TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ
LÊ PHỤNG HOÀNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ
LỊCH SỬ – VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
(Bài giảng chuyên đề)
(Tái bản lần thứ nhất có sửa chữa bổ sung)
LƯU HÀNH NỘI BỘ - 2006
BÀI I
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI GỐC HOA Ở ĐÔNG NAM Á
(cho đến nửa đầu thế kỷ XX)
MỤC ĐÍCH CỦA CHUYÊN ĐỀ
Trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á, người gốc Hoa đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, thậm
chí ở một vài nước (Indonesia, Singapore) còn mang tính quyết đònh. Không có họ, nền kinh tế các nước
trong vùng chắc chắn sẽ vấp phải không ít khó khăn.
Trong vòng trên dưới hai thập niên trở lại đây, vò thế của họ trong sinh hoạt kinh tế ở các nước
Đông Nam Á lại có chiều hướng tăng lên, do họ có những mối quan hệ khăng khít với các lãnh thổ
Trung Hoa, vốn đang trải qua thời kỳ phát triển thònh đạt về kinh tế, như Trung Quốc, Đài Loan và
Hongkong.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa người gốc Hoa và người bản đòa không phải lúc nào cũng êm đẹp. Ở
những nước Đông Nam Á có tỷ lệ người gốc Hoa cao (như Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Việt
lính, quan chức và có thể cả thương nhân và thợ thủ công người Hoa. Tìm đến đây thỉnh thoảng có cả
những làn sóng người chạy nạn chiến tranh, chạy trốn sự truy bức mỗi khi có sự thay đổi triều đại ở
Trung Quốc, hay chạy đói vì thiên tai. Bắc bán đảo Đông Dương còn là nơi dung thân của những kẻ
tham gia các cuộc nổi dậy nông dân bò thất bại, chẳng hạn cuộc nổi dậy Hoàng Sào nổi tiếng trong thế
kỷ X (2).
Ngoài ra, ở một số tụ điểm dân cư trong một vùng đất rộng lớn trải dài từ Thượng Miến đến phía
bắc phần lãnh thổ của Campuchia hiện nay đã có mặt các thương nhân Hoa ngay từ thế kỷ II s.CN (3).
Tuy nhiên, không thể cho rằng những cuộc dòch chuyển kể trên như là bước khởi đầu trực tiếp của
quá trình hình thành các cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á vì chúng diễn ra rời rạc, cách nhau từng
khoảng thời gian khá dài và nhất là vì chưa tạo được những cộng đồng dân cư đông đảo, mà trong đó
tộc người Hoa chiếm đa số từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cộng đồng người Hoa di dân sang Đông
Nam Á trong thiên niên kỷ đầu sau Công nguyên không tồn tại lâu dài, lúc hiện, lúc mất, vì một số
quay về tổ quốc, còn số ở lại đã lấy người bản xứ, học ngôn ngữ và tiếp thu cả phong tục, tập quán đòa
phương để rồi sau vài thế hệ hoàn toàn bò hòa tan vào cộng đồng người bản xứ, quên đi tiếng mẹ đẻ và
thậm chí cả nguồn gốc tổ tiên mình. Tính không ổn đònh của các cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á
kéo dài cho đến nửa đầu thiên niên kỷ I s.CN.
Tuy nhiên, tình hình bắt đầu thay đổi từ thế kỷ XII, đặc biệt rõ rệt từ thế kỷ XIV-XV. Những hiện
tượng như: một số quay về Trung Quốc, số khác bò đồng hóa với người bản đòa vẫn còn nguyên; nhưng
lúc này số người di dân từ Trung Quốc tăng lên đến mức chẳng những cộng đồng người Hoa đông hơn,
mà cả mức cố kết về xã hội và sắc tộc của họ cũng trở nên chặt chẽ hơn. Có thể nói đây là thời điểm
bắt đầu hình thành các nhóm cộng đồng người Hoa như là một bộ phận dân cư riêng biệt ở các nước
Đông Nam Á. Những thay đổi này gắn liền với với sự kiện là ở Trung Quốc đã xuất hiện một tình
huống thúc đẩy khá nhiều người dân rời bỏ quê hương để tìm đến những vùng đất lạ. Đó là: đất cày
thiếu, số người không có đất canh tác tăng lên; nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ ra đời đã thúc đẩy các
thương nhân đi tìm thêm thò trường tiêu thụ hàng hóa. Đó là chưa kể chế độ phong kiến Trung Quốc
1
Solheim W.G. New Light on a Forgotten Past. - National Geographic. Wash, 1971, No3, p.339.
Purcell V. The Chinese in Southeast Aisa. L. 1965, p.182-183.
3
I.2. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC CỦA DI DÂN NGƯỜI HOA.
Sinh sống trong một môi trường hoàn toàn xa lạ, không hiếm khi thù đòch như trên, người Hoa đã
tìm kiếm những hình thức tự vệ về tâm lý và xã hội. Hoặc là họ dấn sâu hơn nữa vào môi trường bằng
cách lấy vợ người đòa phương (di dân người Hoa hầu hết là đàn ông) và học ngôn ngữ bản đòa. Nhưng
đa số người Hoa đi theo con đường khác - giữ gìn và thiết chế hóa các rào cản xã hội - tâm lý giữa họ
và các sắc dân đòa phương, bằng cách sử dụng những hình thức tổ chức xã hội riêng biệt đã hình thành
từ lâu.
Hình thức tổ chức bền vững nhất của các di dân người Hoa là hội đồng tộc, mà trong thuật ngữ khoa
học gọi là "hội tộc" ("clan"). Xuất hiện từ thời rất xa xưa, hội tộc ở Trung Quốc lan tràn rộng rãi trong
các thế kỷ XV - XVII và mở rộng chức năng của nó ở ngay tại các lãnh thổ miền Nam Trung Quốc, nơi
xuất phát các đợt di dân đến Đông Nam Á. Bản thân việc rời bỏ quê hương để tìm đến lập nghiệp ở
những vùng đất xa xôi phải được sự đồng ý của các thành viên lớn tuổi nhất trong tộc. Chi phí đi đường
không hiếm khi được quỹ của tộc đài thọ. Còn người ra đi nếu làm ăn khấm khá, phải đóng góp một
phần tài sản cho tộc. Do vậy, dù việc rời bỏ Trung Quốc ra đi trên thực tế có nghóa là đã cắt đứt mọi
quan hệ thân thuộc, những di dân người Hoa vẫn có một thói quen rất bền vững là tìm đến những người
cùng họ ở vùng đất mới để kết hợp thành một thứ na ná như hội tộc, bất chấp họ có phải là bà con thực
sự hay không (cần nhớ rằng ở Trung Quốc, số người cùng một họ rất đông, vì số họ trong cả nước chỉ
hơn trăm). Vai trò của hội tộc trong đời sống hàng ngày của di dân người Hoa rất đáng kể. Những nghóa
vụ tương trợ lâu dài đã đoàn kết những thành viên của hội tộc ở vùng đất lập cư, tăng cường tính bền
vững của cộng đồng, nhưng đồng thời đòi hỏi mỗi người Hoa phải tuân phục triệt để trưởng hội tộc.
