những quyền lợi
chung nhất định, mặc dù họ vẫn giữ gìn những nét đặc sắc xã hội - văn hóa, và bằng
những nét đặc thù trong nếp sinh hoạt hàng ngày của mình. Chẳng hạn, như di dân
người Hoa ở Xiêm La trong nửa sau thế kỷ XVIII đã tích cực tham gia vào hoạt động
đấu tranh quân sự nhằm giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của Miến Điện.
Tuy nhiên, tiến trình hòa nhập một cách tự nhiên này đã bị phá vỡ sau khi chủ
nghĩa tư bản thực dân phương Tây xâm nhập vào Đông Nam Á và biến các quốc gia
trong vùng thành các thuộc địa hay nước phụ thuộc. Số phận của các nhóm sắc tộc
người Hoa cũng bị biến cố này tác động rất mạnh.

14


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á

CHƯƠNG II
SỰ HÌNH THÀNH CÁC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA TRONG THỜI KỲ
TƯ BẢN THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY XÂM CHIẾM ĐÔNG NAM Á
(Thế kỷ XVI - Thế kỷ XIX)
________________________________
1. MỐI QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA NGƯỜI HOA VÀ TƯ BẢN THỰC DÂN CHÂU
ÂU.
Sự xâm nhập của tư bản thực dân phương Tây vào các nước Đông Nam Á
đã tác động mạnh đến toàn bộ tiến trình hình thành các cộng đồng người Hoa trong
vùng. Tất cả đều thay đổi : nhịp độ và động lực của các đợt di dân, nhưng thay đổi
chính yếu nằm trong cấu trúc xã hội, địa hạt sinh sống, phong cách sinh hoạt của các
cộng đồng người Hoa và tính chất các mối quan hệ giữa họ với dân bản địa. Di sản

ghét. Họ quên rằng họ cũng là người nước ngoài, theo một tín ngưỡng xa lạ, nói
tiếng nói khác, sống theo những phong tục, tập quán lạ lùng đối với người địa
phương, mặc những bộ đồ không giống như họ. Trong khi chỉ mỗi một trong số
những khác biệt vừa kể cũng đủ gây mối ác cảm nơi người bản xứ.

15


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á
Trên đây là đại thể số phận của những di dân người Hoa và mối quan hệ giữa
họ với người bản xứ. Nếu đi sâu vào chi tiết, ta sẽ thấy trong từng nước Đông Nam
Á, chúng chịu sự tác động của nhiều yếu tố thuộc bản chất của chế độ thuộc địa,
những thay đổi trong sinh hoạt kinh tế và phương pháp bóc lột thuộc địa. Do đó,
chúng có những nét riêng biệt ở từng nước cụ thể.
Sau khi người Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ XVI xâm chiếm Philippines, nguồn
kích thích chính khiến người Hoa tìm đến sinh sống ở đây là nền thương mại thương
thuyền. Các thương nhân Tây Ban Nha dùng thuyền chở bạc từ Mexico đến quần
đảo. Tại đây, họ mua lụa được mang từ Trung Quốc sang và chở đến Mexico bán
lại. Theo cách nói của một nhà sử học người Mỹ, "nhu cầu của Mexico đối với lụa của
Trung Quốc là không giới hạn, còn sự thèm muốn của thương nhân Trung Quốc đối với
bạc của châu Mỹ thì không bao giờ được thỏa mãn".
Đầu những năm 80 của thế kỷ XVI, một khu đất bên bờ sông Pasig ở Manila
được dành riêng cho người Hoa đến tụ hội buôn bán, đó là khu "Parian" ("Chợ lụa").
Tại đây, thương nhân Hoa đã kéo đến mở cửa hàng, thợ thủ công mở xưởng thợ đóng thuyền, làm đồ đạc, làm bánh mì... Ngoài ra, cũng có người làm nghề đánh cá,
làm vườn, thợ mộc, thợ nề. Ngay trong khoảng thời gian này, khu Parian đã quy tụ
từ 6 đến 7.000 người Hoa, trong đó từ 3 đến 4.000 sinh sống thường xuyên. Tất cả
những công trình kiến trúc bằng đá ở Manila đều được dựng lên bằng bàn tay của
người thợ Trung Quốc. Người Hoa còn buôn bán hàng hóa ngoại quốc. Họ cung cấp
cho người Tây Ban Nha và những người dân Manila khác lương thực, mà họ thu
mua từ các miền quê chung quanh. Như vậy, có thể nói rằng trong buổi đầu xây

