B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
HNG TH HI MINH
Lịch sử - văn hóa dòng họ Lê Nho
ở xã Hoài Thợng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
(từ thế kỉ XV đến những năm đầu thế kỉ XXI)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60.22.03.13
LUN VN THC S KHOA HC LCH S
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. NGND Nguyn Cnh Minh
H NI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn:
Các thầy cô tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam cùng các thầy, cô khoa Lịch sử
Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu.
Đặc biệt xin cảm ơn PGS. TS. NGND Nguyễn Cảnh Minh (khoa Lịch
sử, Trường Đại học sư phạm Hà Nội) đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong
quá trình hoàn thành Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn ông Lê Nho Đằng - Trưởng ban Hội đồng gia tộc
trị sự họ Lê Nho đã cung cấp những tư liệu giúp tôi hoàn thành luận văn.
Chân thành cảm ơn: thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội, thư viện
Quốc gia, thư viện Viện sử học, thư viện tỉnh Bắc Ninh, Uỷ ban nhân dân xã
Hoài Thượng đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình học tập, nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, con cháu
dòng họ Lê Nho, đã động viên tôi hoàn thành khóa học này.
Hà Nội, tháng 7 năm 2013
Tác giả Luận văn
Hàng Thị Hải Minh
Mỗi một địa phương bao gồm nhiều dòng họ cùng chung sống với nhau.
Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng ta cần phải làm rõ những đóng
góp riêng của mỗi dòng họ ở địa phương ấy. Vì vậy, nghiên cứu về dòng họ thì
chúng ta không chỉ nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của dòng họ mà
đặc biệt phải tìm hiểu những đóng góp của dòng họ đó đối với lịch sử dân tộc.
Một dòng họ thường tập trung sinh sống ở một địa phương hoặc một số
địa phương nhất định. Do đó, việc nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của một dòng
họ trên một địa phương cụ thể không chỉ góp phần làm phong phú hơn bộ sử
địa phương mà còn góp phần thiết thực vào việc nâng cao nhận thức về lịch sử
dân tộc, vì lịch sử địa phương là một bộ phận của lịch sử dân tộc. Ngoài ra,
chúng ta có nhận thức đúng đắn hơn về mối quan hệ giữa các dòng họ, đặc biệt
là quan hệ tác động qua lại giữa gia đình, dòng họ với các danh nhân. Trên cơ
sở đó rút ra những bài học, phát huy những mặt tích cực của dòng họ, xóa bỏ
những mặt hạn chế, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Ngoài ra, lí do nữa khiến em lựa chọn đề tài này bởi Bắc Ninh là một
vùng đất cổ xưa, có bề dày văn hóa với những “tính cách riêng”. Việc nghiên
cứu về lịch sử - văn hóa truyền thống dòng họ Lê Nho sẽ cho chúng ta thấy rõ
điều này.
Với những lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề nghiên cứu: “Lịch
sử - văn hóa dòng họ Lê Nho ở xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến những năm đầu thế kỉ XXI”, làm đề tài luận văn
thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu lịch sử - văn hóa một dòng họ và những gương mặt tiêu biểu
của dòng họ là việc làm có ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn cao. Tuy nhiên,
chưa có nhiều công trình khoa học, những bài viết bàn về vấn đề này.
Trong những năm 90 của thế kỉ XX, có một số công trình tiêu biểu viết
2
về dòng họ như:
Năm 1996, hiệp hội câu lạc bộ Unessco Việt Nam - Câu lạc bộ thông tin
giữ chức Hiến phó sứ Sơn Nam trấn. Sau khi nghỉ hưu cụ làm nghề dạy học,
học trò có nhiều người thành đạt, cùng thời có tới 43 vị đỗ đại khoa.
Cụ Lê Chu Kiều (Lê Nho Kiều) đỗ đầu cử nhân, làm tri huyện Thanh Ba
tỉnh Phú Thọ, là một viên quan liêm khiết, có 5 người con trai đều đỗ cử nhân.