Một hình thức tổ chức khác là "hội đồng hương", ra đời từ một thực tế lòch sử - sắc tộc là cư dân
miền Nam Trung Quốc, nơi phát xuất đại bộ phận di dân người Hoa ở Đông Nam Á, đã sống phân tán
3
thành nhiều nhóm trên các lãnh thổ ít nhiều biệt lập với nhau. Mỗi nhóm có một thổ ngữ riêng. Tình
hình đã khiến họ khó hiểu nhau khi phải tiếp xúc với nhau bằng ngôn ngữ nói. Di dân người Hoa ở
Đông Nam Á sử dụng rất nhiều thổ ngữ, như tiếng Hẹ (gốc miền Đông Quảng Đông), Phúc Kiến,
trương xây dựng những khu cư trú (colony) ở hải ngoại. Thứ hai, là họ lo sợ sự ra đời ở nước ngoài của
các trung tâm chống đối ách thống trò nặng nề và chế độ kiểm soát ti tiện của họ ở trong nước. Cuối
cùng là chính quyền phong kiến nhìn bằng con mắt hồ nghi các hoạt động thương mại của các thương
nhân - di dân người Hoa ở vùng bờ biển Trung Quốc, vì chúng không chòu sự kiểm soát của họ.
Vì những nguyên nhân trên, dù các khu di trú của di dân người Hoa ở Đông Nam Á trong các thế kỷ
XV-XVII đã xuất hiện nhiều và với số dân không nhỏ, người ta hoàn toàn không thể gọi chúng là hệ
thống các khu di trú. Chính đây là sự khác biệt cơ bản giữa các khu di trú người Hoa và khu di trú người
Âu, vốn sẽ ra đời không lâu sau đó ở Đông Nam Á.
I.3. TÌNH HÌNH KHÁI QUÁT CÁC KHU DI TRÚ CỦA NGƯỜI HOA TỪ THẾ KỶ XV-XVIII.
Một trong những nơi mà người Hoa có mặt sớm nhất và đông nhất là vương quốc Đại Việt, nằm ở
khu vực duyên hải miền Bắc và miền Trung bán đảo Đông Dương, ngay từ thế kỷ X, sau khi nhân dân
1
Willmot D.E. The Chinese of Semarang. N.Y. 1960, p.4.
4
vương quốc này bằng cuộc đấu tranh kiên cường đã thoát khỏi ách thống trò kéo dài cả ngàn năm của
phong kiến Trung Quốc. Sau khi những kẻ xâm lược bò đánh đuổi, khoảng 87.000 quan chức người Hoa
và gia đình đã bò trục xuất, nhưng vẫn còn một số đáng kể đã ở lại và đăng ký vào sổ bộ như người
Việt Nam(1).
Trong các thế kỷ XI - XIV, tức thời kỳ tồn tại của Đế chế Angkor trên lãnh thổ Campuchia, trong
nước này đã xuất hiện một khu di trú cố đònh của người Hoa. Họ sinh sống chủ yếu bằng nghề buôn
bán (2). Họ chở đến đây kim loại màu, vải lụa và vải bông, đồ gốm và giấy. Luân chuyển qua tay họ
một khối lượng đáng kể hàng hóa bản đòa - ngà voi, gia vò và dầu ăn. Thương nhân Campuchia thường
chỉ đóng vai trò người trung gian giữa dân đòa phương và thương nhân Trung Quốc. Người Hoa ở
Campuchia cũng dự phần vào hoạt động thương mại quốc tế : vào thời đó Angkor là trung tâm thương
mại quan trọng trên các ngã giao đường giữa Đông và Tây.
2
3
4
5
Fijiwara Ruchiro. Chính sách đối với dân Trung Hoa di cư của các triều đại Việt Nam - Khảo cổ, Sài Gòn, 1974, N0
VIII, tr.143.
Cady F.F. Sđd, p.24.
Purcell V., Sđd, p.85-86.
Skinner G.W. Chinese Society in Thailand. An Analitical History. N.Y. 1962, p.7-8.
Anderson J. English Intercourse with Siam in the Seventeenth Century. L. 1890, p.80.
5
Sau khi quân Miến tràn vào lãnh thổ Xiêm và vương quốc Ayuthaya bò sụp đổ năm 1767, một quan
chức cấp tỉnh gốc Iukchin (tức có cha người Hoa và mẹ người Thái) tên P'ya Taksin đã cầm đầu một
đạo quân. Ông tỏ ra là người cầm quân xuất chúng khi chỉ trong vòng một năm đã đánh đuổi được quân
xâm lược Miến và sau đó lên ngôi vua (1). Dưới thời P'ya Taksin, kinh đô chuyển về Thonburin và sau
đó đến Bangkok, gần với các con đường thương mại của thế giới. Lúc này, vốn liếng của thương nhân
chuyển mạnh hơn sang ngành thủ công - cơ xưởng và nông nghiệp; nhiều đồn điền trồng tiêu mọc lên.
Họ cũng thu mua lúa và chuyển sang Trung Quốc.
Với những tiểu quốc nằm trên quần đảo Mã Lai, Trung Quốc đã lập quan hệ ngoại giao từ thế kỷ
V, và những di dân người Hoa đã có mặt ở bờ biển Bắc Java vào thế kỷ X, nhưng phải đến thế kỷ XI số
người Hoa ở đây mới tăng lên đáng kể. Sau khi Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt thất bại trong mưu
toan đánh chiếm Java (cuối thế kỷ XIII), hơn 100 chiến binh Trung Quốc nằm trong đạo quân xâm lược
đã không thích quay về cố quốc. HọÏ tìm đến đònh cư trên đảo Billinton. Nơi đây đã thành khu di trú lâu
2
3
4
Rong Syamananda. A History of Thailand. Bangkok, 1981, p.93.
Willmott D.E., Sđd, p.1-3.
Purcell V., Sđd, P.235, 239.
Purcell V., Sđd, P390.
6
công ở các đô thò thời đó phần lớn là của người Hoa (1).
Lòch sử Trung Quốc của người Hoa trên lãnh thổ tiểu quốc Palambang (đảo Sumatra) có nội dung
khá lý thú. Vào khoảng năm 1380, vài ngàn người Hoa sinh sống ở đây bằng nghề thương mại hàng
hải đã bầu một trong số các thương nhân giàu có lên làm thủ lónh của họ. Lợi dụng vò trí thuận lợi của
Palembang nằm trên các tuyến đường nhộn nhòp giữa Ấn Độ Dương và biển Đông, các tiểu vương cai
trò Palembang không chỉ tìm cách buôn bán kiếm lời, mà còn hành nghề thủy tặc, cướp đoạt ngay cả
các chuyến tàu của hoàng đế Trung Quốc chở các cống vật từ các nước phương Nam về Trung Quốc.
Một trong các tiểu vương Palembang trong một lần tổ chức đánh cướp như vậy đã bò bắt và bò gia hình,
nhưng tiểu quốc này vẫn được hoàng đế Trung Quốc cho phép hưởng chế độ tự trò, mà không bò thiên
triều hỏi tội. Diễn biến vừa kể là một ví dụ hùng hồn cho thấy ảnh hưởng rất có giới hạn của nhà Minh
đối với các cộng đồng cư dân người Hoa ở Đông Nam Á, ngay cả đối với vùng quần đảo Malaya Indonesia, nơi không tồn tại một nhà nước phong kiến tập trung nào đủ sức chống chọi với áp lực quân
sự của Trung Quốc.