Chính quyền Hà Lan đảm bảo cho người Hoa an ninh cá nhân, quyền tư hữu, những
điều kiện thuận lợi để kinh doanh cả trong lĩnh vực thương mại, lẫn trong việc xây
cất các công trình quân sự và chổ ở. Được Công ty giúp đỡ, người Hoa đã tổ chức
ngành công nghiệp chế biến đường mía. Năm 1710, chỉ quanh Batavia đã có đến
130 nhà máy đường, với trên 25.000 công nhân, trong đó có gần 7.000 người Hoa.
Có thể nói vào thời đó người Hoa kinh doanh trong ngành sản xuất đường có vị thế
kinh tế xem ra vững chắc hơn người bản xứ sản xuất cà phê ( ).
2. NHỮNG VA CHẠM BAN ĐẦU GIỮA NGƯỜI HOA VÀø THỰC DÂN CHÂU ÂU.
Nhưng dần dà với thời gian quan hệ sống chung cùng có lợi giữa di dân
người Hoa và thực dân châu Âu đã tỏ ra không bền vững và nhường chỗ cho những
cuộc va chạm gắt gao giữa họ với nhau ở cả Philippines lẫn Indonesia.
Ở Philippines, số di dân người Hoa tăng lên nhanh chóng (đầu thế kỷ XVII con
số này đã là vài chục ngàn) đã bắt đầu làm chính quyền thuộc địa Tây Ban Nha lo
lắng. Đã có nhiều biện pháp khe khắt chống họ được đưa ra . Họ bị đánh những
khoản thuế rất nặng, bị cấm làm một số nghề nhất định, chẳng hạn như buôn bán lẻ
và bị hạn chế đi lại trong phạm vi lãnh thổ quần đảo. Bất kỳ mưu toan phản đối nào
từ phía họ cũng đều bị trấn áp thẳng tay. Năm 1657, Toàn quyền Telo ra lệnh trục
xuất khỏi Manila tất cả những người Hoa "dư thừa", chỉ để lại trong thành phố không
quá 3 - 4.000 người, đủ để đảm bảo sinh hoạt kinh tế. Khu Parian bị đốt phá, tài sản
của người Hoa sống ở đây hầu như bị phá tiêu. Những mệnh lệnh trục xuất người
Hoa vốn được công bố nhiều lần từ thế kỷ XVII - XVIII, thường kèm theo những hoạt
động ruồng bố và thảm sát. Chỉ trong năm 1603 có đến gần 25.000 bị tống xuất vào
khu rừng núi tỉnh Pampanga. Tại đây, số lớn đã bị giết. Năm 1639, khu Parian lại bị
đốt phá và có đến 22.000 người Hoa bị giết. Nhưng mệnh lệnh trục xuất người Hoa
chỉ sau một thời gian bị bãi bỏ, vì nền thương mại bằng thuyền đổi bạc Mexico lấy
hàng Trung Quốc là nguồn sinh lợi cho các viên chức thuộc địa Tây Ban Nha.
Đến giữa thế kỷ XVIII, khi nền thương mại bằng thuyền dần dà tàn lụi, sự
quan tâm của chính quyền thuộc địa đối với hàng hóa của Trung Quốc giảm dần,
cộng đồng người Hoa lại một lần nữa bị đối xử khe khắc. Đến năm 1766, đa số
người Hoa bị trục xuất khỏi quần đảo. Chỉ còn lại vỏn vẹn gần 5.000, hơn nữa họ chỉ