- Về y học: Có một số cụ làm nghề thầy thuốc, cứu lấy sinh mạng nhiều
người như cụ Lê Nho Liêu, Lê Nho Giác.
- Về quân sự: Đây là dòng họ có nhiều anh hùng liệt sĩ đã hi sinh trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ như Lê Nho Bổng, Lê Nho
Hưởng…
- Tác giả Thế Anh, năm 1998 đã có bài viết trên tạp chí Thế giới mới số
92 với nhan đề: Cụ Hiến Hồ - người thầy mẫu mực. Nội dung chủ yếu của bài
báo nói về tiểu sử, ca ngợi tài năng của cụ Hiến Hồ (Lê Nho Thạc).
Trong cuốn “Lịch sử họ Lê Bắc Ninh” của Nguyễn Sinh, Nxb Văn học,
Hà Nội, 2010 đề cập đến những nội dung sau:
- Truyền thống hiếu học và khoa cử của họ Lê Nho thời phong kiến với
những gương mặt tiêu biểu như cụ Tất Văn, cụ Phan Lân, cụ Khâm Bật, cụ Lê
Chu Kiều, Lê Nho Thạc. Ngày nay, dòng họ Lê Nho có nhiều người làm nghề
dạy học, là giáo viên dạy giỏi (Lê Nho Ánh, Lê Nho Tỳ) và đặt biệt là nhà giáo
ưu tú Lê Nho Nùng.
- Khái quát những đóng góp của họ Lê Nho trên các lĩnh vực: giáo dục,
kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự.
Năm 2011, trên báo Bắc Ninh số 11089, nhà báo Vĩnh Tân với bài báo
“Nhớ về những bến bờ xưa”, tập trung viết về tài năng và đức độ của Nhà giáo
4
ưu tú Lê Nho Nùng nguyên Giám đốc Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh,
nhấn mạnh vai trò của ông trong việc thúc đẩy sự nghiệp giáo dục tại tỉnh Bắc
Ninh trong những năm tháng cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên của ngành
giáo dục tỉnh gặp nhiều khó khăn. Đồng thời ca ngợi sự hi sinh, tận tụy của ông
đối với nghề, với học trò có hoàn cảnh khó khăn.
Năm 2012, trên báo Bắc Ninh số 13065, nhà báo Huy Chương cho đăng
XV đến những năm đầu thế kỉ XXI ở xã Hoài Thượng, huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
3.3. Nhiệm vụ khoa học của đề tài
Với đề tài “Lịch sử - văn hóa dòng họ Lê Nho ở xã Hoài Thượng,
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến những năm đầu thế kỉ
XXI” người nghiên cứu nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu về cội nguồn và quá trình phát triển của dòng họ Lê Nho từ
thế kỷ XV đến những năm đầu thế kỉ XXI.
- Luận văn đi sâu tìm hiểu truyền thống văn hóa dòng họ Lê Nho ở xã
Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh qua những di sản văn hóa
của dòng họ.
- Luận văn trình bày những đóng góp của dòng họ Lê Nho trong lịch sử
dân tộc trong các thời kỳ: phong kiến, cận đại, hiện đại trên các lĩnh vực chính
trị, quân sự, kinh tế, xã hội, giáo dục…
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu gồm:
4.1.1. Nguồn tư liệu thành văn
- Gia phả dòng họ Lê Nho ở thôn Đại Mão, xã Hoài Thượng, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và gia phả của các chi nhánh của dòng họ Lê Nho
ở các địa phương khác.
6
- Văn bia, câu đối, sắc phong dòng họ Lê Nho.
- Các sách, các tạp chí, các tài liệu về lịch sử văn hóa.
- Các sách, các tạp chí, các tài liệu có liên quan đến lịch sử văn hóa dòng
họ Lê Nho.