Quần đảo Philippines từ cuối thế kỷ X thỉnh thoảng tiếp đón các đoàn thương thuyền Trung Quốc
lui tới. Chúng chở hàng hóa, và đôi khi cả người đến sống một thời gian. Người Hoa thường tìm đến
sống trong các khu dân cư đông đúc ven bờ biển, chủ yếu ở Manila trên đảo Luzon. Trong các thế kỷ
XII và XIII, trung tâm hoạt động thương mại nhộn nhòp với Trung Quốc là quần đảo Sulu. Trong số các
hàng hóa phát xuất từ đây có ngọc trai.
Đầu thế kỷ XV giữa các tiểu vương quốc trên đảo Luzon và Trung Quốc lần đầu tiên có sự trao đổi
Prucell V., Sđd, p.500.
7
chống đối kiên đònh với chính quyền Mãn Châu đã được xác lập ở Bắc Kinh. Với thời gian, ở những nơi
này đã xuất hiện nhiều hội kín, tương tự như các hội yêu nước bí mật kháng Thanh được thành lập ở
miền Nam Trung Quốc. Trong hoàn cảnh ở các khu di trú, các hội kín đã mang một số nét đặc thù sau :
cơ sở xã hội của chúng là dân nghèo thành thò (thay vì bần cố nông như ở Trung Quốc). Chúng không
chỉ kháng Thanh, mà còn bảo vệ, trong trường hợp cần thiết, những đồng hương của mình chống lại
những kẻ áp bức người bản đòa. Vũ khí của chúng chủ yếu là khủng bố, còn những nguồn cung cấp tài
chính cho chúng là các sòng bạc, nhà chứa, tiệm hút, hoạt động buôn lậu. Giới cầm đầu các hội tộc
người Hoa ra sức nắm lấy các hội kín. Chính vũ khí khủng bố và những nguồn cung cấp tài chính kiểu
như vậy đã tạo nên tính chất hai mặt của chúng.
Triều Thanh gắng hết sức hạn chế mọi mưu toan thiết lập các mối liên lạc giữa các di dân người
Hoa ở Đông Nam Á và Trung Quốc. Chính quyền mới dồn đuổi mọi người dân sống ở ven biển vào sâu
trong đất liền, nhằm cắt đứt liên lạc với phía nam theo đường biển; việc ra nước ngoài bò cấm đoán
bằng hình phạt tử hình; ngoại thương bò coi là độc quyền của Nhà nước và bò giảm mạnh (1).
Tất cả những biện pháp trên không chỉ khiến các cộng đồng di dân người Hoa trở nên ngày càng xa
lạ với cố quốc, mà còn góp phần đáng kể vào việc củng cố và ổn đònh chúng, vì nguồn bổ sung di dân
mới bò đình trệ trong một thời gian dài, mọi hy vọng quay về cố quốc dù là do tuổi già xem ra khó lòng
trở thành hiện thực. Trong những điều kiện như vậy, di dân đành bằng lòng với cuộc sống ổn cố lâu dài
ở nơi cư ngụ mới và đi tìm những phương cách sống chung tốt nhất với dân bản đòa.
Tình hình của các nhóm sắc tộc người Hoa ở Đông Nam Á mãi đến cuối thế kỷ XVIII và trong thế
kỷ XIX mới thay đổi ít nhiều, khi nhà Thanh, dưới sức ép của những đòi hỏi kinh tế trong nước, đặc biệt
của tiến trình bành trướng tích cực ở biển Đông của các cường quốc phương Tây, đã buộc lòng giảm bớt
những hạn chế đối với ngoại thương, đối với việc ra nước ngoài, và cho phép cả việc tuyển mộ công
nhân trong nước ra làm việc ở ngoại quốc.
Tất nhiên là tác động của những chuyển biến trên, đối với các cộng đồng người Hoa ở các nước
Đông Nam Á là không như nhau. Chòu ảnh hưởng rõ rệt nhất là cộng đồng người Hoa ở Miến Điện và
Mạc Cửu đã lập hội tao đàn, phổ biến học thuyết Khổng Tử. Tất cả những hoạt động này đã nhận được
sự khuyến khích của các chúa Nguyễn (1).
Từ thế kỷ XVIII, người Hoa khi tìm sang Việt Nam thường đến miền Nam (tức Đàng Trong). Lý do
có thể là các chúa Nguyễn đã tạo cho họ nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với miền Bắc (tức Đàng
Ngoài). Chúa Nguyễn hy vọng họ sẽ trở thành chỗ dựa xã hội và chính trò ở vùng đất mới, nơi số người
Việt hãy còn ít ỏi so với các dân tộc bản đòa, vốn chòu ảnh hưởng của các nền văn hóa khác.
Trong khi đó ở Đàng Ngoài, vua Lê và sau đó chúa Trònh lại thi hành chính sách chèn ép các di dân
người Hoa. Họ không được phép tự do đi lại trong nước, thương nhân người Hoa chỉ được buôn bán ở
các đòa điểm đã được quy đònh sẵn. Người Hoa không những phải tuân theo các phong tục tập quán của
người Việt Nam, mà họ còn bò buộc mặc quần áo và để đầu tóc như người bản xứ. Số thợ người Hoa
làm việc ở những nơi khai thác quặng mỏ, đặc biệt là quặng bạc bò giới hạn. Tuy nhiên, như các nguồn
sử liệu thời đó cho thấy lệnh này thường không được tuân thủ nghiêm ngặt. Dù bò cấm đoán, tại mỏ bạc
Đồng Thònh số công nhân người Hoa lên đến 10.000. Các di dân người Hoa sống lẫn lộn với người đòa
phương. Họ mở các hiệu buôn và quán ăn. Dù không được phép sống ở Thăng Long, họ vẫn tìm cách
mở các quán hàng ở đây (2).
Trong khi đó, các chúa Nguyễn lại theo đuổi một chính sách khác hẳn. Họ cho phép di dân người
Hoa được tự do ghé lại tất cả các cảng. Ở cảng Hội An trên sông Thu Bồn xuất hiện các điểm cư trú
của thương nhân và thợ thủ công người Hoa. Ở các thò trấn, di dân người Hoa được phép sống quần tụ
thành từng khu riêng biệt và được phép tự quản theo các truyền thống, lề thói lâu nay của người Trung
Quốc. Quá trình xây dựng các thò trấn mới ở miền Nam từ thế kỷ XVIII đều diễn ra với sự tiếp tay của
người Hoa.
Trong thời kỳ diễn ra cuộc nổi dậy của phong trào Tây Sơn chống chúa Nguyễn, cư dân đô thò
người Hoa do sợ mất đi sự đỡ đầu của chính quyền, đã không ủng hộ phong trào. Vì lẽ này, họ đôi khi
phải trả giá đắt. Nhiều nơi cư trú của họ đã bò quân Tây Sơn đốt trụi, riêng ở Chợ Lớn không dưới một
vạn người Hoa bò giết (3). Năm 1802, triều Tây Sơn bò tiêu diệt. Triều đại mới lên cầm quyền là nhà
Nguyễn. Một trong những sắc chỉ đầu tiên của chính quyền mới là thu hút các só phu người Hoa vào
làm trong bộ máy công quyền và quân đội (4).