Những biện pháp trừng phạt, đi kèm với các hành động nhũng nhiễu của các
viên chức thuộc địa, đã khiến cộng đồng di dân người Hoa rất bất bình và năm 1740
đã đưa đến những cuộc bạo loạn. Chính quyền thuộc địa Hà Lan đã trấn áp thẳng
tay những kẻ bất bình: gần một vạn người Hoa bị giết ( ). Sau những biến cố bi
thảm này, ở Batavia chỉ còn lại không hơn 3.000 người Hoa. Thêm vào đó những
biện pháp trừng phạt đã đưa ra trước đây vẫn được giữ nguyên: người Hoa chỉ
được sống trong những khu phố và địa điểm riêng lẻ, do chính quyền quy định, phải có
phép đặc biệt mới được đi đến những thành phố khác.
Đồng thời những biến cố năm 1740 tỏ cho thấy người Hoa giữ một vị thế
vững chắc trong sinh hoạt kinh tế ở thuộc địa, rằng họ thật cần thiết trong vai trò là
người trung gian cả cho người Hà Lan, lẫn cho người dân bản địa. Do đó, vào
khoảng năm 1742, sau khi những cuộc chống đối của người Hoa bị dập tắt, chính
quyền thuộc địa đã tuyên bố lệnh ân xá, còn ban quản lý Công ty Đông Ấn cam kết
sẽ quan tâm đến quyền lợi của họ trong những địa hạt hoạt động mà họ được phép.
Nhờ vậy, trong nửa sau thế kỷ XVIII tổng số người Hoa và hoạt động kinh tế của họ
đã được phục hồi.
3. CHẾ ĐỘ TRƯNG THUẾ VÀ NGƯỜI HOA.
Trong những năm sau đó, ở các nước thuộc địa Đông Nam Á vị thế kinh tế
của tầng lớp trên trong cộng đồng người Hoa được tăng cường không chỉ và cũng
không phải hoàn toàn nhờ mở rộng hoạt động kinh doanh, mà chủ yếu nhờ được
phép mở rộng độc quyền trưng thuế. Trong các thế kỷ XVII - XIX, chế độ trưng thuế
được thực hiện trong hầu hết các nước trong vùng, đặc biệt là ở Indonesia.
Thực ra việc giao cho các cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định
quyền trưng thuế, hoặc độc quyền sản xuất, hoặc bán các loại sản phẩm nào đó đã
từng được thực hiện ở trong vùng từ trước đó. Nhưng chế độ này phát triển rộng rãi
nhất trong nửa sau thế kỷ XVIII, mà trong đó người Hoa thường thủ giữ vai trò người
thu mua hoặc trưng thuế.
Người trưng thuế thu thuế thương nghiệp ở các chợ và thu mua sản phẩm do
dân địa phương làm ra. Không bị ai kiểm soát, họ là ông chủ thực sự ở chợ. Người
trưng thuế Hoa kiều thời đó nắm cả độc quyền đánh bắt cá trên sông ngòi hay trong

ở Indonesia đã hình thành một cộng đồng người Hoa khá đông đảo, mà thành viên
của nó đã trở thành một bộ phận không thể tách lìa khỏi dân cư Indonesia thuộc Hà
Lan. Thực dân đã thành công trong việc xây dựng một chế độ cai trị gián tiếp, nhưng
hiệu quả, bằng sự giúp đỡ của các viên chức được tuyển mộ từ trong tầng lớp trên
trong cộng đồng người Hoa. Họ phải chịu trách nhiệm trước giới thống trị Hà Lan. Hệ
thống này hình thành ngay từ cuối thế kỷ XVIII và tồn tại trong suốt thời kỳ thống trị
của Hà Lan ở Indonesia.
Đến giữa thế kỷ XIX, chế độ trưng thuế đã trở nên lỗi thời, nhưng những chân
trời mới đã mở ra trước các doanh gia người Hoa, vốn đã kịp tích lũy một số vốn
không nhỏ. Họ bắt đầu mở rộng hoạt động của mình trong tư cách người cho vay lãi,
người trung gian ngành ngoại thương, thu mua rộng rãi các sản phẩm hàng hóa của
các đồn điền và sơ chế chúng, bước vào những ngành công nghiệp truyền thống
của dân địa phương (chẳng hạn sản xuất vải batik), cạnh tranh với người Hà Lan
trong kinh tế đồn điền, mà kết quả là không ít đồn điền lớn đã chuyển sang tay họ.
Người Hoa còn thu được những nguồn lợi từ các nhà hút, nhà chứa, sòng bạc, mà
họ là chủ ( ).