4.1.2. Nguồn tư liệu vật chất
- Nhà thờ dòng họ Lê Nho.
- Lăng mộ cụ thủy tổ.
4.1.3. Nguồn tư liệu truyền miệng
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Đối với những người làm công tác giảng dạy lịch sử, luận văn có ý
nghĩa thực tiễn là cung cấp tài liệu bổ ích cho việc tìm hiểu, giảng dạy lịch sử,
truyền thống văn hóa địa phương. Từ đó giáo dục lòng tự hào truyền thống của
dòng họ, trân trọng giữ gìn những di tích lịch sử - văn hóa mà cha ông để lại,
quyết tâm xây dựng quê hương đất nước mình giàu đẹp hơn.
Thông qua việc nghiên cứu lịch sử - văn hóa dòng Lê Nho, tác giả làm
rõ giá trị lịch sử về gia phả của dòng họ Lê Nho như một di sản văn hóa địa
phương. Đồng thời, tác giả hi vọng góp phần tăng cường nhận thức khách
quan của nhân dân, các cấp lãnh đạo huyện Thuận Thành về giá trị lịch sử của
gia phả các dòng họ. Ngoài ra, luận văn còn làm sống lại văn hóa các gia tộc
trong di sản văn hóa Việt, góp phần thực hiện chiến lược con người trong thế
kỷ XXI, làm nền tảng cơ sở để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc .
8
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Lê Nho ở xã
Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh từ thế kỉ XV đến những năm
đầu thế kỉ XXI.
Chương 2: Văn hóa dòng họ Lê Nho ở xã Hoài Thượng, huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Những đóng góp của dòng họ Lê Nho đối với lịch sử địa
phương và lịch sử dân tộc.
9
Bản đồ huyện Thuận Thành [3,21]
10
CHƯƠNG 1
NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ LÊ NHO Ở
tên là xã Hoài Đức. Các xã, thôn: Đại Mão, Đông Miếu, Dực Vi, Thượng Trì,
Ngọ Xá được sáp nhập thành một xã lấy tên là xã Thượng Mão.
Năm 1965, hai xã Hoài Đức và Thượng Mão hợp nhất thành xã Hoài
Thượng.
Hiện nay, xã Hoài Thượng gồm có 9 thôn: Đại Mão (làng Giữa), Lam Cầu
(làng Lam), Bình Cầu (làng Lam), Nghĩa Vi, Dực Vi (làng Rộng), Đông Miếu,
Ngọ Xá (làng Ngọ), Thượng Trì Làng (Đìa làng), Thượng Trì Ấp (Đìa Ấp).
Về điều kiện tự nhiên:
Xã có diện tích đất tự nhiên là 552,12 ha, dân số là 9.178 người, mật độ
dân cư 1.712,2 người/km
2
(số liệu tháng 9 năm 2005).
Xã Hoài Thượng nằm dọc theo bờ nam sông Đuống, thuộc đồng bằng
Bắc Bộ. Xã có 9 thôn nằm trải dài ven đê sông Đuống.
Về địa hình tương đối bằng phẳng, hệ thống giao thông, thuỷ lợi thuận
tiện, có đường đê, đường thuỷ sông Đuống chạy dọc theo chiều dài của xã
nên thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Hầu
hết diện tích đất trong xã đều có độ dốc nhỏ hơn 30 xuôi từ Tây Bắc xuống
Đông Nam. Kết cấu địa chất chủ yếu là đất phù sa cổ tạo điều kiện cho sản
xuất nhiều loại cây trồng.
Khí hậu nhiệt độ trung bình cả năm là 23,3
o
C, nhiệt độ trung bình tháng
cao nhất là 29
o
C tập trung vào tháng 7 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình tháng
thấp nhất là 15,8
o
C tập trung vào tháng 1; lượng mưa trung bình 1.400 đến
12
Nghề làm con tò he ở Đông Miếu.