Ở Campuchia, người Hoa bắt đầu tìm đến đònh cư từ cuối thế kỷ XVII. Một số người Hoa sau khi
đến Mỹ Tho đã ngược dòng Cửu Long đi sâu vào bên trong lãnh thổ Campuchia. Một vùng khác ở xứ
này có số người Hoa đáng kể là tỉnh Kampot nằm bên bờ vònh Xiêm La. Cai quản họ không ai khác
Theo luật lệ Khmer, người Hoa sinh sống ở Campuchia được coi là thần dân của nhà vua, nhưng họ
được bầu người đứng đầu cộng đồng. Ông này chòu trách nhiệm thu thuế và giữ gìn trật tự. Họ được
miễn các nghóa vụ lao dòch và binh dòch, đồng thời có thể giữ các chức vụ trong bộ máy công quyền
bằng cách mua các chức quan. Dù người Hoa ở Campuchia có các tổ chức cộng đồng riêng của mình,
họ không sống khép kín, mà thường xuyên quan hệ với người đòa phương.
Cho đến nửa sau thế kỷ XIX, số người Hoa sinh sống ở Lào là rất ít. Họ chủ yếu là con cháu của
người Hoa đến đây đònh cư trong các thế kỷ XV - XVII. Cộng đồng của họ sau này có phát triển lên ít
nhiều là nhờ mở rộng các quan hệ mậu dòch với người láng giềng phía bắc.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng trên lãnh thổ bán đảo Đông Dương đã diễn ra quá trình hình thành
các cộng đồng sắc tộc người Hoa như là một bộ phận cấu thành bền vững của xã hội đa sắc tộc. Nó
diễn ra một cách tự nhiên, không gây ra những chấn động xã hội hoặc chính trò lớn. Bắt đầu từ cuối thế
kỷ XIV, quá trình vừa kể kéo dài vài thế kỷ, trong đó các thế hệ người di dân từ Trung Quốc sang và
dân bản đòa sống hòa lẫn vào nhau một cách tự nhiên. Giữa họ không diễn ra các cuộc va chạm đáng
kể nào, hay có những xung khắc về văn hóa hoặc tôn giáo không thể hoà giải được. Hơn thế nữa, họ
còn được gắn kết với nhau bằng những quyền lợi chung nhất đònh, mặc dù họ vẫn giữ gìn những nét đặc
sắc xã hội - văn hóa, và bằng những nét đặc thù trong nếp sinh hoạt hàng ngày của mình. Chẳng hạn,
như di dân người Hoa ở Xiêm La trong nửa sau thế kỷ XVIII đã tích cực tham gia vào hoạt động đấu
tranh quân sự nhằm giải phóng đất nước khỏi ách thống trò của Miến Điện.
Tuy nhiên, tiến trình hòa nhập một cách tự nhiên này đã bò phá vỡ sau khi chủ nghóa tư bản thực
dân phương Tây xâm nhập vào Đông Nam Á và biến các quốc gia trong vùng thành các thuộc đòa hay
nước phụ thuộc. Số phận của các nhóm sắc tộc người Hoa cũng bò biến cố này tác động rất mạnh.
10
Chương II
SỰ HÌNH THÀNH CÁC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA TRONG THỜI KỲ TƯ BẢN
THỰC DÂN
PHƯƠNG TÂY XÂM CHIẾM ĐÔNG NAM Á
Do đó, không đáng ngạc nhiên nếu dân đòa phương không ít lần tỏ thái độ khinh ghét đám thương
nhân giàu có người Hoa. Chính những người này đònh giá hàng hóa, cho vay nặng lãi, đã thế lại còn
làm người phò tá trực tiếp cho bọn xâm lược Âu đáng ghét. Họ quên rằng họ cũng là người nước ngoài,
theo một tín ngưỡng xa lạ, nói tiếng nói khác, sống theo những phong tục, tập quán lạ lùng đối với
người đòa phương, mặc những bộ đồ không giống như họ. Trong khi chỉ mỗi một trong số những khác
biệt vừa kể cũng đủ gây mối ác cảm nơi người bản xứ.
Trên đây là đại thể số phận của những di dân người Hoa và mối quan hệ giữa họ với người bản xứ.
Nếu đi sâu vào chi tiết, ta sẽ thấy trong từng nước Đông Nam Á, chúng chòu sự tác động của nhiều yếu
tố thuộc bản chất của chế độ thuộc đòa, những thay đổi trong sinh hoạt kinh tế và phương pháp bóc lột
thuộc đòa. Do đó, chúng có những nét riêng biệt ở từng nước cụ thể.
Sau khi người Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ XVI xâm chiếm Philippines, nguồn kích thích chính
11
khiến người Hoa tìm đến sinh sống ở đây là nền thương mại thương thuyền. Các thương nhân Tây Ban
Nha dùng thuyền chở bạc từ Mexico đến quần đảo. Tại đây, họ mua lụa được mang từ Trung Quốc
sang và chở đến Mexico bán lại. Theo cách nói của một nhà sử học người Mỹ, "nhu cầu của Mexico đối
với lụa của Trung Quốc là không giới hạn, còn sự thèm muốn của thương nhân Trung Quốc đối với bạc
của châu Mỹ thì không bao giờ được thỏa mãn".
Đầu những năm 80 của thế kỷ XVI, một khu đất bên bờ sông Pasig ở Manila được dành riêng cho
người Hoa đến tụ hội buôn bán, đó là khu "Parian" ("Chợ lụa"). Tại đây, thương nhân Hoa đã kéo đến
mở cửa hàng, thợ thủ công mở xưởng thợ - đóng thuyền, làm đồ đạc, làm bánh mì... Ngoài ra, cũng có
người làm nghề đánh cá, làm vườn, thợ mộc, thợ nề. Ngay trong khoảng thời gian này, khu Parian đã
quy tụ từ 6 đến 7.000 người Hoa, trong đó từ 3 đến 4.000 sinh sống thường xuyên. Tất cả những công
trình kiến trúc bằng đá ở Manila đều được dựng lên bằng bàn tay của người thợ Trung Quốc. Người
Hoa còn buôn bán hàng hóa ngoại quốc. Họ cung cấp cho người Tây Ban Nha và những người dân
Manila khác lương thực, mà họ thu mua từ các miền quê chung quanh. Như vậy, có thể nói rằng trong
buổi đầu xây dựng và phát triển của nó, Manila - trung tâm quyền lực của chế độ thực dân Tây Ban
Nha ở Philippines - đã dựa chủ yếu vào bàn tay của di dân người Hoa.
Purcell V., Sđd, p.397.
Purcell V., Sđd, p.396.
3
Furnivall J.S. Netherlands India: A Study of Plural Economy. Cambridge, 1967, p.41.
2
12
chục ngàn) đã bắt đầu làm chính quyền thuộc đòa Tây Ban Nha lo lắng. Đã có nhiều biện pháp khe
khắt chống họ được đưa ra. Họ bò đánh những khoản thuế rất nặng, bò cấm làm một số nghề nhất đònh,
chẳng hạn như buôn bán lẻ và bò hạn chế đi lại trong phạm vi lãnh thổ quần đảo. Bất kỳ mưu toan phản
đối nào từ phía họ cũng đều bò trấn áp thẳng tay. Năm 1657, Toàn quyền Telo ra lệnh trục xuất khỏi
Manila tất cả những người Hoa "dư thừa", chỉ để lại trong thành phố không quá 3 - 4.000 người, đủ để
đảm bảo sinh hoạt kinh tế. Khu Parian bò đốt phá, tài sản của người Hoa sống ở đây hầu như bò phá
tiêu. Những mệnh lệnh trục xuất người Hoa vốn được công bố nhiều lần trong các thế kỷ XVII - XVIII,
thường kèm theo những hoạt động ruồng bố và thảm sát. Chỉ trong năm 1603 có đến gần 25.000 bò tống
xuất vào khu rừng núi tỉnh Pampanga. Tại đây, số lớn đã bò giết. Năm 1639, khu Parian lại bò đốt phá
và có đến 22.000 người Hoa bò giết. Nhưng mệnh lệnh trục xuất người Hoa chỉ sau một thời gian bò bãi
bỏ, vì nền thương mại bằng thuyền đổi bạc Mexico lấy hàng Trung Quốc là nguồn sinh lợi cho các viên
chức thuộc đòa Tây Ban Nha.