Vào khoảng thời gian này ở Indonesia xét về mặt xã hội - văn hóa, cộng đồng
người Hoa đã bị phân cách rõ rệt thành hai loại, mà tiếng địa phương gọi là
"peranakan" và "totok". Nhóm đầu bao gồm những người Hoa sinh ra ở Indonesia và
chuyển sang dùng hoàn toàn tiếng địa phương, kể cả trong quan hệ gia đình, và đi
theo các chuẩn mực văn hóa của dân bản địa sống chung quanh. Loại thứ hai là
những người Hoa địa phương vẫn sử dụng tiếng Hoa khi giao tiếp với nhau, dù là
được sinh ra ở Trung Quốc hay ở Indonesia (trong đa số trường hợp đây là những di
dân thuộc thế hệ thứ nhất hoặc thế hệ thứ hai). Peranakan và totok đã và đang sống
(tức cho đến nay thành những cộng đồng riêng biệt, cả về mặt lãnh thổ cũng như xã
hội: họ không thích giao tiếp với nhau, và lắm khi không có thiện cảm với nhau). Dù
vậy, cả hai giới vẫn tự coi họ là người Hoa và xét về thực chất là một cộng đồng sắc
tộc duy nhất. Trong chuyện này, người Indonesia (và chính quyền Hà Lan trong thời
thuộc địa) cũng coi cả hai nhóm đều là người Hoa.

của thực dân châu Âu. Vào thời điểm đang nói toàn bộ vùng này đã bị các cường
quốc thực dân Âu Mỹ chia xong : Anh hoàn toàn làm chủ Malaya và Miến Điện, Pháp
hoàn tất xong việc chiếm đóng Việt Nam, Lào và Campuchia, Hà Lan đã kiểm soát
quần đảo Indonesia, Mỹ chuẩn bị thay Tây Ban Nha ở Philippines, còn sót lại mỗi
nước Xiêm độc lập thì phải chịu sự chi phối của Anh và Pháp.
Tình cảnh của các cộng đồng người Hoa tại các thuộc địa của Pháp phản ánh
nét đặc thù trong chính sách cai trị của Pháp ở từng thuộc địa. Người Hoa sống ở
Nam Kỳ có quyền sở hữu và thừa hưởng ruộng đất, hoặc được tự do di chuyển
(trong toàn cõi Đông Dương) , buôn bán, ký các hợp đồng thực hiện các công trình
xây dựng và đánh bắt cá. Chính quyền thuộc địa trao cho người cầm đầu các hội
quán kinh doanh của người Hoa những chức năng cảnh sát và thuế má rộng rãi để
họ duy trì trật tự và thu thuế trong cộng đồng. Những điều kiện thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh đã giúp tăng số người Hoa ở Nam Kỳ. Nếu năm 1859, ở xứ này có
gần 44.00 người Hoa sinh sống, thì năm 1889 con số này là 56.000. Con số di dân
người Hoa tăng đều trong những năm sau đó.
Ở các phần đất bảo hộ Bắc Kỳ và Trung Kỳ (ngoại trừ các thành phố Hà Nội,
Hải Phòng và Đà Nẵng), quyền của người Hoa bị hạn chế hơn so với ở Nam Kỳ dù ở
đất bảo hộ nhiều người Hoa vẫn làm chủ một số bất động sản đáng kể và nhiều đất
đai, được phép buôn bán, nhưng khác với Nam Kỳ một bộ phận đáng kể người Hoa
ở Bắc Việt Nam lại trực tiếp làm các nghề sản xuất. Vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ

20


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á
XX ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ số di dân người Hoa mới đến chủ yếu là công nhân ký hợp
đồng. Người ta cần họ cho những công việc trong nền kinh tế đồn điền đang tăng
trưởng của thực dân. Nhiều người Hoa lao động tại các mỏ than ở Hòn Gai. Ngoài
ra, người Hoa còn hành nghề đánh cá, làm vườn, làm việc ở bến cảng, xưởng đồ
gốm. Trong số chủ nhân các quán ăn nhỏ, hiệu giặt ủi, tiệm may có không ít người

kinh tế chính của họ là buôn bán lẻ. Ngoài ra, họ cũng làm nghề xay xát gạo ( ).
Tuy không phải là một thuộc địa, nhưng những hiệp ước bất bình đẳng mà
các nước phương Tây buộc Xiêm ký đã thực sự biến nền kinh tế của nước này
thành vật phụ thuộc về nông nghiệp cho các nước tư bản phát triển. Sự xâm nhập
của tư bản nước ngoài vào Xiêm đã tác động mạnh đến cộng đồng người Hoa. Số
tư bản phương Tây đổ vào và cả sự tăng trưởng của tư sản Thái vào những năm 70
của thế kỷ XIX đã hạn chế ở mức độ đáng kể khả năng của tư bản Hoa trong lĩnh
vực sản xuất, nhưng không cản trở quá trình tăng cường vị thế của tư bản Hoa trong
các lĩnh vực tài chính (cho vay, trưng thuế) và thương mại (xuất khẩu). Đồng thời,
quá trình hoà nhập giữa tầng lớp trên của cộng đồng người Hoa và quý tộc địa
phương cũng được đẩy nhanh. Chẳng hạn, người đứng đầu hội tộc Chin nổi tiếng
trong cộng đồng người Hoa, vốn có một vị thế nhất định trong ngành xuất khẩu vào
đầu những năm 80, sau khi kết hôn với con gái của một gia đình quý tộc tiểu vương

21


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á
quốc Lampong đã được nhượng cho việc khai thác gỗ tek trong vương quốc này.
Vào cuối những năm 1880, ông ta trở thành người đồng trưng thuế ba nhà đánh bạc
và được độc quyền bán rượu. Vào đầu thế kỷ XX, gia đình ông ta làm chủ năm nhà
máy xay lúa, nhà máy xẻ gỗ và ụ tàu ( ).
Từ cuối thế kỷ XIX, Xiêm đã tiến hành một số cải cách để ứng phó với sự xâm
nhập của tư bản nước ngoài và những điều kiện của thị trường bên ngoài. Cộng
đồng người Hoa cũng bị tác động bởi những diễn biến này. Chế độ trưng thuế bị bãi
bỏ, các hội đoàn bí mật bị cấm, còn những người cầm đầu chúng bị biên chế vào bộ
máy quan liêu nhà nước. Những thay đổi trong cấu trúc lãnh đạo cộng đồng người
Hoa tỏ cho thấy các mối quan hệ xã hội trong nội bộ cộng đồng giờ mang tính tư sản
rõ nét hơn.
Từ nửa sau thế kỷ XIX, nhịp độ gia tăng dân số của người Hoa diễn ra nhanh

người làm việc trên các công trường xây dựng, ở bến bãi; phu khuân vác trên các
công trường xây dựng đường sắt ( ). Có tới 4 vạn công nhân người Hoa có mặt tại
các mỏ thiếc trên đảo Phuket.