Nghề làm nón hồ ở Ngọ Xá.
Với vị trí thuận lợi: nằm sát sông Đuống, thuyền bè đi lại thuận tiện, có
bến đò ngang nên thương nghiệp ở đây phát triển sớm. Chợ Giữa được ra đời,
họp ở khu vực đình chợ. Đình chợ có 5 gian tiền tế, dùng làm nơi bán vải sợi,
2 gian giải vũ, sân đình, đầu đình là chỗ mua bán các mặt hàng sinh hoạt, vật
dụng hàng ngày.
1.1.3. Đặc điểm con người xã Hoài Thượng
Cư dân sống trên đất Hoài Thượng đều là người Kinh, sống tập trung
thành những làng lớn nằm kề nhau. Họ sống bằng nhiều nghề nhưng chủ yếu
làm nông nghiệp nên bản tính rất chất phác, cần kiệm.
Hoài Thượng là vùng đất cổ, vốn gần với trung tâm Phật giáo ở Luy
Lâu, gần kinh đô Cổ Loa của An Dương Vương, Ngô Quyền khi xưa, lại sát
gần với Thăng Long, Hà Nội sau này, nên Hoài Thượng đã trải qua nhiều phen
biến đổi, thăng trầm cùng lịch sử - văn hóa dân tộc. Có thể nói nơi đây, hơn bất
cứ nơi nào trên đất Việt, trong suốt hai nghìn năm đã diễn ra sôi nổi quá trình
giải thể và đan xen, giao lưu, tiếp xúc và biến đổi văn hóa Việt cổ - Hoa cổ -
Ấn cổ và nhiều yếu tố văn hóa ngoại lai khác.
Như vậy, từ cốt lõi văn hóa Đông Sơn Việt cổ, hội nhập thêm văn hóa
Phật giáo của Ấn Độ, Nho giáo của Trung Hoa và sau này là văn hóa phương
Tây con người Hoài Thượng, Bắc Ninh đã được rèn dũa, hình thành nên nét
tính cách riêng của mình: rất “phong nhã và thượng võ”.
Con người Hoài Thượng rất chuộng văn học và có truyền thống khoa
bảng. Theo sách Đại Việt triều đăng khoa thực lục, các cuốn gia phả của dòng
14
họ và văn bia văn chỉ thời cổ, Hoài Thượng có các tiến sĩ sau: Nguyễn Đình
Khuê, Trịnh Đức Vận, Lê Doãn Giản, Lê Doãn Thân. Đặc biệt, cụ Đỗ Trọng
Vỹ đỗ cử nhân, được tôn vinh là Danh nhân, ngôi sao sáng của văn hiến Kinh
Bắc. Ông là nhà giáo có nhiều học trò thành đạt, đặc biệt là ông có công tôn
tạo Văn Miếu - Bắc Ninh, nơi có 12 tấm bia đá ghi danh gần 700 người đỗ
người có tinh thần yêu nước đã đầu quân ứng nghĩa. Trong số những người đi
theo cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Cao có các cụ: Lê Doãn Vãn, Lê Doãn Vát,
Nguyễn Đình Dương (Đại Mão), Tống Tuy (Đông Miếu) [3,47].
Năm 1885, cuộc khởi nghĩa của Đề Vang nổ ra, lan rộng ra nhiều làng
của vùng Siêu Loại. Nhiều trai tráng của làng thuộc tổng Thượng Mão đã
tham gia phong trào. Vào một ngày cuối năm 1893, nghĩa quân tập trung ở
Thượng Trì chuẩn bị chống giặc. Khi thấy thế giặc mạnh đã rút về Lam Cầu
để tác chiến. Tại đây, nghĩa quân tổ chức đánh một trận quyết chiến với giặc
Pháp, giết chết một tên quan người Pháp, chặt đầu treo lên cửa võng đình
Bình Cầu. Ngày 6 - 2 - 1894, giặc Pháp kéo quân đến triệt hạ 3 làng Đại Mão,
Bình Cầu, Lam Cầu. Riêng làng Lam Cầu còn có 8 đôi vợ chồng [3,46].
Năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, nhân dân Hoài
Thượng có nhiều người hưởng ứng. Tiêu biểu là cụ Nguyễn Đình Dương, cụ
Tán Thái Lạc (Đại Mão).
Năm 1907, khi phong trào yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục do cụ
Nguyễn Quyền và các đồng chí của mình khởi xướng, nhiều nhà nho của đất
Hoài Thượng tích cực tham gia. Đó là các cụ Nguyễn Ngọc Ninh, Nguyễn
Ngọc Lợi, Trần Đăng Lâm (ở Ngọ Xá) [3,47].
Năm 1930, phong trào yêu nước của những đảng viên Quốc dân Đảng
do Nguyễn Thái Học lãnh đạo phát triển về đất Hoài Thượng, một số trai
16
tráng đã tham gia phong trào, đó là các cụ: Lê Doãn Bàng, Lê Doãn Ý, Lê
Doãn Kỹ.
Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
nhân dân Hoài Đức, Thượng Mão đã tích cực chuẩn bị lực lượng để kháng
chiến lâu dài. Nhân dân hai xã đã thành lập ban phá hoại từ xã đến các thôn và
phát động toàn dân tiêu thổ kháng chiến, đốt sạch một số cơ sở như đình Đại
Mão, đình Thượng Trì không để cho quân địch chiếm đóng. Ở địa phương dấy
lên phong trào “tình nguyện tòng quân giết giặc cứu nước, hàng chục thanh
niên đã viết đơn xung phong tham gia cứu quốc quân như: Trần Đăng Duyên,
Qua cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, toàn xã có 1479 người tham
gia lên đường nhập ngũ, 146 liệt sĩ, 53 thương bệnh binh, 601 gia đình được
cấp bằng danh dự có công với nước, 815 người được tặng thưởng Huân huy
chương cứu nước, 7 Huân chương Lao động kháng chiến các hạng, 523 Huân
chương chiến công giải phóng, 7 mẹ Việt Nam Anh hùng [3,98].
Truyền thống văn hóa
Xã Hoài Thượng được hình thành từ rất sớm, nhân dân sống tập trung
thành từng làng, xung quanh làng là những lũy tre bao bọc. Mỗi làng đều có
bến nước, cây đa, mái đình có nhiều loại hình nghệ thuật phong phú và sôi
động với nhiều thể loại như tuồng cổ, chèo, ca trù, hát nhà tơ Song tiêu biểu
hơn cả vẫn là hình thức sinh hoạt văn hóa quan họ. Quan họ là đặc trưng riêng
biệt, tạo nên bản sắc văn hóa Bắc Ninh. Trong các lễ hội, một hình ảnh đã trở
thành biểu trưng của văn hóa quan họ đó là các liền anh, liền chị mặc áo mớ
ba mớ bảy, đội nón quai thao, tóc vấn đuôi gà, cạnh các liền anh áo the khăn
xếp, tay cầm ô đen, đứng duyên dáng và hát đối đáp với nhau.
18
Hoài Thượng có tục lên Lão đối với các cụ 50 tuổi. Tục nhập Hương
ẩm vào ngày 10 - 2 và ngày 10 - 8, hàng năm ở Đại Mão thường vào sổ nhập
hương ẩm cho trẻ là con trai vào các kỳ mồng mười tháng Hai, mồng mười
tháng Tám là ngày xuân tịch và thu tịch cũng như ngày cúng xôi mới của làng
vào khoảng tháng Mười âm lịch hàng năm. Khi một đứa trẻ ra đời, vào những
ngày trên bố mẹ sắm cơi trầu, chai rượu ra đình làng làm xin lễ “nhập hương
ẩm” còn gọi là vào làng.