Đến giữa thế kỷ XVIII, khi nền thương mại bằng thuyền dần dà tàn lụi, sự quan tâm của chính
quyền thuộc đòa đối với hàng hóa của Trung Quốc giảm dần, cộng đồng người Hoa lại một lần nữa bò
đối xử khe khắc. Đến năm 1766, đa số người Hoa bò trục xuất khỏi quần đảo. Chỉ còn lại vỏn vẹn gần
5.000, hơn nữa họ chỉ được sống trong những vùng cận Manila và bò buộc phục vụ người Tây Ban Nha.
Từ thời điểm này, vò thế kinh tế của người Hoa lai - tức con cháu sinh ra từ các cuộc hôn phối giữa
những người đàn ông Hoa và các phụ nữ đòa phương - bắt đầu được củng cố.
Đầu thế kỷ XIX, trên toàn lãnh thổ Philippines chỉ có khoảng 7.000 người Hoa sinh sống, trong lúc
số người lai lên đến hơn 119.000. Nhiều người trong số này đã theo đạo Công giáo. Họ lại được chính
13
người dân bản đòa. Do đó, vào khoảng năm 1742, sau khi những cuộc chống đối của người Hoa bò dập
tắt, chính quyền thuộc đòa đã tuyên bố lệnh ân xá, còn ban quản lý Công ty Đông Ấn cam kết sẽ quan
tâm đến quyền lợi của họ trong những đòa hạt hoạt động mà họ được phép. Nhờ vậy, trong nửa sau thế
kỷ XVIII tổng số người Hoa và hoạt động kinh tế của họ đã được phục hồi.
II.3. CHẾ ĐỘ TRƯNG THUẾ VÀ NGƯỜI HOA.
Trong những năm sau đó, ở các nước thuộc đòa Đông Nam Á vò thế kinh tế của tầng lớp trên trong
cộng đồng người Hoa được tăng cường không chỉ và cũng không phải hoàn toàn nhờ mở rộng hoạt động
kinh doanh, mà chủ yếu nhờ được phép mở rộng độc quyền trưng thuế. Trong các thế kỷ XVII - XIX,
chế độ trưng thuế được thực hiện trong hầu hết các nước trong vùng, đặc biệt là ở Indonesia.
Thực ra việc giao cho các cá nhân trong một khoảng thời gian nhất đònh quyền trưng thuế, độc
quyền sản xuất hoặc bán các loại sản phẩm nào đó đã từng được thực hiện ở trong vùng từ trước đó.
Nhưng chế độ này phát triển rộng rãi nhất trong nửa sau thế kỷ XVIII, mà trong đó người Hoa thường
thủ giữ vai trò người thu mua hoặc trưng thuế.
Người trưng thuế thu thuế thương nghiệp ở các chợ và thu mua sản phẩm do dân đòa phương làm ra.
Không bò ai kiểm soát, họ là ông chủ thực sự ở chợ. Người trưng thuế Hoa kiều thời đó nắm cả độc
quyền đánh bắt cá trên sông ngòi hay trong vònh, buôn bán thuốc lá, rượu và thuốc phiện, và cả quyền
thu thuế thân. Công ty Đông Ấn, vốn được giao độc quyền chế biến và bán muối, đã giao khoán cho
người trưng thuế toàn bộ các làng Java ven biển; dân cư các làng này bò buộc phải hành nghề khai thác
muối và bán toàn bộ sản phẩm cho người trưng thuế.
Đến cuối thế kỷ XVIII, độc quyền của người trưng thuế được mở rộng ra khắp nhiều vùng. Nhờ
vậy, họ đã có thể phát triển các hoạt động kinh doanh của mình. Năm 1796, trong số 8535 làng nằm
dưới quyền cai quản trực tiếp của Công ty, 1134 được giao thác cho người Hoa thu mua. Bằng các hợp
đồng đã được ký, người trưng thuế Hoa kiều thực sự nắm quyền cai quản những phần lãnh thổ đáng kể,
và họ đã trở thành một thứ phong kiến: dân làng buộc phải nộp thuế đất và những sắc thuế khác, và
phải thực hiện cả các nghóa vụ lao động.
Ở trong một tình cảnh đặc biệt nặng nề là dân cư các làng và vùng bò giao khoán thu thuế trong một
những người Hoa đòa phương vẫn sử dụng tiếng Hoa khi giao tiếp với nhau, dù được sinh ra ở Trung
Quốc hay ở Indonesia (trong đa số trường hợp đây là những di dân thuộc thế hệ thứ nhất hoặc thế hệ
thứ hai). Peranakan và totok đã và đang sống (tức cho đến nay thành những cộng đồng riêng biệt, cả về
mặt lãnh thổ cũng như xã hội: họ không thích giao tiếp với nhau, và lắm khi không có thiện cảm với
nhau). Dù vậy, cả hai giới vẫn tự coi họ là người Hoa và xét về thực chất là một cộng đồng sắc tộc duy
nhất. Trong chuyện này, người Indonesia (và chính quyền Hà Lan trong thời thuộc đòa) cũng coi cả hai
nhóm đều là người Hoa.
II.4. TÌNH HÌNH CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA TRONG NỬA SAU THẾ KỶ XIX.
Trong nửa sau thế kỷ XIX, số di dân người Hoa mới mang đến những nét mới về chất, do chỗ ách
bóc lột thuộc đòa giờ đây hoàn toàn phục vụ nhu cầu của tư bản châu Âu công nghiệp, chứ không phải
thương nghiệp như trước đây. Các thuộc đòa rất cần lực lượng lao động, mà một xã hội phong kiến và
gia trưởng vốn còn ngự trò trên phần lớn lãnh thổ Đông Nam Á không thể cung cấp được. Những kẻ
khai thác thực dân yêu cầu nhập một khối lượng lớn lực lượng lao động từ ngoài vào - từ Ấn, nhưng chủ
yếu từ Trung Quốc, nơi người ta có thể dễ dàng tuyển mộ rất nhiều người nghèo không phương tiện
sinh nhai, sẵn sàng đi làm ở bất kỳ nơi đâu với đồng lương rẻ mạt. Những người tuyển mộ không ai
khác hơn thường là thương nhân người Hoa, vốn đang làm ăn với các nước Đông Nam Á hay đã hoàn
toàn sang đây sinh sống. Không phải là hiếm chuyện chủ giao kèo dựa vào các hội kín bóc lột thẳng
tay và đánh lừa những người tuyển mộ để thu những món lợi kếch sù. Sau khi nhận việc, culi (tên gọi
chính thức của các công nhân Trung Quốc đã ký giao kèo) bò mắc nợ ông chủ không ít.