22


Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á
Vào đầu thế kỷ XX, khi nền nông nghiệp các vùng đông dân quanh Bangkok
có xu hướng chuyển sang sản xuất hàng hóa, các trang trại do người Hoa làm chủ
đã trồng nhiều rau quả và phát triển mạnh chăn nuôi. Chúng sử dụng đến hàng ngàn
công nhân nông nghiệp người Hoa. Nơi cần dùng nhiều lao động làm thuê là các
đồn điền cao su ở miền Nam, mà chủ nhân chính là người Hoa. Họ thường thuê
mướn công nhân đồng hương. Nhiều xưởng hay cửa hàng tiểu, thủ công nghiệp
trong nước như đóng tàu thuyền, rèn, làm đồ gốm, đóng giày, đồ mộc, đồ trang
sức... nằm trong tay các tiểu chủ người Hoa. Cùng lao động với họ có không ít thợ
người Hoa ( ).
Vốn mạnh, nhiều kinh nghiệm trên thương trường, chỗ dựa chính trị vững
chắc... là những thế mạnh của tư bản phương Tây, mà giới doanh gia người Hoa ở
Đông Nam Á đang trong quá trình hình thành không thể có, và tất nhiên họ gặp khó
khăn không ít khi phải cạnh tranh với tư bản châu Âu. Một trong những biện pháp
bảo vệ vị thế của mình, mà tư bản Hoa bắt đầu sử dụng từ đầu thế kỷ XX là các
phòng thương mại của họ. Đây là những tổ chức khép kín được lập ra nhằm tương
trợ cho nhau, trao đổi tin tức trên thương trường, chia xẻ vùng ảnh hưởng, hòa giải
trong nội bộ các bất đồng giữa các đồng nghiệp - đồng hương... Lúc đầu, phòng
thương mại được thành lập theo ngành nghề, cơ bản là theo các hội buôn cũ, thời
gian sau xuất hiện các liên hiệp phòng thương mại trên quy mô cả nước. Những
phòng thương mại Hoa kiều xuất hiện ở Philippines năm 1904, ở Singapore năm
1906, Indonesia năm 1907. Về sau xuất hiện thêm các phòng thương mại hỗn hợp,
như Philippines - Hoa, Indonesia - Hoa...

68% sản lượng, thì năm 1925 còn 56% và đến năm 1929 chỉ còn lại 39%. Bức tranh
tương tự cũng được nhìn thấy ở Xiêm: trong những năm 1916 - 1917, các mỏ thiếc
của người Hoa cung cấp hơn 67% sản lượng thiếc khai thác được, nhưng trong
những năm 1936 - 1939 còn không đầy 38%. Còn tư bản Mỹ ở Philippines đã đánh
bật người Hoa khỏi công nghiệp khai khoáng và khái thác gỗ, cũng như nhiều ngành
công nghiệp khác trước Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Ở Indonesia, trong khoảng thời
gian này tổng số đầu tư của tư bản Hà Lan được xác định là 1.040 triệu đô la, còn
của người Hoa chỉ 150 triệu ( ).
Tuy nhiên, ở những nước chúng ta vừa xem xét tư bản người Hoa vẫn nắm
chắc, giống như trước đây, hầu như toàn bộ hoạt động thương mại, dịch vụ, và phần
nào đó công nghiệp khai khoáng và chế biến, kinh tế đồn điền.
Ở Việt Nam, vị thế vững chắc của tư bản người Hoa nằm trong lĩnh vực
thương nghiệp. Họ làm chủ hầu hết thuyền buôn (trong tay họ có đến 3.000 thuyền),
thương nhân Hoa hầu như nắm độc quyền việc buôn bán gạo. Họ nắm trong tay đa
số nhà máy xay xát gạo ở Chợ Lớn. Thương nhân Hoa buôn gạo còn thành lập các
đại lý, vốn cũng là người Hoa để thu gom lúa trực tiếp từ tay người sản xuất ( ).
Những nhà buôn sỉ cỡ lớn cũng làm luôn cả nghề cho vay và cung cấp tín
dụng. Họ cung cấp tín dụng cho các nhà buôn sỉ cấp hai. Những người này mua chịu
hàng của họ, kể cả hàng nhập khẩu, và bán lại cho những người buôn lẻ.
Theo tính toán của nhà kinh tế học người Mỹ Callis,vào năm 1941 tổng số vốn
đầu tư của người Hoa ở các nước Đông Dương thuộc Pháp là 80 triệu đô la, trong
lúc toàn bộ vốn đầu tư của tư bản nước ngoài là 384 triệu ( ). Thành phần của
doanh nhân người Hoa, ngoài thương nhân, còn có chủ nhà máy xẻ gổ, nhà máy
đường, đồn điền. Nhiều người Hoa cũng làm các nghề tiểu, thủ công nghiệp, làm
vườn, đánh cá ( ).
Trong cấu trúc xã hội của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trước Chiến tranh

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status