Một nét đẹp nữa trong đời sống tâm linh của người dân Hoài Thượng là
tổ chức Xuân tế hàng năm. Xuân tế tổ của các dòng họ trong thôn thường
cúng từ ngày 6/1 đến ngày 14/1.
Hoài Thượng là vùng đất có nhiều lễ hội. Làng Thượng Trì vào đám
ngày 12 đến ngày 22 tháng 2 kỉ niệm ngày sinh của Thành Hoàng, có ca
xướng. Làng Lam Cầu vào hội ngày 12 - 2 và ngày 12 - 8, đó là ngày sinh của
vị Thành Hoàng. Làng Ngọ Xá mở hội vào ngày 12 - 2 và ngày 13 - 8. Hội
là một chức quan nhỏ triều Lê hoặc dạy học tại thôn Đại Mão, thấy địa thế Đại
Mão đẹp bèn sinh cơ lập nghiệp tại đây vào thời vua Lê Uy Mục (1505 - 1509)
đến nay vào khoảng 500 năm.
Hiện nay, họ Lê Doãn có 4 chi:
Chi 1, chi 2, chi 3 ở Đại Mão đều là con cháu của cụ Lê Doãn Nghi
(đời thứ 8).
Chi 4 ở Nhã Lộng - Phú Bình - Thái Nguyên là con cháu của cụ Lê Doãn
Nghiêu tự là Pháp năng (đời thứ 8).
Tính đến thời điểm 2013, dòng họ Lê Doãn ở Đại Mão, Hoài Thượng,
Thuận Thành, Bắc Ninh đã trải qua 19 đời. Đây là một dòng họ có truyền thống
hiếu học và khoa cử. Theo bia phả, tổ tiên họ Lê Doãn chủ yếu làm quan cho
20
nhà Lê từ thời Lê Trung Hưng cho đến thời Lê Mạt (Lê Chiêu Thống) trong
khoảng thời gian 257 năm (1532-1789) các cụ nối tiếp nhau khoa bảng và kế
tiếp nhau 7 thế hệ làm quan phục vụ cho nhà Lê.
Như vậy, từ cụ Thủy Tổ đến kết thúc nhà Nguyễn, con cháu thuộc dòng
họ con trưởng họ Lê Doãn trong thời gian gần 500 năm vào đời thứ 19 đã có
nhiều người đỗ đạt cao, gồm có:
Phong tặng Đông các Đại học sỹ: 1 cụ.
Đỗ tiến sĩ: 2 cụ.
Cử nhân: 10 cụ.
Tú tài: 4 cụ [18,34].
Thật là một dòng họ khoa bảng lẫy lừng vùng Kinh Bắc. Với những giá
trị đó, nhà thờ dòng họ Lê Doãn đã được các cơ quan chuyên môn khảo cứu
xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh đầu năm 2012.
Dòng họ Lê Đình ở Đông Miếu, Hoài Thượng, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Họ Lê Đình có lịch sử trên 400 năm, trải qua 16 đời. Cụ Tổ hiệu là “Lê
Công tự Phúc Châu”. Theo gia phả ghi chép lại thì từ lúc cụ Tổ đến khai cơ lập
nghiệp ở Đông Miếu vào thời kì nhà Mạc, không có người làm quan to trong
triều. Đến thế kỉ XX, dòng họ Lê Đình có một số cụ đỗ đạt làm quan cho triều
Muốn cho con cháu làm quan
Phải có thiên mã phương Nam chầu về” [28,13].
Long mạch chạy từ núi Phật Tích về hội tụ tại đình làng. Phía trước
đình làng và làng là Ngũ Mã (Mã Cao, Mã Chàng, Mã Đường, Mã Thủy, Mã
Cuối) chầu vào. Đường sau đình làng lại có “Tam Thai ủng hậu” đó là 3 gò
(Con Kim, Con Hỏa, Con Diệu). Hai bên đình làng còn là đường Cờ, đường
22