Năm 1860, sau khi chiến tranh á phiện lần thứ hai chấm dứt, các cường quốc phương Tây đã buộc
nhà Thanh chấp nhận việc tuyển mộ và đưa ra nước ngoài công nhân Trung Quốc. Từ thời điểm đó, con
số người Hoa ở Đông Nam Á tăng nhanh. Số mới đến đa phần là công nhân đã ký giao kèo, hay "tự
do". Nếu năm 1860, ở Indonesia có 211.000 người Hoa sinh sống, thì đến năm 1890, con số này đã lên
đến 537.000. Ở Singapore, năm 1860 người Hoa chiếm 63% dân số, trong lúc 30 năm trước đó tỷ lệnày
chỉ mới là 39%. Ở Miến Điện, số người Hoa năm 1861 là 10.00, 1891 - 43.000 và đến năm 1911 là
124.000.
Trong ba thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX, nhân tố có ảnh hưởng quyết đònh đến tình cảnh của
các nhóm sắc tộc người Hoa ở Đông Nam Á là ách thống trò của thực dân châu Âu. Vào thời điểm đang
nói toàn bộ vùng này đã bò các cường quốc thực dân Âu Mỹ chia xong: Anh hoàn toàn làm chủ Malaya
cảnh của di dân người Hoa sinh sống ở nước này cũng diễn ra những thay đổi nhất đònh. Phát xuất từ
các quan điểm liên quan đến chính sách thuế và xã hội, chính quyền thuộc đòa Pháp đã ban hành chế
độ quản lý gián tiếp cộng đồng người Hoa lúc đó còn đang trong quá trình hình thành. Năm 1891, chế
độ lập hội đoàn được mang ra áp dụng cho tất cả những người châu Á - nước ngoài. Lãnh đạo các hội
đoàn người Hoa được thành lập theo nguyên tắc cùng thổ ngữ và quê quán là những người được bầu ra.
Họ thực ra đóng vai trò là người trung gian trong các quan hệ giữa cộng đồng và chính quyền thuộc đòa.
Người thủ lónh hội đoàn có toàn quyền đối với các thành viên. Không có phép của người thủ lónh, di
dân không thể sống ở Campuchia, đi từ tỉnh này sang tỉnh khác hoặc ra khỏi nước. Chế độ này mang lại
quyền hành rất lớn trong hội đoàn gắn liền với việc tăng thuế thân của người Hoa (năm 1897 ngoài các
loại thuế, thêm các sắc thuế mới: thuế thân bổ sung và chế độ trả bằng tiền nghóa vụ 10 ngày công lao
động). Chính sách này, đặc biệt là trong giai đoạn đầu, đồng thời giúp tăng giới doanh nghiệp người
Hoa. Ngoài ra, năm 1886 người Hoa được quyền sở hữu đất đai - cả ở thành thò lẫn nông thôn. Vào giữa
những năm 20 của thế kỷ XX, chỉ tính riêng ở nông thôn, người Hoa đã sở hữu gần một vạn hecta
ruộng đất. Nhưng số cư dân người Hoa tăng lên chậm chạp. Nếu trước khi thực dân Pháp chiếm
Campuchia năm 1874, trong nước có khoảng 107.000 người Hoa sinh sống, thì đến đầu Chiến tranh Thế
giới thứ Nhất, con số này là 114.000.
Trong số các lãnh thổ của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, Lào là nơi có ít doanh nhân người
Hoa sinh sống. Lý do có nhiều: lãnh thổ bò chia cắt manh mún và khó tới, không có cửa ngõ trực tiếp
dẫn ra biển, các phương tiện vận chuyển không phát triển và quan trọng hơn cả là thò trường nội đòa hạn
hẹp.
Vào đầu những năm 1920, ở Lào chỉ vỏn vẹn gần 7.000 người Hoa. Sinh hoạt kinh tế chính của họ
là buôn bán lẻ. Ngoài ra, họ cũng làm nghề xay xát gạo (2).
Tuy không phải là một thuộc đòa, nhưng những hiệp ước bất bình đẳng mà các nước phương Tây
buộc Xiêm ký đã thực sự biến nền kinh tế của nước này thành vật phụ thuộc về nông nghiệp cho các
nước tư bản phát triển. Sự xâm nhập của tư bản nước ngoài vào Xiêm đã tác động mạnh đến cộng đồng
người Hoa. Số tư bản phương Tây đổ vào và cả sự tăng trưởng của tư bản Thái vào những năm 70 của
thế kỷ XIX đã hạn chế ở mức độ đáng kể khả năng của tư bản Hoa trong lónh vực sản xuất, nhưng
không cản trở quá trình tăng cường vò thế của tư bản Hoa trong các lónh vực tài chính (cho vay, trưng
thuế) và thương mại (xuất khẩu). Đồng thời, quá trình hoà nhập giữa tầng lớp trên của cộng đồng người
Hoa và quý tộc đòa phương cũng được đẩy nhanh. Chẳng hạn, người đứng đầu hội tộc Chin nổi tiếng
châu Âu thường chọn những nhà buôn người Hoa giàu có và quen thuộc với phong cách buôn bán của
phương Tây để giao cho các hoạt động mại bản. Khoảng 5 hay 6 nhà buôn như vậy kết hợp thành
những hội buôn nắm giữ các đường vận chuyển trên sông và sở hữu nhiều kho bãi và cửa hàng. Nhờ
những tổ chức này, thương nhân người Hoa đã thiết lập được một mạng lưới chi nhánh, và đồng thời
cũng là phân phối, thống nhất. Tổ chức này kiểm soát những người bán hàng rong, chủ các thuyền
buôn, những cửa hiệu nhỏ và vừa. Mỗi mắt xích này đều được đảm bảo lợi nhuận và các cơ hội đầu tư
và luân chuyển vốn nhanh. Để tài trợ cho hoạt động buôn gạo, nhiều ngân hàng người Hoa đã được
thành lập. Họ có cả phòng thương mại, nơi tập trung và điều hành toàn bộ hệ thống mậu dòch.
Vào cuối thế kỷ XIX, cùng với sự xuất hiện của các xí nghiệp công nghiệp lớn do tư bản phương
Tây xây dựng, số xí nghiệp thuộc quyền sở hữu của người Hoa tăng lên. Năm 1890, những người thu
mua lúa và mại bản Hoa kiều có trong tay 20 trong tổng số 25 nhà máy lúa ở Bangkok được trang bò
máy móc hiện đại nhất. Năm 1908, người Hoa có 4 trong tổng số 11 nhà máy xẻ gỗ.
Người Hoa cũng chiếm đa số áp đảo trong giai cấp công nhân đang trong quá trình hình thành ở
Xiêm. Có đến gần 10.000 công nhân Hoa kiều làm việc trong các nhà máy xay xát gạo và xẻ gỗ ở
Bangkok vào đầu thế kỷ XX (4). Công nhân người Hoa cũng có mặt trong các công việc vận chuyển và
đóng gạo vào bao; vài ngàn người làm việc trên các công trường xây dựng, ở bến bãi; phu khuân vác
trên các công trường xây dựng đường sắt (5). Có tới 4 vạn công nhân người Hoa có mặt tại các mỏ thiếc
trên đảo Phuket.
Vào đầu thế kỷ XX, khi nền nông nghiệp các vùng đông dân quanh Bangkok có xu hướng chuyển
sang sản xuất hàng hóa, các trang trại do người Hoa làm chủ đã trồng nhiều rau quả và phát triển
1
2
3
4
5
Skinner G.W. Chinese Society in Thailand. An Analitical History. N.Y., 1962, p.137.
Skinner G.W., Sđd, p.59.
Skinner G.W., Sđd, p.115.
18
Chương III
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI - KINH TẾ
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA TRONG BỐI CẢNH
KHỦNG HOẢNG CỦA CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA
III.1. SINH HOẠT KINH TẾ CỦA NGƯỜI HOA Ở ĐÔNG DƯƠNG.
Sau Chiến tranh thế giới thứ Nhất và Cách mạng xã hội chủ nghóa tháng Mười Nga, chế độ thuộc
đòa ở các nước Đông Nam Á bò rơi vào khủng hoảng, giống như toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghóa trên
thế giới. Tình hình này đã làm xuất hiện một loạt các hiện tượng mới đáng kể trong cuộc sống của các
nhóm sắc tộc người Hoa trong vùng. Chúng đụng chạm đến mọi mặt trong sinh hoạt của cộng đồng
người Hoa. Trước hết, chúng tôi xin đề cập đến khía cạnh xã hội - kinh tế của tiến trình.
Vào những năm 20 - 30 của thế kỷ XX, tư bản người Hoa ở các nước Đông Nam Á đã bò tư bản độc
quyền Âu Mỹ, dựa vào các phương thức hiện đại khai thác lao động và tài nguyên tự nhiên cùng kỹ
thuật tân kỳ, đẩy lùi dần xuống vò trí thứ yếu. Nếu năm 1913, phần của người Hoa trong ngành khai
thác mỏ thiếc ở Malaya là 68% sản lượng, thì năm 1925 còn 56% và đến năm 1929 chỉ còn lại 39%.
Bức tranh tương tự cũng được nhìn thấy ở Xiêm: trong những năm 1916 - 1917, các mỏ thiếc của người
Hoa cung cấp hơn 67% sản lượng thiếc khai thác được, nhưng trong những năm 1936 - 1939 còn không
đầy 38%. Còn tư bản Mỹ ở Philippines đã đánh bật người Hoa khỏi công nghiệp khai khoáng và khái
thác gỗ, cũng như nhiều ngành công nghiệp khác trước Chiến tranh thế giới thứ Hai. Ở Indonesia, trong
khoảng thời gian này tổng số đầu tư của tư bản Hà Lan được xác đònh là 1.040 triệu đô la, còn của
người Hoa chỉ 150 triệu (1).
Tuy nhiên, ở những nước chúng ta vừa xem xét tư bản người Hoa vẫn nắm chắc, giống như trước
đây, hầu như toàn bộ hoạt động thương mại, dòch vụ, và phần nào đó công nghiệp khai khoáng và chế
(cả thợ không chuyên môn và chuyên môn) đều được tuyển mộ theo những hợp đồng tự nguyện. Nhưng
chính quyền thực dân đã đưa ra những đònh suất để hạn chế bớt số di dân người Hoa.
III.2. SINH HOẠT KINH TẾ CỦA NGƯỜI HOA Ở PHILIPPINES.
Ở Philippines, năm 1939 theo số liệu thống kê chính thức (chỉ tính đến số người nước ngoài) có
117.500 người Hoa sinh sống. Đa phần họ thuộc "giai cấp trung bình". Vốn của người Hoa là 180 triệu
peso (không tính ngành công nghiệp), trong đó có 150 triệu đầu tư vào thương mại, còn 26 triệu dành
cho công nghiệp chế biến. Để so sánh, có thể nêu ra số vốn của tư bản Mỹ trong những năm này là 315
triệu peso. Giới thương nhân người Hoa ở Philippines đa số là người buôn bán nhỏ và rất nhỏ. Khắp các
làng trên quần đảo đều có những cửa hiệu nhỏ, mà dân đòa phương gọi là "sari-sari" ("chạp phô"). Ở
đây, người ta có thể mua đủ thứ mặt hàng thiết yếu hàng ngày với giá không mắc. Chủ nhân các "sarisari" này thường chật vật xoay sở hàng ngày, nhưng dẫu sao cũng kiếm được chút đỉnh và không bỏ qua
dòp có thể cho vay lấy lãi. 80% cửa hàng "sari-sari" là của người Hoa, còn tư bản người Hoa kiểm soát
gần nửa hoạt động buôn bán lẻ ở Philippines. Năm 1936, chính phủ tự trò Philippines ban hành đạo luật
về cửa hàng tạp phẩm buộc thương nhân người Hoa phải ghi chép sổ xuất nhập bằng tiếng đòa phương,
chứ không bằng tiếng mẹ đẻ; biện pháp này tất nhiên gây khó khăn nhiều nhất cho các cửa hàng nhỏ.
III.3.SINH HOẠT KINH TẾ CỦA NGƯỜI HOA Ở INDONESIA.
Ở Indonesia vào đầu những năm 30 có 1,223 triệu người Hoa (so với 0,537 triệu năm 1900). Trong
bất kỳ tầng lớp xã hội nào cũng có mặt họ: tư bản lớn, chủ ngân hàng, thương nhân, thợ công nhật nông
nghiệp và công nhân làm thuê. Tính chung trong cả nước (số liệu năm 1920) gần 40% người Hoa thuộc
về loại peranakan, số còn lại là totok. Nhưng trên đảo Java, peranakan chiếm đến 70% số người Hoa,
còn ở các phần lãnh thổ khác - chỉ 10%.
Năm 1939, vốn đầu tư của tư sản người Hoa đòa phương là 848 tr. guilde, trong số đó 350 tr. cho
thương mại và hoạt động ngân hàng; 100 tr. vào công nghiệp chế biến và 29 tr. cho kinh tế đồn điền.
Cũng vào khoảng thời gian này, vốn của tư bản Hà Lan và những doanh nghiệp tư nhân khác lần lượt là
3.860 tr. và 2.110 tr. guilde, còn của tư bản Indonesia chỉ vỏn vẹn có 42 tr., tức 11 lần ít hơn so với
người Hoa, dù dân số của họ không vượt quá 3% toàn bộ dân số Indonesia.
Trong tổng số dân tự lập người Hoa là 183.000 người trên đảo Java và 287.000 trên các đảo khác,
tỷ lệ hành nghề mua bán lần lượt là 58% và 23%. Thương mại, chủ yếu là buôn bán lẻ, là lónh vực hoạt
động quan trọng nhất của tư bản Hoa: họ chiếm hàng đầu nơi đây. Cho vay lãi vẫn là lónh vực đầu tư
nhân chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong cộng đồng người Hoa ở Miến Điện.
III. 5. SINH HOẠT KINH TẾ CỦA NGƯỜI HOA Ở MALAYA.
Số di dân người Hoa sang Malaya tiếp tục tăng lên trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến
tranh. Từ năm 1921 đến 1941, cư dân người Hoa ở thuộc đòa này tăng từ 1,174 tr. lên 2,379 tr. người,
chiếm 43% dân số, dù trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế nhiều người Hoa đã rời khỏi Malaya. Không ít
người Hoa làm culi trong các mỏ và đồn điền. Số khác sống ở thành thò. Nhiều người làm nghề buôn
bán. Số đông tư sản trung và tiểu ở Malaya là người Hoa, cũng giống như tầng lớp trí thức. Trong cộng
đồng người Hoa có cả đại tư sản.
Đáng nói là trong cộng đồng người Hoa ở Malaya có một bộ phận mang nét đặc thù xã hội - văn
hóa riêng biệt, đó là giới baba - tức người Hoa sống ở Straits Settlements được coi là công dân Anh.
III. 6. SINH HOẠT KINH TẾ CỦA NGƯỜI HOA Ở XIÊM.
Ở Xiêm trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, tư sản người Hoa đòa phương, vốn giàu lên nhờ các hoạt
động thương mại - cho vay và trưng thuế, đã chiếm vò trí áp đảo trong một số ngành công nghiệp: tư sản
Hoa sở hữu đến 90% nhà máy chà gạo, gần 50% số gỗ tek được xẻ ở các nhà máy có chủ là người Hoa
(1).
Dù trong ngành khai thác thiếc tư bản châu Âu đến cuối những năm 1920 đã đánh bật người Hoa,
nhưng các nhà máy của người Hoa vẫn sản xuất được một khối lượng thiếc lớn gấp hai số được sản
xuất ở các nhà máy tư bản phương Tây (chủ yếu là tư bản Anh). Tư bản Hoa tích cực dự phần vào việc
xây dựng nhiều đồn điền cao su ở miền Nam Xiêm trong những năm 1920 (đến năm 1929 tư bản Hoa
sở hữu đến 60.000 hecta cao su). Trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, tư bản của người Hoa đòa phương
được đầu tư vào hàng trăm công ty và xí nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng ở Bangkok (2). Tư bản
Hoa chiếm ưu thế trong hoạt động vận chuyển bằng sà lan từ cửa sông Menam, nơi các tàu biển cập
bến, đến cảng Bangkok.
Ở Xiêm, cũng như ở những nước Đông Nam Á khác, đã có một số culi Trung Quốc sau khi mãn
hợp đồng đã cố tìm cách xoay qua buôn bán với hy vọng sẽ trở thành những ông chủ nhỏ.
*
*
22
Chương IV
QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI HOA Ở CÁC NƯỚC
ĐÔNG NAM Á TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, tình hình pháp lý của người Hoa ở các nước Đông Nam Á vẫn khá
phức tạp. Theo các đạo luật được chính quyền thực dân hay chính quyền sở tại ban hành, những người
Hoa sinh ra trên lãnh thổ các nước Đông Nam Á đều được coi là công dân các nước này, nhưng không
phải lúc nào họ cũng được đối xử bình đẳng như cư dân đòa phương, hay như những người Âu ngụ cư tại
thuộc đòa. Các di dân người Hoa sinh ra tại Trung Quốc thường bò liệt vào nhóm có tên gọi " người nước
ngoài - châu Á" hay "người nước ngoài phương Đông". Nhóm này không có quyền ngang bằng với
những người Âu sinh sống tại Đông Nam Á, hoặc thậm chí cả với một số người châu Á khác, chẳng
hạn với người Nhật.
Một đạo luật được Trung Quốc thông qua năm 1909 đã làm tình trạng pháp lý của người Hoa ở
Đông Nam Á phức tạp hơn nhiều. Theo đạo luật này, mà nền tảng là nguyên tắc huyết thống, con cái
có cha mẹ là người Hoa đều được coi là có quốc tòch Trung Quốc, bất kể nơi chúng được sinh ra và
đang cư ngụ. Nguyên tắc này được khẳng đònh một lần nữa trong đạo luật về quyền công dân được
Trung Quốc thông qua năm 1929. Đạo luật đặc biệt nêu rõ rằng chỉ những người Hoa nào được phép
của Bộ trưởng Nội vụ Trung Quốc mới có thể trở thành công dân nước khác. Đạo luật này như vậy đã
tương khắc với luật pháp của một số nước Đông Nam Á. Trong nhiều trường hợp, cơ sở cho tình trạng
pháp lý của người Hoa là nguyên tắc lãnh thổ, nghóa là những người nào sinh ra trên lãnh thổ nước sở
tại sẽ là công dân của nước đó, bất kể quốc tòch của cha mẹ.
Không thể không lưu ý rằng tình trạng pháp lý của người Hoa ở Đông Nam Á thay đổi không ít lần
và khác nhau một cách đáng kể theo từng nước.
IV.1. TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI HOA Ở INDONESIA.
được dành cho các công dân Hà Lan (1).
IV. 3. TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI HOA Ở XIÊM.
Theo một đạo luật về quốc tòch được ban hành ở Xiêm năm 1913, tất cả những người sinh ra trên
lãnh thổ Xiêm đều được coi là công dân Xiêm, bất kể quốc tòch của cha mẹ họ. Những mưu toan của
Trung Quốc đặt những người Hoa sinh sống ở Xiêm dưới quyền tài phán của mình trên cơ sở đạo luật
năm 1909 không mang lại kết quả. Người Hoa phải đóng cho chính quyền Xiêm một sắc thuế đặc biệt,
còn con cháu của họ do không có lãnh sự Trung Quốc nên đã không thể đăng ký như là công dân Trung
Quốc, mà được đăng ký như người Xiêm (2). Còn những người Hoa nào không muốn làm công dân
Xiêm có thể xin trở thành công dân các nước khác. Năm 1936, trong số 55.000 "người châu Á" - công
dân Anh tuyệt đại bộ phận là người Hoa (3).
Người Hoa ở Xiêm, kể cả những người sinh ra ở Trung Quốc, đều không có quyền tham gia bầu
cử và làm việc trong bộ máy công quyền, nhưng được hưởng những quyền tự do rộng rãi khác. Họ được
sinh sống ở nơi họ thích, được tự do đi lại trong nước, có thể hưởng mọi loại hình sở hữu. Nhìn chung, vò
thế của người Hoa ở Xiêm, thực sự cho họ cùng những cơ hội làm việc và kinh doanh, giống như dân
bản xứ (4).
IV. 4. TÌNH TRẠNG PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI HOA Ở ĐÔNG DƯƠNG VÀ MIẾN ĐIỆN.
Ở các nước Đông Dương thuộc Pháp, người Hoa đòa phương, ngoại trừ những người đã được nhập
tòch Pháp, được liệt vào loại "người nước ngoài phương Đông". Nằm dưới sự "bảo trợ" của Pháp, họ vẫn
bò xem hoặc là công dân các nước Đông Dương đang sống dưới chế độ bảo hộ của Pháp, hoặc là công
dân Trung Quốc (5).
Nhằm mục đích hạn chế số di dân người Hoa vào các nước Đông Dương, chính quyền thuộc đòa
Pháp đã lập một sắc thuế thân khá cao đối với người Hoa đòa phương. Trong việc thu thuế, chính quyền
được sự hỗ trợ của các hội đoàn Hoa kiều ; những người cầm đầu hội đoàn đã dùng sự hỗ trợ này làm
phương tiện củng cố ảnh hưởng của họ đối với đồng bào mình(6).
Ở Campuchia, theo đạo luật năm 1924 chỉ những công dân Pháp mới được phép sở hữu bất động
sản trong thành phố. Còn đạo luật năm 1929 cấm người Hoa có quyền sở hữu ở làng mạc. Nhưng bất
chấp những hạn chế tương tự, người Hoa ở các nước Đông Dương vẫn có nhiều cơ hội đáng kể để tham
gia hoạt động kinh doanh. Họ có thể đi lại tương đối tự do trên toàn cõi Đông Dương, buôn bán, thực